Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt nam - Pdf 25

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I 4
Những vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài 4
I.Khái niệm, phân loại và bản chất của nguồn vốn 4
1.Khái niệm: 4
2.Phân loại nguồn vốn đầu tư: 4
3.Bản chất nguồn vốn đầu tư 8
II.Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển kinh tế 10
1.Sự cần thiết phải có cả nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài trong các quốc gia đang
phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng 10
2.Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài 13
CHƯƠNG II: 23
Thực trạng mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam 23
I. Nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định 23
1. Nguồn vốn trong nước mang tính ổn đinh và bền vững, có thể chủ động trong việc huy
động và sử dụng 23
2. Nguồn vốn trong nước đóng vai trò định hướng cho dòng đầu tư nước ngoài chảy vào
những ngành, lĩnh vực cần thiết 26
3. Tạo cơ sở hạ tầng căn bản cho việc chủ động tiếp nhận nguồn vốn đầu tư nước ngoài 30
4. Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn đối ứng nhằm tạo cơ sở cho nguồn vốn nước ngoài
vào hoạt động có hiệu quả 34
5. Nguồn vốn trong nước là nguồn chi trả các khoản vay nước ngoài và giảm áp lực nợ
nước ngoài cho nền kinh tế 36
II. Tác động của nguồn vốn nước ngoài đối với nguồn vốn trong nước 40
1.Thành tựu 40
2.Hạn chế: 49
Chương III: 52

giữa hai nguồn vốn này trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế nước ta và
cuối cùng đi đến những giải pháp thiết thực nhất nhằm kết hợp lợi ích tối ưu của hai nguồn
vốn này.
Thông qua nghiên cứu nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước
ngoài, ngoài việc chỉ ra các lý luận chung về hai nguồn vốn này, đề tài còn cung cấp những
thông tin về thực trạng sử dụng cũng như những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn
đến việc tăng giảm dòng vốn đầu tư tại Việt Nam. Từ đó, chúng ta có được cái nhìn bao
2
quát về tình hình kinh tế đất nước để có những phương hướng mới thúc đẩy nền kinh tế
ngày càng phát triển.
Với việc nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nước và
nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam” chúng em
xin trình bày những nội dung chính sau đây:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa nguồn vốn trong
nước và nguồn vốn nước ngoài.
Chương II: Thực trạng mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nước và nước
ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.
Chương III: Một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa hai nguồn vốn
trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.
Qua tìm hiểu và phân tích các số liệu, đề tài của chúng em đã đưa ra một số định
hướng rõ rang trong quá trình nghiên cứu. Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu có hạn, điều
kiện tiếp xúc thực tế chưa nhiều và khả năng đánh giá còn non nớt nên đề tài của chúng em
không tránh khỏi những thiếu sót trong cách nhìn tổng thể. Kính mong thầy giáo và các
bạn đóng góp thêm ý kiến để chúng em có thể hoàn thiện đề tài.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
3
CHƯƠNG I
Những vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa nguồn vốn
đầu tư trong nước và nước ngoài
I. Khái niệm, phân loại và bản chất của nguồn vốn

• Nguồn vốn ngân sách nhà nước : Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước
cho đầu tư. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội,
quốc phòng- an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự
tham gia của nhà nước. Chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế- xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
• Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước : Vốn tín dụng đầu tư phát triển
của nhà nước là một hình thức quá độ chuyền từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang
phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Thông qua
nguồn vốn tín dụng, nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh
vực theo định hướng, chiến lược của mình.
• Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: Nguồn vốn này chủ yếu bao gồm từ
khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước, thông thường
chiếm từ 14-15% tổng vốn đầu tư xã hội.
2.1.2 Nguồn vốn của dân cư và tư nhân
Nguồn vốn của khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy
của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Đầu tư của các doanh nghiệp và các hộ
gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn,
mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,…Vốn của dân cư phụ
thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy mô của các nguồn tiết kiệm này
phụ thuộc vào :
- Trình độ phát triển của đất nước (các nước có trình độ phát triển thấp thì thu nhập
thấp, quy mô và tỉ lệ tiết kiệm cũng thấp).
- Tập quán tiêu dùng của dân cư.
5
- Chính sách động viên của nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập và các
khoản đóng góp với xã hội.
2.1.3Thị trường vốn
Thị trường vốn là một phần của thị trường tài chính, có ý nghĩa rất quan trọng trong
sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Nó là kênh bổ sung các
nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư - bao gồm cả nhà nước và các loại hình

Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèm các điều
kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và
thị trường), và là nguồn vốn vay có khả năng gây nợ. Vì vậy, chính phủ các nước cần cân
nhắc và sử dụng nguồn vốn hiệu quả.
2.2.2 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) :
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển không chỉ đối với các nước
nghèo mà đối với cả các nước công nghiệp phát triển. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài có đặc
điểm khác với các nguồn vốn khác là khi tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho
nước nhận đầu tư. Thay vì nhận lãi trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi
nhuận thích đáng khi dự án hoạt động có hiệu quả. Đầu tư nước ngoài đem theo toàn bộ tài
nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc
biệt là những ngành nghề đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay nhiều vốn. Vì thế, nguồn
vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và tăng trưởng nhanh của nước tiếp nhận đầu tư.
2.2.3 Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA
nhưng có ưu điểm là không gắn với các điều kiện ràng buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù
vậy, thủ tục vay đối với các nguồn vốn này thường tương đối khắc khe, thời gian trả nợ
nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọng trong kinh
doanh ngân hàng (tính rủi ro của nước đi vay, của thị trường thế giới và xu hướng lãi suất
quốc tế ), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại thường được sử dụng chủ yếu
để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là ngắn hạn. Một bộ phận của nguồn vốn này có
thể được dùng để đầu tư phát triển,, tỷ trọng của vốn có thể gia tăng nếu triển vọng tăng
7
trưởng của nền kinh tế là lâu dài dài đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là
sáng sủa.
2.2.4 Thị trường vốn quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hóa, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn
quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho mỗi

đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích lũy cho nền kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư tiếp tục được các nhà kinh tế học hiện
đại chứng minh. Trong tác phẩm :”lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của
mình, John Maynard Keynes đã chứng minh được rằng: đầu tư chính bằng phần thu nhập
không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời, ông cũng chỉ ra rằng tiết kiệm chính là phần dôi ra
của thu nhập so với tiêu dùng. Tức là : Thu nhập = tiêu dùng + đầu tư
Tiết kiệm = thu nhập – tiêu dùng
Từ đó suy ra : Tiết kiệm = đầu tư
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng. Trong đó,
phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và chính phủ.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải
bao giờ cũng được thiết lập. Mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài
khoản vãng lai : CA= S – I.
Như vậy, trong nền kinh tế mở, nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích lũy nội bộ nền kinh
tế và tài khoản vãng lai bị thâm hut thì có thể huy đông vốn đầu tư từ nước ngoài. Khi đó,
đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong những nguồn vốn đầu tư quan
trọng của nền kinh tế. Nếu tích lũy của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước
trong điều kiên thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu tư ra nước ngoài
hoăc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
9
II. Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoài trong việc thúc
đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
1. Sự cần thiết phải có cả nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài trong các
quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng
1.1 Nghiên cứu về “cái vòng luẩn quẩn của các nước đang phát triển” và
những vấn đề đặt ra
Các nước đang phát triển hầu hết là các nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu
hoặc đang từ nền sản xuất nhỏ tiến lên con đường công nghiệp hóa. Các đặc điểm chung có
thể thấy được ở nhóm nước này đó là:
- Mức sống thấp.

1.3 Vai trò của vốn đầu tư trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.3.1 Khái niệm tăng trưởng và phát triển
- Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy
mô, sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
- Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt của
nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản
lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
1.3.2 Vai trò của vốn đầu tư trong thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trưởng và phát triển ở mọi quốc gia. Riêng đối
với các nước kém phát triển, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định cần có khối
lượng vốn rất lớn. Điều này càng được khẳng định chắc chắn khi nghiên cứu vai trò của
vốn đầu tư với phát triển kinh tế.
1.3.2.1Vai trò của nguồn vốn trong nước
- Vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định đối với tăng
trưởng và phát triển của từng đơn vị kinh tế cũng như của cả đất nước. Do tính chất ổn
định và ít chịu biến động từ bên ngoài nên nguồn vốn trong nước là nguồn cơ bản tạo sự
tăng trưởng bền vững cho đất nước. Đồng thời vốn đầu tư trong nước là đối trọng với
nguồn vốn đầu tư nước ngoài, hạn chế được những mặt tiêu cực của nguồn vốn đầu tư
11
nước ngoài, tạo bộ khung kinh tế để có thể chống lại được những tác động của thị trường
thế giới.
- Nguồn vốn trong nước là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều tiết kinh tế
vĩ mô. Nguồn vốn trong nước thường được ưu tiên để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước phát triển, đồng thời
tạo điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thúc đẩy cơ hội đầu tư tăng trưởng kinh tế.
Vốn từ ngân sách nhà nước còn góp phần kiềm chế lạm phát, đẩy nhanh tiến trình cổ phần
hoá trong nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Nguồn vốn đầu tư trong nước đặc biệt là nguồn vốn dồi dào của khu vực dân cư và tư nhân
là tác động lớn nhất thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước diễn ra
nhanh chóng và đồng bộ. Từ đó giải quyết những tồn tại và tình trạng sản xuất, kinh doanh

