Luận văn tiến sĩ sinh học 1
Bộ giáo dục và đào tạo
đại học quốc gia hà nội
trờng đại học khoa học tự nhiên
bùi quang tề
ký sinh trùng của một số loi cá nớc
ngọt đồng bằng sông cửu long v
các giải pháp phòng trị chúng
luận văn tiến sỹ sinh học h nội 2001
Luận văn tiến sĩ sinh học 3
Lời cảm ơn
Luận án ny đã đợc thực hiện nhờ sự giúp đỡ v cổ vũ của nhiều cơ quan
ban ngnh, của cơ sở đo tạo, của thy hớng dẫn v bạn bè, nhân đây tôi
xin trân trọng cảm ơn:
Bộ Giáo dục đo tạo, Bộ Thuỷ sản
Ban giám hiệu, Phòng đo tạo sau đại học, Khoa Sinh học, Bộ môn
động vật không xơng sống của trờng Đại học khoa học tự nhiên, Đại
học Quốc gia H Nội.
Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 2.
Khoa thuỷ sản trờng đại học Cần Thơ
Các cơ sở nuôi cá ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1
Các cán bộ của bộ môn bệnh động vật thuỷ sản, Viện NCNTTS 1
Thầy TS H Ký.
Thầy PGS TS Vũ Trung Tạng.
Xin gửi lời cảm ơn chân thnh tới các bạn bè đồng nghiệp đã động viên
giúp đỡ tôi hon thnh luận án ny.
Xin cảm ơn vợ v các con đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ v cổ vũ chồng, bố
hon thnh đợc luận án ny.
Cuối cùng cùng con xin cảm ơn các vị Anh linh Tiên tổ v ông b Cha Mẹ
đã gi
nh tình thơng u ái đến con. LuËn v¨n tiÕn sÜ sinh häc 5
Bïi Quang TÒ
6 Luận văn tiến sĩ sinh học 7
Bảng chữ viết tắt
T: cá thịt
G: cá giống
H: cá hơng
B: cá bột
CĐN: Cờng độ nhiễm
CĐNTB: Cờng độ nhiễm trung bình
Trang
Lời cám ơn 3
Lời cam đoan 4
Bằng Tiến sỹ 5
Bảng chữ viết tắt 7
Mục lục 8
Lời nói đầu 10
Chơng 1: Tổng quan ti liệu 12
1.1. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới 12
1.2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá ở Việt Nam 16
1.3. Nghiên cứu bệnh ký sinh trùng và biện pháp phòng trị bệnh ở cá 17
Chơng 2: Vật liệu v phơng pháp nghiên cứu 23
2. 1. Thời gian, địa điểm và đối tợng nghiên cứu 23
2. 2. Phơng pháp nghiên cứu 27
2. 2.1. Phơng pháp nghiên cứu ký sinh trùng cá 27
2. 2.2. Phơng pháp thí nghiệm phòng trị bệnh KST cho cá 37
2. 3. Tài liệu dùng cho viết luận án 40
Chơng 3: nghiên cứu Thnh phần loi v tình hình nhiễm kST
của cá nớc ngọt đồng bằng sông Cửu Long 41
3.1. Danh sách loài KST và tỷ lệ nhiễm ở cá nớc ngọt ĐBSCL 41
3.2. Phân loại KST của cá nớc ngọt ĐBSCL 58
1. Ngành trùng roi- Mastigophora 58
2. Ngành trùng bào tử sợi- Cnidosporidia 59
3. Ngành trùng lông- Ciliophora 66
4. Ngành giun dẹp- Plathelminthes 75
5. Ngành giun tròn- Nemathelminthes 147
6. Ngành giun đầu gai- Acanthocephales 159
7. Ngành giun đốt- Annelida 163
8. Ngành chân khớp- Arthropoda 164
Bùi Quang Tề
10
Lời nói đầu
Sản lợng thuỷ sản bao gồm cả khai thác và nuôi trồng của thế giới năm 1975 đạt
87,9 triệu tấn, năm 1995 đạt 112 triệu tấn. Sản lợng nuôi trồng liên tục tăng từ 9
triệu tấn (10% tổng sản lợng) năm 1975 lên 27,8 triệu tấn năm 1995 (chiếm 25%).
