ÔN THI VÀO NGHÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2013
SOẠN THẢO: NGUYỄN ĐÌNH THỪA
*****
MÔN 1: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Phần 1. Tài liệu ôn thi
1. Tài liệu đào tạo Tiền công vụ tập 1 của Học viện hành chính "Những vấn đề cơ bản về
nhà nước hành chính và pháp luật" ban hành năm 2008: Mục II, III chuyên đề 1.
2. Tài liệu đào tạo Tiền công vụ tập 2 của Học viện hành chính "Tổ chức và Nhân sự hành
chính nhà nước" ban hành năm 2010: Mục I chuyên đề 5.
3. Giáo trình kĩ thuật xây dựng và ban hành văn bản ban hành năm 2009: Mục II Chương
1; Mục II Chương 2 (riêng phần phân loại thống kê các văn bản quy phạm pháp luật lấy theo
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật).
4. Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
5. Luật Viên chức năm năm 2010.
6. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 03/6/2008: Chương 1, 2.
7. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân:
Điều 1,2 Chương 1; Mục 1,2,3 Chương 2.
8. Nghị định 94/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ Quy định về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
9. Nghị định 116/2011/NĐ-CP ngày 14/12/2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
94/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xó hội Việt Nam.
Page 1
10. Quyết định số 4857/QĐ-BHXH ngày 21/10/2008 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội
Việt Nam Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội địa
phương.
11. Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001.
12. Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 Quy định về tuyển dụng, sử dụng và
quản lý công chức.
13. Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng
và quản lý viên chức.
có thể nhận thấy rõ quá trình hình thành và phát triển của một chế độ dân chủ mới. Nước ta
là một nhà nước dân chủ đầu tiên ra đời ở Đông Nam châu Á. Những thiết chế nhà nước đầu
tiên ra đời đã dựa trên cơ sở của dân chủ: Các hình thức Quốc dân đại hội để bầu ra chính phủ
lâm thời; tổng tuyển cử để bầu Chủ tịch nước và đại biểu Quốc hội những năm đầu tiên
sau khi cách mạng tháng Tám thành công; sự ghi nhận chính thức trong Hiến pháp 1946,
1959, 1980, và 1992 về xác định quyền lực tối cao thuộc về nhân dân đã khẳng định rõ
mục tiêu và những bước phát triển của chế độ dân chủ của nước ta.
Bản chất dân chủ của Nhà nước ta thể hiện một cách toàn diện, trên các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, tư tưởng, văn hóa và xã hội.
+ Trong lĩnh vực kinh tế, nhà nước thực hiện chủ trương tự do, bình đẳng về kinh tế, tạo
ra những điều kiện làm cho nền kinh tế đất nước có tính năng động, xây dựng quan hệ sản
xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình thức
tổ chức sản xuất, kinh doanh cho phép mọi đơn vị kinh tế đều có thể hoạt động theo cơ chế
tự chủ trong
sản xuất, kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trước
Page 3
pháp luật.
Để thực hiện chủ trương dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế, nhà nước ta đã chú trọng
giải quyết vấn đề căn bản mang tính nguyên tắc là bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao
động, coi đó là động lực, đồng thời là mục tiêu của dân chủ hóa. Tuy nhiên. lợi ích vật chất
(kinh tế) luôn phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với các lợi ích chính trị, tư tưởng, văn
hóa, xã hội. Đồng thời, lợi ích cá nhân phải hài hoà với lợi ích của tập thể và xã hội.
+ Trong lĩnh vực chính trị, nhà nước ta đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc, trong đó quy
định tất cả những quyền tự do, dân chủ trong sinh hoạt chính trị, bảo đảm cho người dân
được làm chủ về mặt chính trị.
Bên cạnh việc xác lập và thực hiện cơ chế dân chủ đại diện thông qua chế độ bầu cử
và bãi miễn đại biểu nhân dân vào các cơ quan dân cử, nhà nước ta luôn chú trọng thiết lập
và bảo đảm thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia
thực sự vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tham gia đóng góp ý kiến, kiến
thực hiện dân chủ hóa chính trị, nhà nước ta luôn luôn tôn trọng quyền hoạt động và các
quan điểm chính trị của cá nhân, nếu những quan điểm đó phù hợp với hiến pháp và pháp
luật, không đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Nhà nước kiên quyết ngăn chặn và xử lý mọi
biểu hiện dân chủ cực đoan, gây rối làm mất ổn định tình hình chính trị, xâm hại đến lợi ích
quốc gia và các quyền chính trị của nhân dân.