và phát triển kinh tế
2.1.1 Nguồn vốn trong nước mang tính ổn định và bền vững, có thể chủ động
trong việc huy động và sử dụng.
Như vậy, đầu tư trong nước là nguồn cơ bản đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế
một cách liên tục, đưa đất nước đi đến sự phồn vinh chắc chắn, lâu bền. Theo kinh nghiệm
phát triển thì đây là nguồn vốn cơ bản có vai trò quyết định, chi phối mọi hoạt động đầu tư
phát triển trong nước. Trong lịch sử phát triển của các nước trên phương diện lý luận
chung, bất kỳ nước nào cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính. Sự chi việc, bổ sung
bên ngoài chỉ là tạm thời. Chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước có hiệu quả
mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng của quốc gia
đề ra.
Hiện nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu, mỗi quốc gia không chỉ phát triển đơn lẻ
mà còn có sự tác động qua lại đối với các quốc gia khác. Chính vì thế, nền kinh tế của mội
quốc gia sẽ ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, nếu chúng
ta phát huy được nội lực nguồn vốn trong nước thì sẽ có thể chủ động trong việc điều hành
nền kinh tế và ổn định các chính sách kinh tế.
Ngoài ra, việc tận dụng nguồn vốn trong nước cũng giúp chúng ta có được sự phát
triển bền vững. Để phát triển kinh tế có nhiều con đường khác nhau. Nhiều nước đã chọn
13
con đường đi vay và xin viện trợ nước ngoài nhằm phát triển kinh tế. Thực tế đã cho thấy
các nước này có thể đạt được mức tăng trưởng cao nhưng là tăng trưởng nóng, không bền
vững và có sự lệ thuộc vào nước cho vay bởi họ không thấy được cũng như không phát
huy được tính quyết định của nguồn vốn trong nước.
Nguồn vốn trong nước chiếm một tỉ trọng ưu thế (>50%) trong tổng vốn đầu tư toàn
xã hội. Nếu tỷ trọng này quá thấp so với vốn nước ngoài thì sẽ dẫn đến giảm khả năng
thanh toán và có thể không kiểm soát được sự thâm nhập của các tập đoàn xuyên quốc gia
gây lũng đoạn thị trường, thu hẹp thị trường của các doanh nghiệp trong nước và sản xuất
trong nước không phát triển. Các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay vẫn chủ yếu là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng cạnh tranh còn hạn chế ở rất nhiều mặt, sự hỗ trợ từ
nhà nước bằng chính sách pháp luật là rất cần thiết. Chính vì vậy chúng ta phải giữ cho tỷ