Châu á là khu vực nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu, năm 1995 sản xuất 90,1% sản lợng
nuôi trồng thuỷ sản thế giới. Thập kỷ qua sản lợng tăng 243,8%. Mức tiêu thụ cá
bình quân/ ngời ở các nớc châu á đang phát triển trong ba thập kỷ qua đã tăng gấp
đôi, từ 5kg đến 10kg/ngời, chủ yếu nhờ vào nuôi trồng thuỷ sản. Trong nuôi trồng
thuỷ sản, năm 1995 cá nớc ngọt chiếm 46%.
Việt Nam sản lợng nuôi trồng thuỷ sản đứng hàng thứ 13 trên thế giới, xếp hàng thứ
10 ở châu á. Sản lợng nuôi trồng thuỷ sản trong 10 năm qua của nớc ta đã tăng
172,1% (năm 1989 đạt 312.530 tấn, năm 1998 đạt 537.870 tấn), trong đó sản lợng
nuôi nớc ngọt chiếm 86,9% năm 1995.
Khi nghề nuôi cá phát triển thì hàng loạt vấn đề kỹ thuật phải đợc nghiên cứu nh:
giống, thức ăn, kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh. Trong các thuỷ vực nớc ngọt cá
thờng gặp các bệnh trong đó có các bệnh ký sinh trùng (KST) làm chậm tăng
trởng của cá, ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm cá hoặc gây tử vong làm thiệt hại
pháp phòng trị chúng.
Luận án nhằm giải quyết các mục tiêu sau:
1- Xác định thành phần loài ký sinh trùng ở cá nớc ngọt đồng bằng sông Cửu
Long.
2- Nghiên cứu một số đặc điểm của ký sinh trùng ở cá nớc ngọt đồng bằng sông
Cửu Long.
3- Thí nghiệm một số biện pháp phòng trị bệnh ký sinh trùng thờng gặp gây
nguy hiểm cho cá nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long. Bùi Quang Tề
12
Chơng 1: Tổng quan ti liệu
1.1. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới.
Ký sinh trùng cá đã đợc nghiên cứu từ thời Linnae (1707-1778). ở Liên Xô cũ Viện
sỹ V. A. Dogiel (1882-1956) đã đặt nền móng cho nghiên cứu ký sinh trùng cá
[105]. Viện sỹ Bychowsky và các cộng sự, năm 1962 đã xuất bản cuốn sách: Bảng
phân loại ký sinh trùng của cá nớc ngọt Liên Xô [112], mô tả 1211 loài ký sinh
trùng của khu hệ cá nớc ngọt Liên Xô. Tiếp tục năm 1984, 1985, 1987 công trình
1973 Chen Chih-leu là chủ biên cuốn sách ký sinh trùng cá nớc ngọt tỉnh Hồ Bắc
[128], điều tra 50 loài cá nớc ngọt và phân loại đợc 375 loài ký sinh trùng, trong
đó: động vật đơn bào (Protozoa) có 159 loài, sán lá đơn chủ (Monogenea) có 116
loài, sán dây (Cestoda) 10 loài, sán lá song chủ (Trematoda) 33 loài, giun tròn
(Nematoda) 21 loài, giun đầu gai (Acanthocephala) 7 loài, đỉa (Hirudinea) 2 loài,
nhuyễn thể (Mollusca) 1 loài, giáp xác (Crustacea) 26 loài. Yu Yi và Wu Huisheng
(1989) đã nghiên cứu khu hệ giun đầu gai của 72 loài cá thuộc trung lu sông
Trờng Giang- Trung Quốc, đã phân loại đợc 10 loài, trong đó có 2 loài mới [137].
ở Nhật Bản công trình đồ sộ nhất của nhà ký sinh trùng học Yamaguti S. (1958,
1960, 1963, 1971) đã tổng kết kết quả nghiên cứu giun sán ký sinh ở động vật và
ngời trên toàn thế giới, xuất bản thành nhiều tập [92], [93], [94], [95], [96], [97],
[98]. Nagasawa K.; Awakura T. và Urawa S. (1989) [72] đã tổng kết nghiên cứu ký
sinh trùng trên cá nớc ngọt ở Hokkaido- Nhật Bản và xác định đợc 96 loài ký sinh
trùng, bao gồm: Protozoa- 21; Monogenea- 11; Trematoda- 22; Cestoda- 10;
Nematoda- 15; Acanthocephala- 7; Mollusca- 2; Copepoda- 6; Branchiura- 1 và
Isopoda- 1 và 38 loài cha xác định đến tên loài.