Để bảo đảm thực hiện quá trình dân chủ hóa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
nhà nước luôn đặt ra cho mình nhiệm vụ phải tôn trọng sự kiểm tra, giám sát của nhân dân,
đẩy mạnh và không ngừng đấu tranh chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng trong bộ
máy nhà nước, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật và không có ngoại lệ đối với bất cứ ai
có hành vi vi phạm.
+ Trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa và xã hội, nhà nước thực hiện chủ trương tự do tư
tưởng và giải phóng tinh thần, phát huy mọi khả năng của con người; quy định một cách
toàn diện các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, học hành, lao động, nghỉ ngơi, tự do
Page 5
tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ở, thư tín và bảo đảm cho mọi người
được hưởng các quyền đó.
Tuy nhiên, dân chủ hóa trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa và xã hội luôn phải đặt trên cơ
sở và trong mối quan hệ mật thiết với quá trình dân chủ trong lĩnh vực chính trị và kinh tế.
Hệ tư tưởng quán xuyến trong toàn bộ quá trình này là chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và hệ quan điểm đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam đề ra. Nguyên tắc cơ bản để
thực hiện dâ n chủ, phát huy quyền lực nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân là bảo
đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị.
- Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
Nhìn lại toàn bộ quá trình từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay, đặc điểm này
luôn quán xuyến và ngày càng thể hiện một cách đậm nét hơn, cao hơn, cụ thể hơn. Với bản
chất bao trùm là nhà nước của dân, do dân và vì dân thì đương nhiên trong đó đã hàm chứa
tính bình đẳng giữa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Vấn đề quan trọng là cơ sở
pháp lý, hình thức tổ chức thực hiện và kết quả của việc triển khai thực hiện trên thực tế.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tất cả các thời kỳ phát triển của
mình đều coi “đại đoàn kết dân tộc” là một nguyên tắc cơ bản để thiết lập chế độ dân chủ,
của toàn xã hội như: Xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, đầu tư cho việc phòng
chống thiên tai, giải quyết các vấn đề bức xúc như chăm sóc sức khỏe nhân dân, giải quyết
việc làm, giúp đỡ người già cô đơn, trẻ mồ côi, chống tệ nạn xã hội
Nhà nước không những chỉ đặt ra cơ sở pháp lý mà còn thực hiện việc đầu tư thỏa
đáng cho việc giải quyết các vấn đề xã hội. Đồng thời coi việc giải quyết các vấn đề này là
nhiệm vụ của mọi cấp, mọi ngành và của Nhà nước nói chung.
- Nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình ,hợp tác và hữu nghị
Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chỉ được phản ánh
trong các chính sách, đường lối đối nội, mà còn thể hiện trong chính sách đối ngoại. Chính
Page 7
sách và hoạt động đối ngoại của Nhà nước ta thể hiện khát vọng hòa bình của nhân dân ta,
thể hiện mong muốn hợp tác trên tinh thần hòa bình, hữu nghị, cùng có lợi với tất cả các quốc
gia. Phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới” thể hiện một
đường lối ngoại giao cởi mở của Nhà nước ta. Điều 14 Hiến pháp 1992 đã khẳng định:
“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình hữu nghị, mở
rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị
và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau,
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, tăng
cường đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước
láng giềng, tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”
Những đặc điểm có tính bản chất nêu trên của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam trong các điều kiện hiện tại đã được thể hiện cụ thể trong các nhiệm vụ, chức năng
của nhà nước và được pháp luật quy định một cách chặt chẽ đồng thời được phản ánh
trong tổ chức và hoạt động thực tiễn của Nhà nước ta. Đương nhiên, để có thể đáp ứng đầy
đủ các nhu cầu ,đòi hỏi để bảo đảm giữ vững và phát huy bản chất của “nhà nước của dân,
do dân và vì dân”, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn cần phải tiếp tục đổi
mới nhiều mặt, cải tổ sâu sắc từ cơ cấu tổ chức đến hình thức và phương pháp hoạt động phù
hợp với các quy định của luật pháp để từng bước xây dựng và phát triển thành Nhà nước
pháp quyền Việt Nam.
chức trong hệ thống chính trị Việt Nam và nhân dân?