nước) phải đứng ra đầu tư vào lĩnh vực này. Trước là để tạo cơ hội cho sự phát triển kinh tế
địa phương, tạo môi trường đầu tư kinh doanh tốt cho nhà đầu tư trong nước, sau là để tạo
điều kiện thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.
Mặt khác, nguồn vốn trong nước chính là cơ sở để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Trước tiên, xét về nguồn vốn FDI: Thực tế những năm qua, dòng vốn FDI trên thế giới chủ
yếu di chuyển trong nội bộ các nước phát triển, chỉ có khoảng 25%- 30% di chuyển đến
các nước đang và chậm phát triển. Điều đó chứng tỏ tài nguyên thiên nhiên dồi dào, lao
động rẻ không phải là nhân tố hàng đầu trong thu hút FDI. Khoảng 90% dòng vốn chảy
vào một số ít quốc gia có môi trường đầu tư hấp dẫn. Vì vậy, cần quan tâm tới vấn đề sử
dụng nguồn vốn trong nước để tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn. Muốn vậy, chúng ta
cần xây dựng được một nền tảng kinh tế - chính trị - xã hội vững chắc và ổn định, có cơ sở
hạ tầng, giao thông liên lạc tốt, đội ngũ công nhân có tay nghề, cán bộ quản lý có chuyên
môn Đó mới là yếu tố quyết định tới việc thu hút vốn nước ngoài để phát triển kinh tế.
Và đảm nhiệm vai trò này chính là nguồn vốn trong nước.
2.1.4 Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn đối ứng nhằm tạo cơ sở cho nguồn
vốn nước ngoài vào hoạt động có hiệu quả
Thông thường để vốn đầu tư nước ngoài phát huy được tác dụng thì cần phải có một
tỷ lệ vốn đối ứng trong nước thích hợp. Nghĩa là muốn tiếp nhận được vốn đầu tư nước
ngoài thì trong nước cũng cần có một số cơ sở hạ tầng nhất định tạo điều kiện cho vốn
nước ngoài hoạt động có hiệu quả. Trong dự án sử dụng vốn ODA những tổ chức cho vay
15
yêu cầu nước đi vay phải có vốn đối ứng để chủ động cho việc lập dự án. Nước đi vay phải
bỏ trước để chi trả cho đội ngũ thực hiện dự án hoặc chi phí cho hoạt động đi lại, hoạt động
của phía tiếp nhận. Sẽ có hai nhóm nhận tiền, một là do dự án trả, một nhóm khác do nhà
nước trả (lấy từ vốn đối ứng). Theo kinh nghiệm của một số nước nhóm NICs thì giai đoạn
đầu của quá trình phát triển tỷ lệ này thường thấp ở mức 1/ 1.5 nghĩa là một đồng vốn nước
ngoài thì cần 1.5 đồng vốn trong nước. Ở giai đoạn sau khi các chương trình đầu tư
nghiêng về ngành công nghiệp chế biến có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao thì tỷ lệ này
thường tăng lên 1/ 2.5.
2.1.5 Nguồn vốn trong nước là nguồn chi trả các khoản vay nước ngoài và

còn thiếu, lại quá tải và cũ kĩ, đường cầu, sân bay, nhà máy điện, tàu biển… đều trong tình
trạng yếu kém. Để đạt mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững, Việt Nam nhất thiết
phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng, thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn lại chậm,
khả năng sinh lời thấp nên không hấp dẫn được đầu tư của tư nhân. ODA trở thành giải
pháp hiệu quả cho việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Không chỉ ở Việt Nam, ngay cả
các nước phát triển cũng lựa chọn ODA để đầu tư cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
đồng bộ và hiệu quả. ODA là nguồn vốn cho phép tiến hành đồng thời nhiều dự án trên địa
bàn và ở nhiều ngành khác nhau. Điều này sẽ tạo được sự phát triển mang tính chất đồng
bộ của hệ thống kết cấu hạ tầng. Nhờ đó tạo được năng suất tổng hợp phục vụ hiệu quả đối
với hoạt động sản xuất kinh doanh và sự phát triển chung của toàn xã hội.
Hơn nữa, ODA cũng làm tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kện để mở rộng
đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang phát triển. Để có thể thu hút được các nhà
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào đầu tư tại một lĩnh vực nào đó, nhà nước cần tập trung vào
việc nâng cấp cải thiện và xây dựng mới cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính ngân hàng…
Nguồn vốn để nhà nước có thể giải quyết những đầu tư này là phải dựa vào nguồn vốn
ODA giúp bổ sung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ ngân sách nhà nước. Một khi môi trường đầu
tư được cải thiện sẽ tăng sức hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy đầu tư
trong nước tăng, dẫn đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Mặt khác, việc sử dụng
nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong
nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi
nhuận.
17
Như vậy, hỗ trợ phát triển chính thức, ngoài việc bản thân nó là nguồn vốn bổ sung
quan trọng cho các nước đang phát triển, còn có tác dụng tăng khả năng thu hút vốn từ
nguồn đầu tư trực tiếp và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước cho các
nước này.
2.2.1.2 Là nguồn cung ứng ngoại tệ cho hoạt động mua sắm máy móc, thiết
bị, chuyển giao công nghệ, phân công lao động xã hội, tạo điều kiện cho tăng năng suất lao
động, gia tăng sản lượng của nền kinh tế.
Để tạo ra sự “cất cánh” cho nền kinh tế phải tìm cách tạo ra mức sản lượng, mức thu