ấn Độ cũng là nớc có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên cá: G.D.
Bhalerao (1937) [24]; B.L. Kaw (1950) [46]; J.N. Karve (1951) [45]; S. Khera
(1955) [47]; S.L. Jain (1961) [42]; Y.R. Tripathi (1953, 1954, 1955) [88], [89], [90];
S.P. Gupta (1967) [36], đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào và giun sán ký sinh trên
cá. A.V. Gussev (1976) đã nghiên cứu khu hệ sán lá đơn chủ ở 37 loài cá nớc ngọt
ấ
n Độ, phân loại đợc 57 loài sán lá đơn chủ trong đó có 40 loài mới [39].
ở Banglades, A.T.A. Ahmed và M.T. Ezaz, 1997 [19] đã nghiên cứu ký sinh trùng
của 17 loài cá trơn (không vẩy) kinh tế nớc ngọt, đã xác định đợc 69 loài giun sán
ký sinh (Monogenea- 1, Trematoda- 24, Cestoda- 10, Nematoda- 28,
Acanthocephala- 6). Cá trê trắng (Clarias batrachus) đã phát hiện số lợng giun sán
ký sinh nhiều nhất là 24 loài giun sán (Monogenea- 1, Trematoda- 5, Cestoda- 9,
(1951-1988) [26]. Albaladejo J.D. (1989); Boromthanarat S. (1982); Bamdad-
Reantaso M.G. (1989) [22]; Yambot A.V. (1996) [99]. Năm 1975 Carmen C.
Velasquez [26] đã xuất bản cuốn sách Sán lá song chủ Trematoda ở cá Philippines
trong đó đã mô tả 73 loài thuộc 50 giống 21 họ sán lá song chủ ký sinh trên 27 họ cá
của Philippines. Các tác giả Arthur, J.R.; Lumanlan-May, S. (1997) [21] khi tổng kết
nghiên cứu KST của cá ở Philippines đã điều tra và xác định đợc 201 loài KST ở
172 loài cá, gồm: Apicomplexa- 1, Ciliophora- 16, Mastigophora- 2, Microspora- 1,
Luận văn tiến sĩ sinh học 15
Myxozoa- 9, Trematoda- 90, Monogenea- 22, Cestoda- 6, Nematoda- 20,
Acanthocephala- 5, Mollusca-1, Branchiura- 2, Copepoda- 21 và Isopoda- 5.
ở Thái Lan nhà khoa học ngời Mỹ Charles Branch Wilson (1926, 1927, 1928), đã
mô tả hai loài của Argulus và Caligus từ cá nớc ngọt Thái Lan [20]. Paiboon-
Yutisri; Apirum- Thuhanruksa (1985) [75], khi điều tra khu hệ KST của một số cá
sống tự nhiên ở một số vùng của Thái Lan đã phát hiện 16 loài ký sinh trùng, trong
đó gồm 3 loài ngoại ký sinh và 13 loài nội ký sinh ở cá bống tợng (Oxyeleotris
marmoratus) với tỷ lệ nhiễm 69,0% và giun sán ở cá sặc rằn (Trichogaster
pectoralis). Komonporn Tonguthai (1992) [43], [87] đã nghiên cứu Isopod và
Myxosporidia ký sinh trên cá. Chinabut Supranee (1991, 1993, 1994) [27], [28], [29]
đã nghiên cứu sán lá đơn chủ trên một số cá nớc ngọt. Theerawoot Lerssuthichawal
(1997) [86] nghiên cứu sán lá đơn chủ ký sinh trên cá trê ở Thái Lan.
ở Indonesia, khi nghiên cứu sán dây, sán lá song chủ và giun đầu gai trên cá nớc
ngọt ở Java, Louis Bovien (1926, 1927, 1933) đã mô tả một giống mới và loài mới
Từ năm 1961- 1976 một số nhà khoa học của Liên Xô cũ Oschmarin P.G., Mamaev
U.L., Paruchin A.M., Lebedev B.I. khi điều tra ký sinh trùng ở hơn 60 loài cá của
vịnh Bắc Bộ, đã công bố hơn 20 bài báo trong các tạp chí và sách tham khảo [108],
[109], [110], [116], [117]. Các tác giả đã xác định 190 loài giun sán ký sinh, gồm:
Monogenea- 46, Cestoda- 10, Trematoda- 95, Nematoda- 31, Acanthocephala- 8,
trong đó đã mô tả đợc 9 giống và 37 loài mới đối với khoa học.