Nhà nước Việt Nam có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị được
quy định bởi chức năng và nhiệm vụ của nó trong hệ thống chính trị, trong đời sống xã hội và
được thể hiện trong mối quan hệ giữa Nhà nước với Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội
trong hệ thống chính trị. Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành hiến
pháp, pháp luật và chính sách làm công cụ quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội.
Page 9
Trong hệ thống chính trị nước ta, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ
cột, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu
trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính là Nhà
nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo và thực
hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ
quyền làm chủ của nhân dân.
Những đặc trưng của Nhà nước tạo nên những nét khác biệt nhất định về tổ chức và
phương thức hoạt động giữa Nhà nước với Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ
thống chính trị ở nước ta hiện nay. Việc xác định đúng vị trí, vai trò và nhiệm vụ của Nhà nước
trong hệ thống chính trị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới hệ thống chính
trị, khắc phục sự chồng chéo, lấn sân giữa các thành tố trong hệ thống chính trị, nhất là trong
mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở nước ta trong điều kiện nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể các mối quan hệ như sau:
- Quan hệ giữa nhà nước, các cơ quan nhà nước với đảng, tổ chức đảng
Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo nhà nước và XH và là đảng cầm quyền (Điều 4 Hiến
pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)) về cơ bản bao gồm: Đảng định ra đường lối,
chủ trương, chính sách thể hiện qua các nghị quyết nhằm định hướng hoạt động của nhà
nước và quản lý nhà nước; Đảng lãnh đạo về tổ chức, nhân sự của nhà nước; lãnh đạo việc
cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng thành các văn bản pháp luật, các quyết định quản lý của
các cơ quan nhà nước; lãnh đạo hoạt động của các cơ quan nhà nước để thực hiện các nghị
quyết của Đảng; kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng trong hệ thống các cơ
thi hành pháp luật của nhà nước, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước đại biểu dân
cử và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện để mặt trận tổ quốc VN và các đoàn thể nhân dân hoạt động
có hiệu quả (điều 9 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Mối quan hệ gữa các đoàn
Page 11
thể nhân dân với nhà nước và các cơ quan nhà nước vừa hể hiện trực tiếp(đoàn thể với các
cơ quan nhà nước), vừa thể hiện gián tiếp (thông qua tổ chức Đảng và nhân
dân).
Trong quá trình thực hiện đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của các đoàn thể
nhân dân hiện nay, đang từng bước phát huy tính tích cực chủ động của các đoàn thể, hạn
chế khuynh hướng hành chính hóa, quan liêu trông chờ vào sự bao cấp của nhà nước, cơ
quan nhà nước cả về kinh phí và phương thức hoạt động.
-
Quan hệ giữa nhà nước và cơ quan nhà nước với nhân dân
Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình trong quan
hệ với nhà nước vừa trực tiếp vừa gián tiếp
Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân;
xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua quốc hội, hội đồng nhân dân các
cấp là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và
chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tập
trung phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
Nhà nước quản lý XH bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN. Mọi
hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích pháp chế của nhân dân đều bị xử
lý theo pháp luật.
Trong nhà nước CHXHCNVN các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế. văn hóa
và xã hội được tôn trọng, thể hiện các quyền công dân được quy định trong hiến pháp và
hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhân dân
Tòa án… và các cơ quan quản lý về kinh tế, văn hóa, giáo dục và xã hội. Mỗi cơ quan Nhà
nước trong bộ máy Nhà nước đều chịu trách nhiệm về công việc được phân công.
Bộ máy Nhà nước Việt Nam là hệ thống các cơ quan Nhà nước được tổ chức gồm: Chủ tịch
nước, hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước, hệ thống cơ quản lý Nhà nước, hệ thống cơ quan
xét xử và hệ thống cơ quan kiểm sát.