tích lũy nội bộ nền kinh tế. Bên cạnh đó, khi thu nhập của người lao động tăng, họ cũng
tăng tích lũy, tạo thành nguồn vốn lớn trong nước.
Nguồn vốn nước ngoài khi vào lãnh thổ Việt Nam sẽ phải tuân theo luật pháp của
Việt Nam và phải hoàn thành nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước. Một thực tế mà chúng ta
đều thấy, doanh nghiệp nước ngoài thường hoạt động có hiệu quả hơn so với doanh nghiệp
trong nước. Do vậy, số thuế thu được từ những doanh nghiệp này sẽ nhiều hơn, bao gồm
các nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,
thuế chuyển nhượng, thu nhập từ mua bán tài sản… Đó cũng là nguồn bù đắp lớn cho ngân
sách nhà nước, mà đây cũng chính là nguồn cung ứng vốn lớn ở trong nước.
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài cùng với nguồn vốn trong nước hình thành những
hình thức hợp tác như công ty liên doanh, công ty cổ phần…Việc liên doanh liên kết này
sẽ làm giảm bớt gánh nặng về vốn, đầu tư đổi mới công nghệ được san sẻ giữa các bên.
Bên cạnh đó tạo điều kiện tốt cho phía trong nước có cơ hội học hỏi kỹ năng quản lý
chuyên nghiệp từ bên ngoài, tác phong làm việc công nghiệp, nâng cao tay nghề cho công
nhân. Thêm vào đó, sản phẩm đầu ra sẽ có thương hiệu tốt hơn, từ đó nâng cao khả năng
cạnh tranh của công ty, lợi nhuận thu được cao hơn so với không liên doanh liên kết. Và
như thế, nó đã góp phần gia tăng tích lũy nội bộ nền kinh tế.
2.2.1.4 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của một quốc gia là tổng thể mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cấu
thành nền kinh tế. Một đất nước có nền kinh tế phát triển phải có một cơ cấu kinh tế hợp
lý. Muốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một đất nước cần có rất nhiều nguồn lực. Trong
đó yếu tố vốn đóng vai trò quyết định Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước sẽ không thể
19
đáp ứng được, có thêm nguồn vốn nước ngoài sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
Nguồn vốn nước ngoài làm thay đổi cơ cấu các ngành của nước tiếp nhận đầu tư,
chuyển đổi từ ngành sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ và sau
cùng là sang ngành sản xuất dịch vụ. Thay đổi cơ cấu bên trong một ngành sản xuất từ
năng suất thấp, công nghệ lạc hâu, lao động nhiều sang sản xuất có năng suất cao, công
nghệ hiện đại. Khi cơ cấu kinh tế đã được chuyển dịch theo hướng ngày càng tiến gần hơn