Các công trình nghiên cứu KST ở cá toàn diện và đầy đủ nhất của Tiến sỹ Hà Ký
(1968, 1971) [118], [119], [120], [121], [122], [123] khi điều tra ký sinh trùng ở 16
loài cá kinh tế ở Bắc Bộ Việt Nam, ông đã xác định đợc 120 loài ký sinh trùng
thuộc 48 giống, 37 họ, 26 bộ và 10 lớp, trong đó trùng Roi (Mastigophora)- 2 loài,
trùng Bào tử (Myxozoa)- 18, trùng Lông (Ciliophora)- 17, Monogenea- 42, Cestoda-
4, Trematoda- 8, Nematoda- 12, Acanthocephala- 2, Crustacea- 15; Ông cũng đã
mô tả 1 họ, 1 giống và 42 loài mới với khoa học.
Lê Văn Hòa và Phạm Ngọc Khuê (1967) [100] Lê Văn Hoa và Bùi Thị Liên Hơng
(1969) [101], đã nghiên cứu phân loại giun tròn trên cá ở Nam Bộ. Các tác giả đã mô
tả 1 giống và 2 loài mới: Pseudoproleptus lamyi, Campanarougetia
campanarougetae.
Luận văn tiến sĩ sinh học 17
Năm 1976 Nguyễn Thị Muội và cộng sự đã nghiên cứu giun đầu gai trên cá thuộc
vùng đồng bằng Bắc Bộ, bớc đầu phân loại đợc 9 loài ký sinh trên 12 loài cá [7].
Năm 1981-1985, Nguyễn Thị Muội và cộng sự [8] khi điều tra ký sinh trùng của 20
loài cá nớc ngọt Tây Nguyên, sơ bộ phân loại đợc 57 taxon, trong đó lớp sán lá
Bùi Quang Tề
18
200 cá thể/1 con cá [102]. Tỉnh Triết Giang-Trung Quốc, 1955 cá mè trắng 2-3 tuổi
nuôi ở mặt nớc lớn đã bị chết nhiều do nhiễm Argulus [129]. ở Ucraina, 1960 bệnh
rận cá làm chết gần 2 triệu cá chép con, 3 triệu con khác bị thơng và chết dần [102].
Theo Hà Ký (1961) Lernaeosis và Dactylogyrosis ở cá mè hoa giai đoạn cá hơng
trong một số ao nhiễm bệnh 100%, khi cờng độ nhiễm 210-325 cá thể/1 con cá, cá
bị chết 75%. Bệnh đã làm chết 3 vạn cá hơng mè hoa và trắm cỏ của Trung Quốc
mới nhập vào nớc ta nuôi ở trại cá Nhật Tân [4].
Tháng 5/1969 hàng loạt mè trắng cỡ 12-15 cm ở hợp tác xã Tứ Hiệp-Hà Nội đã bị
chết do Lernaea ký sinh [4]. Năm 1982, trong 100 ao nuôi cá của tỉnh Đắc Lắc, Bình
Định cá mè, cá trắm cỏ bị nhiễm Lernaea với tỷ lệ từ 70-80% và cờng độ 5-20 cá
thể/ 1 con cá, thậm chí 80 cá thể/1 con cá [8]. ở miền Trung, Dactylogyrus ký sinh
làm chết hàng loạt cá vàng, gây tổn thơng cho một số cơ sở nuôi cá cảnh [8].
Năm 1979, cá chép của một số hồ nuôi cá ở Hà Nội đã nhiễm Gyrodactylus với tỷ lệ
nhiễm ở da và mang 100%, cờng độ nhiễm 20-30 cá thể/10x9 trên thị trờng kính
hiển vi (TTKHV), có lamen đếm đợc 1125 cá thể, bệnh đã gây chết hàng loạt cá
chép các cỡ khác nhau [5].
Từ năm 1975- 1984, Myxobolosis, Thelohanellosis thờng xuyên gây bệnh cho cá
chép Hungari nhập nội nuôi ở Viện nghiên cứu nuôi
trồng thuỷ sản 1, Trại cá Lạng
Giang- Bắc Giang, Trại cá Tiền Phong- Quảng Ninh. Bệnh đã làm kênh nắp mang
của cá chép giống và gây chết cá hàng loạt [10].