Quan điểm và nguyên tắc cơ bản là những tư tưởng chỉ đạo tạo nền tảng cho việc tổ chức
và hoạt động của hệ thống các cơ quan Nhà nước trong bộ máy Nhà nước. Tất cả các nguyên
tắc tổ chức và hoạt động trên đây đều được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 của Nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng: Được thể hiện trong Hiến pháp 1992. Đảng
đề ra đường lối chính trị, chủ trương, chính sách lớn cho hoạt động của Nhà nước. Đảng lãnh
đạo nhưng không làm thay công việc của Nhà nước. Nguyên tắc đảng CSVN là lãnh đạo nhà
nước và xã hội đã được xác lập từ năm 1945. Theo điều 4, HP năm 1992 “ĐCSVN đội tiên
phong của giai cấp công nhân VN, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của cả dân tộc theo CN Mac Lenin và tư tưởng HCM, là lực lượng lãnh
đạo NN và XH.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa sự chỉ đạo
tập trung, thống nhất của cơ quan Nhà nước cấp trên với việc mở rộng dân chủ để phát huy
tính chủ động sáng tạo của cấp dưới nhằm đạt hiệu quả cao trong tổ chức quản lý Nhà nước.
Điều 6 Hiến pháp quy định: “Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà
nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Kết hợp đúng đắn tập trung và dân chủ là yếu tố quyết định sức mạnh tổ chức và hiệu lực
quản lý của NN ta. Thực hiện nguyên tắc này trong tổ chức và họat động của BMNN có
nghĩa là kết hợp sự chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của TƯ và cq NN cấp trên với sự
tự chủ năng động, sáng
tạo của địa phương và cq NN cấp dưới, cq NN ở TƯ quyết định
những vấn đề cơ bản quan trọng
của cả nước, cq NN ở địa phương tự quyết định và chịu
hội, có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội, Chủ tịch nước có quyền hạn bao quát nhiều lĩnh
vực của đời sống chính trị xã hội.
- Hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước
Gồm Quốc hội và Ủy ban thường vụ quốc hội (UBTVQH), được gọi là cơ quan quyền lực
trung ương và Hội đồng nhân dân các cấp (tỉnh, thành phố thuộc trung ương; quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh; phường, xã, thị trấn), được gọi là các cơ quan quyền lực địa phương.
+ Quốc hội
Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất nước, do nhân dân cả nước bầu ra, thể hiện ý chí,
nguyện vọng của toàn dân. Là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, có quyền quyết
định những vấn đề quan trọng của đất nước, có quyền tổ chức bộ máy Nhà nước và giám sát
các cơ quan Nhà nước.
Quốc hội được tổ chức theo hình thức một viện, với số đại biểu tùy theo yêu cầu thực tế
từng khóa do nhân dân bầu ra qua một cuộc bầu cử phổ thông, đầu phiếu, trực tiếp với nhiệm
kỳ 5 năm.
Cơ cấu tổ chức của quốc hội gồm: Ủy ban thường vụ quốc hội, Hội đồng dân tộc, Các ủy
ban quốc hội, đoàn đại biểu quốc hội và các đại biểu quốc hội.
+ Ủy ban Thường Vụ Quốc hội (UBTVQH)
Là cơ quan thường trực của Quốc hội, với chức năng này UBTVQH sẽ thay mặt Quốc hội
thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội khi Quốc hội không họp.
UBTVQH gồm Chủ tịch (do Chủ tịch Quốc hội kiêm nhiệm), các Phó Chủ tịch và một số
ủy viên do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội, có nhiệm kỳ 5 năm, không được kiêm
nhiệm thành viên Chính phủ.
- Hội đồng Nhân dân các cấp
Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách
nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.
Page 16
Hội đồng Nhân dân được tổ chức ở 3 cấp (cấp tỉnh, thành phố thuộc trung ương; cấp quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; cấp phường, xã, thị trấn), được bầu trong cuộc bầu cử phổ
thông, bình đẳng, trực tiếp và kín.
như: Cục, Tổng cục, Viện, Trung tâm, Ban…
Việc thành lập hoặc bãi bỏ các cơ quan này thuộc quyền quyết định của Chính phủ và Thủ
trưởng các cơ quan này do Thủ tướng Chính phủ quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm.
+ Uỷ ban nhân dân các cấp
Uỷ ban Nhân dân do Hội đồng Nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân
dân. Là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp,
luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng
cấp.