người phải trả lại là thế hệ sau. Vì vậy, nó còn kĩm hãm khả năng phát triển lâu dài của
nguồn vốn trong nước. Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng vốn ODA cần phải
phối hợp với các loại nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
2.2.2.2 Nguồn vốn nước ngoài di chuyển vào trong nước làm tăng thu nhập của vốn nước
ngoài trên thị trường trong nước và làm giảm thu nhập của nguồn vốn trong nước
Về thực chất, đây là việc tái phân phối thu nhập của nguồn vốn trong nước cho vốn
nước ngoài, do đó có thể gây ra làn sóng “bài ngoại” của vốn trong nước và hiện tượng
xung đột ngấm ngầm hoặc công khai trong quan hệ giữa vốn trong nước và vốn nước
ngoài.
2.2.2.3 Nguồn vốn nước ngoài được đầu tư khá nhiều vào khai thác tài nguyên, dẫn đến
làm giảm khả năng phát triển lâu dài của nguồn vốn trong nước.
Đặc điểm của tài nguyên thiên nhiên là bắt nguồn từ tính chất quý hiếm và sự phân
bố không đồng đều giữa các vùng trên trái đất. Các nước đang phát triển thường có nhiều
tài nguyên thiên nhiên hơn các nước phát triển. Một trong những động cơ của các nhà đầu
tư nước ngoài là nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở các nước tiếp nhận
vốn. Họ có thể khai thác để đem về nước sản xuất hoặc sản xuất thành sản phẩm ngay tại
nước sở tại, có một hình thức khai thác là khai thác những địa điểm du lịch hấp dẫn có sẵn
hoặc đang ở dạng tiềm năng của chúng ta. Nhưng nguồn tài nguyên của chúng ta chỉ có
hạn, nếu cứ khai thác như vậy thì sẽ mau chóng cạn kiệt. Thế hệ sau sẽ không có nguyên
nhiên liệu để sản xuất vì vậy sẽ gặp bất lợi do có thể sẽ phải nhập khẩu nguyên liệu hoặc
21
tốn kém chi phí cho nghiên cứu tìm ra nguyên liệu khác thay thế. Việc này sẽ làm giảm
khả năng phát triển lâu dài của nguồn vốn trong nước.
2.2.2.4 Tình trạng lũng đoạn thị trường của nhà đầu tư nước ngoài và cạnh tranh không cân
sức giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể làm
phá sản doanh nghiệp trong nước và gây thất nghiệp.
Một thực tế mà tất cả chúng ta đều có thể dễ dàng nhìn thấy đó là các doanh nghiệp
nước ngoài thường làm ăn có hiệu quả hơn với doanh nghiệp nhà nước là bởi các lý do sau:
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước đang phát triển thường rất hạn
chế bởi đa số các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ và ít vốn. Thêm vào đó là đa số chủ

chính trị nào. Nội lực có tốt thì mới phát huy được tốt vai trò của ngoại lực. Thực tế cũng
đã chứng minh, không có một quốc gia nào có thể phát triển bền vững nếu chỉ dựa vào
ngoại lực bên ngoài mà không chú trọng phát huy nội lực.
23
Để không lệ thuộc nước ngoài về kinh tế, Đảng ta luôn xác định nhiệm vụ và giải
pháp quan trọng phát triển kinh tế xã hội là “ huy động tối đa nguồn lực để phát triển kinh
tế xã hội, nhất là nội lực, nguồn lực trong dân và tăng sức thu hút đầu tư nước ngoài, sử
dụng có hiệu quả vốn đầu tư, tăng cường quản lý sử dụng đất đai, đề cao kỷ luật tài chính,
đẩy mạnh thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm, phấn đấu giảm bội chi”. Ở Việt Nam, khu
vực đầu tư trong nước đang ngày càng khẳng định được vai trò quyết định của mình đối
với nền kinh tế và đã đạt được một số thành công nhất định.
Bảng 1: Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế
Năm 100% Nguồn vốn trong nước Nguồn vốn nước ngoài
1995 100 69,6 30.4
1996 100 74,0 26,0
1997 100 72,0 28,0
1998 100 79,2 20,8
1999 100 82,7 17,3
2000 100 82,0 18,0
2001 100 82,4 17,6
2002 100,0 82,6 17,4
2003 100,0 84,0 16,0
2004 100,0 85,8 14,2
2005 100,0 85,1 14,9
2006 100,0 83,8 16,2
2007 100,0 75,7 24,3
2008 100,0 69,1 30,9
2009 100,0 74,5 25,5
Nguồn: Tổng Cục thống kê
Thực tế cho thấy tỷ lệ vốn đầu tư khu vực trong nước luôn chiếm khoảng trên 70%

tiếp của nhà nước. Ngân sách nhà nước góp phần trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một
số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo đúng định hướng và quy hoạch phát
triển kinh tế xã hội.
Đi cùng với sự mở rộng quy mô ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển từ ngân
sách nhà nước cũng gia tăng đáng kể. Trong giai đoạn 1996 – 2000, chi cho đầu tư phát
triển tăng lên bình quân khoảng 25% GDP trong tổng chi ngân sách nhà nước. Tổng nguồn
vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước bình quân 5 năm chiếm 21.5% tổng vốn đầu tư xã
hội. Trong giai đoạn 2001 – 2005, chi cho đầu tư phát triển đạt bình quân 30.2% tổng chi
ngân sách nhà nước. Tính chung cho giai đoạn này, tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
25

Trích đoạn Tác động của nguồn vốn nước ngoài đối với nguồn vốn trong nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status