Cuối năm 1996 đầu năm 1997 đầm nớc lợ ở Yên Hng, Quảng Ninh rộng 324ha đã
bị đỉa (Piscicola) ký sinh làm chết khoảng 20-25 tấn cá rô phi [11].
trong vòng đời của chúng. Diệt chúng trong giai đoạn ấu trùng bơi tự do dễ dàng hơn
giai đoạn chúng sống ký sinh trong ký chủ rất nhiều [44]. Trong việc tạo điều kiện
môi trờng không phù hợp với trùng quả da, Hoffman và Mayer (1974) [40], đã thí
nghiệm nuôi cá trong bể kính bằng cách điều chỉnh nhiệt độ. Nhiệt độ đợc tăng lên
tới 35
0
C và duy trì trong năm ngày, rồi hạ thấp từ từ xuống nhiệt độ ban đầu của
nớc đã thành công trị đợc bệnh trùng quả da.
Chu kỳ sống của Myxosporidia đã tạo cho chúng có khả năng tự vệ chống lại các
biện pháp phòng trị chúng. Các giai đoạn sống diễn ra bên trong các tổ chức cơ thể
của ký chủ, gây khó khăn cho việc phòng trị bệnh. Ngoài ra do cấu tạo của bào tử có
lớp vỏ rất chắc chắn, nên dùng hoá chất diệt đợc bào tử là hết sức khó khăn. Vài
trờng hợp đã ghi nhận bào tử tồn tại trong thời gian 15 năm ở điều kiện khô hạn
[124], do đó cách tốt nhất để phòng Myxosporidiosis là phải kiểm soát đợc nguồn
nớc. ở Trung Quốc việc gây mầu cho ao ơng bằng phân xanh để ơng cá con sẽ
hạn chế đợc bệnh hơn khi dùng phân chuồng [129]. Những ao đã có cá nhiễm
Bùi Quang Tề
20
Myxosporidia cần phải xử lý bằng cách tháo cạn nớc ao, khử trùng bằng vôi nung
(CaO) rồi phơi đáy ao hàng tuần. ở Liên Xô có những trại nuôi cá chép khi bị bệnh
họ có thể ngừng nuôi
cá một vài năm để diệt các bào tử trong đáy ao [102]. Việc
tăng cờng đầy đủ thức ăn cho cá sẽ làm giảm tỷ lệ chết và tăng khả năng hồi phục.
Thí nghiệm này đã thực hiện ở Indonesia để phòng bệnh Myxobolus koi ở cá chép
cho thấy rằng, khi đủ thức ăn cho cá sẽ bị nhiễm bệnh nhẹ và có khả năng hồi phục
nhanh hơn ao không cung cấp đủ thức ăn [44].
Luận văn tiến sĩ sinh học 21
Phòng và trị bệnh sán lá song chủ Trematoda rất khó cho nên giữ cho cá nuôi không
bị nhiễm bệnh ngay từ đầu là cách phòng bệnh tốt nhất và việc loại trừ vật chủ trung
gian nh ốc cũng nh vật chủ cuối cùng nh động vật có vú, chim [44]. Dùng vôi
(CaO) diệt nhuyễn thể trong ao nuôi có độ sâu 1m với liều lợng 125-150kg/acre
(0,405ha) [44, tr.129]. Trung Quốc dùng bánh lá chè với liều lợng 50kg/acre, ngâm
trong 24 giờ [129].
Trị bệnh sán dây Cestoda cũng khó khăn nh trị bệnh nội ký sinh khác. Ngời ta
thờng sử dụng phơng pháp cắt đứt vòng đời của chúng bằng cách loại trừ vật chủ
trung gian của chúng tơng tự nh sán lá song chủ. Phenasal có hiệu quả khi thêm
vào thức ăn với lợng 0,5g/kg trọng lợng cá, cho ăn 6 ngày, kết quả là đã diệt đợc
sán lá, nhng sau một tháng cá có thể tái nhiễm sán dây. Phenothiazine
(thiephenilamine) đợc dùng cho cá ăn với liều lợng 4,5g/kg trọng lợng cá và cho
ăn 3 ngày liên tục cũng cho kết quả trị đợc bệnh sán dây [44].