Ủy ban Nhân dân được tổ chức ở 3 cấp như Hội đồng Nhân dân, làm việc theo chế độ kết
hợp trách nhiệm của tập thể với trách nhiệm của cá nhân Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.
+ Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
Là các cơ quan chuyên môn được thành lập ở địa phương để giúp Uỷ Ban Nhân dân cùng
cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương, bảo đảm sự thống nhất quản lý của
ngành, lãnh vực từ trung ương đến cơ sở. Có tên là sở, phòng, ban…
Về mặt tổ chức các cơ quan này chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, công tác
của Uỷ ban nhân dân cấp mình đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cơ quan chuyên
môn cấp trên (nguyên tắc 2 chiều trực thuộc).
- Hệ thống cơ quan xét xử
Page 18
Hệ thống các cơ quan xét xử theo quy định tại điều 127 của Hiến pháp 1992: “Tòa án
nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân địa phương, các tòa án quân sự và các tòa án khác do
luật định là những cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN”.
Ở trung ương, cơ quan xét xử có Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC). Trong TANDTC có
Tòa án quân sự trung ương, là một bộ phận (Tòa chuyên trách) của TANDTC.
Ở địa phương có các TAND địa phương và các Tòa án quân sự (TAQS) địa phương.
- Hệ thống cơ quan kiểm sát
Gồm các cơ quan kiểm sát được tổ chức thành hệ thống từ cấp trung ương đến địa phương.
Theo điều 137 Hiến pháp 1992, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân các cấp có 2 chức năng
chính, đó là kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hiện quyền công tố, bảo đảm Pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các
Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ,
Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề
nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ
trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh
sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ
các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
+ Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thành lập
mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải
thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;
+ Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp,
Page 20
luật và nghị quyết của Quốc hội;
+ Quyết định đại xá;
+ Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những
hàm, cấp Nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;
+ Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện
pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
+ Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế
do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký
kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước;”
+ Quyết định việc trưng cầu ý dân.
Theo khoản 1, 2 Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Quốc hội
có thẩm quyền ban hành các loại văn bản sau: Hiến pháp, luật, nghị quyết Quốc hội.
Câu 6 : Trình bày sơ đồ cơ cấu tổ chức của Quốc hội? Nêu nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của tổ chức đó?
Theo điều 4 Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Quốc hội tổ
chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; làm việc theo chế độ hội nghị và quyết
định theo đa số. Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp
chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần
nhất của Quốc hội
+ Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;
+ Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.
Theo điều 21, 22, 26 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2007), Hội
đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội là những cơ quan của Quốc hội, làm việc theo chế độ
Page 22
tập thể và quyết định theo đa số. Nhiệm kỳ của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội
theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, kiến nghị
về luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác; thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Uỷ
ban thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát; kiến nghị với Uỷ ban thường vụ
Quốc hội về việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và những vấn đề trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình.
Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có quyền kiến nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc
hội bầu hoặc phê chuẩn.
Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước
Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ
Quốc hội.
Quốc hội thành lập Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban sau đây: Uỷ ban pháp luật; uỷ ban tư
pháp; uỷ ban kinh tế; uỷ ban tài chính, ngân sách; uỷ ban quốc phòng và an ninh; uỷ ban văn
hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; uỷ ban về các vấn đề xã hội; uỷ ban khoa
học, công nghệ và môi trường; uỷ ban đối ngoại.”
Theo điều 43, 45, 46 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2007), Đại
biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện
cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay
mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội.
Trong số các đại biểu Quốc hội, có những đại biểu hoạt động chuyên trách và có những đại
Page 24
+ Giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc
hội trong Đoàn, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
ở địa phương và Văn phòng Quốc hội.
Câu 7 : Trình bày vai trò, vị trí và quyền hạn của Chủ tịch nước? Nêu thẩm quyền ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước?
Theo điều 101, 102, 103 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Chủ tịch nước
là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và
đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội. Chủ tịch nước chịu trách
nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của
Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc
hội khoá mới bầu Chủ tịch nước mới.
Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
+ Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh;
+ Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc
phòng và an ninh;
+ Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ,
Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
+ Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng,
Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ
+ Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố
quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá;
+ Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc
động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội
không thể họp được, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
+ Đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày kể
từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Page 25