Giun tròn Nematoda và giun đầu gai Acanthocephala không có phơng pháp phòng
trị đặc hiệu. Biện pháp tổng hợp là sử dụng ba hớng: tẩy dọn sạch ao hồ nuôi cá, cắt
đứt vòng đời của giun và dùng thuốc tẩy giun (anthelminthic) bằng cách trộn vào
thức ăn cho cá ăn để loại bỏ giun trong hệ tiêu hoá [44].
Phòng trị bệnh giáp xác (Crustacea) phải chú ý khi dùng hoá chất không làm mất
cân bằng sinh thái môi trờng. Đối với trùng mỏ neo (Lernaea) biện pháp phòng chủ
yếu ngăn cản không cho ấu trùng Lernaea xâm nhập vào ao nuôi hoặc loại trừ chúng
trớc khi gây bệnh cho cá. Các bớc đợc tiến hành nh: kiểm tra nguồn nớc nhiễm
Luận văn tiến sĩ sinh học
mẫu đựợc ba vùng: Vùng đồng bằng ngập lũ của sông Tiền và sông Hậu, Vùng Đồng
Tháp Mời ngập lũ khép kín, Vùng rừng tràm U Minh.
Các điểm thu mẫu gồm 15 điểm thuộc các tỉnh: Đồng Tháp (1- Hồng Ngự, 2- Tháp
Mời, 3- Sa Đéc); Tiền Giang (4- Cái Bè, 5- ấp Bắc- Châu Thành, 6- Mỹ Tho);
Long An (7- Mộc Hoá, 8- Tân An); Sóc Trăng (9- Thị xã Sóc Trăng); Cần Thơ
Bùi Quang Tề
24
(10- Thành phố Cần Thơ); An Giang (11- Long Xuyên,; 12- Châu Đốc); Bạc Liêu
(13- Thị xã Bạc Liêu); Cà Mau (14- Thị xã Cà Mau); Tp Hồ Chí Minh (15- Thủ
Đức); khu vực nuôi cá bè Châu Đốc- An Giang; khu vực ơng cá tra giống huyện
Hồng Ngự- Đồng Tháp; Trại cá Cái Bè- Tiền Giang; trại cá Đại học Cần Thơ; trại cá
Bạc Liêu; trại cá Thủ Đức- thành phố Hồ Chí Minh (xem hình 2.1).
106
0
10
0
1
0
0
Biên Hoà
11
Tp Hồ Chí
Tân An
Mỹ Tho
Bến Tre
Cao Lãnh
Long Xuyên
Đồng Thành
Mộc Hoá
ấ
p Bắc
Đồng Tháp Mời
Hồng Ng
ự
Châu Đốc
Tân Châu
Gò Côn
g
Sa Đéc
Cần Th
ơ
A
1
A
1
A
1
A
1
A
Luận văn tiến sĩ sinh học 25
2.1.3. Đối tợng nghiên cứu
Cá nớc ngọt ĐBSCL có tới 236 loài, trong đó có khoảng trên 50 loài cá kinh tế [1,
tr.269]. Chúng tôi đã tiến hành điều tra KST chủ yếu ở nhóm cá kinh tế và một số
loài cá nhập nội. Đã mổ khám 3.217 cá thể của 41 loài và dòng cá nớc ngọt đồng
bằng sông Cửu Long (xem bảng 2.1), trong đó có 1.832 cá giống của 6 loài cá tra, cá
trê vàng, rôhu, mrigal, catla, rô phi vằn và 5 loài cá nhập nội: rôhu, mrigal, catla, rô
phi, cá mùi.
Bảng 2.1: Các loài cá ở đồng bằng sông Cửu Long đã đợc thu mẫu ký
sinh trùng
STT
(1)
Tên khoa học
(2)
Cirrhinus microlepis Sauvage
Cá duồng 15 - T
8
Cirrhinus jullieni Sauvage
Cá linh ống 25 - T
9
Cirrhinus mrigala (Hamilton)
Cá mrigal 29 - G
10
Catla catla (Hamilton)
Cá catla 35 - G
11
Labeo rohita (Hamilton)
Cá rô hu 118 - G
12
Labiobarbus linaetus Sauvage
Cá linh rìa 10 - T
13
Osteochilus melampleura (Bleeker)
Cá mè hôi 15 - T
14
Hampla macrolepidota (Val. & Ham.)
Cá ngựa 43 - T
3. Siluridae Họ cá nheo
15
Ompok bimaculatus (Bleeker)
Cá trèn bầu 51 -T
16