TFP
I. Bản chất của TFP
1. Năng suất
Từ những năm 90 của thế kỷ 20 về trước, năng suất được hiểu và áp dụng ở Việt Nam theo khái niệm
truyền thống, năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động và thường được quan tâm, tính toán bằng số
lượng hay khối lượng sản phẩm tạo ra hoặc tổng giá trị sản xuất-dịch vụ tạo ra trên một lao động hay giờ lao
động. Năng suất truyền thống định hướng theo các yếu tố đầu vào, chủ yếu là lao động, nguyên vật liệu,
thiết bị và giải pháp nhằm đạt mục tiêu tăng năng suất là tăng đầu ra và giảm đầu vào. Cách tiếp cận này
không còn thích hợp với kinh tế thị trường, kinh tế phát triển trên nền tảng công nghệ tiến bộ, phát triển theo
chiều sâu.
Từ năm 1995-1996 lại đây, sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Năng suất Châu Á (APO), Việt
Nam đã dần tiếp nhận khái niệm và một số chỉ tiêu tính toán năng suất theo cách tiếp cận mới. Đặc điểm
của cách tiếp cận mới này là:
Định hướng theo các kết quả của Đầu ra, hướng tới nhu cầu của thị trường và giảm lãng phí trong mọi hình
thức chứ không là chỉ giảm Đầu vào. Bản chất của vấn đề ở đây là tăng thêm giá trị, do đó không chỉ sử
dụng hợp lý, tiết kiệm Đầu vào mà còn chú trọng chất lượng và tính hữu ích của Đầu ra.
Năng suất là làm việc thông minh hơn chứ không phải vất vả hơn.
Nguồn nhân lực và khả năng tư duy của con người đóng vai trò quan trọng trong việc đạt năng suất cao hơn
và hành động là kết quả của quá trình tư duy. Vốn và công nghệ là quan trọng nhưng chính con người với
khả năng tư duy và kỹ năng cao là yếu tố quyết định nhất.
Năng suất không chỉ là năng suất bộ phận như năng suất lao động, năng suất vốn, mà còn là năng suất
chung, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP).
Năng suất được coi là biểu hiện cho cả hiệu lực và hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu, vì
năng suất cao nhưng không được lãng phí tài nguyên và hủy hoại môi trường, phải là năng suất xanh tức là
năng suất được tạo ra trong các hệ thống sản xuất sạch.
Đặc biệt năng suất theo cách tiếp cận mới không đối lập mà đồng hướng, cùng tạo nên hiệu quả với chất
lượng. Chất lượng hóa các yếu tố và các quá trình là điều kiện để tăng năng suất với tốc độ cao và ổn định,
bền vững.
Các nhân tố tăng năng suất
Để tiến hành sản xuất chúng ta phải kết hợp các yếu tố sản xuất đó là tư liệu sản xuất và con người
thể hiện dưới dạng các nguồn lực sản xuất đó là vốn và lao động. Để tăng đầu ra không nhất thiết phải tăng
+Chỉ tiêu tốc độ tăng TFP là tỉ lệ tăng lên của kết quả sản xuất do nâng cao năng suất tổng hợp theo
nguồn lực, nó phản ánh toàn diện về chiều sâu của quá trình sản xuất kinh doanh, là một trong những chỉ
tiêu chất lượng quan trọng nhất để đánh giá chất lượng tăng trưởng của một ngành, một lĩnh vực hay toàn
bộ nền kinh tế quốc dân.
Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (
TFP
I
•
) phản ánh tốc độ tiến bộ khoa học công nghệ là
chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh sự nhanh, chậm của tiến bộ khoa học công nghệ trong một thời gian nhất định
Khi nghiên cứu về năng suất trên cơ sở chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) là giá trị gia tăng
(GTGT) và hai nhân tố đầu vào (vốn cố định - VCĐ và lao động) thì tốc độ tăng năng suất các
nhân tố tổng hợp (tốc độ tăng TFP) được phản ánh theo phương trình:
Tốc độ tăng
GTGT
=
Tốc độ tăng
GTGT do VCĐ
đóng góp
+
Tốc độ tăng
GTGT do lao
động đóng góp
+ Tốc độ tăng TFP
Từ đó:
Tốc độ
tăng TFP
=
Tốc độ
tăng
- Tốc độ tăng GTGT (Y- Giá trị gia tăng)
K
I
•
-Tốc độ tăng của VCĐ (K- Vốn cố định)
L
I
•
- Tốc độ tăng của lao động (L- Lao động làm việc)
α : Hệ số đóng góp của VCĐ
β : Hệ số đóng góp của lao động
(với α + β = 1).
Các chỉ tiêu
Y
I
,
L
I
,
K
I
được tính rất đơn giản dựa vào số liệu đã được công bố, việc còn lại tính hệ số
đóng góp của vốn (α) và hệ số đóng góp của lao động (β). Để xác định các hệ số α và β có thể dùng các
phương pháp sau:
- Phương pháp hạch toán
Với ý nghĩa của hệ số α và β người ta tính toán dựa vào phương pháp hạch toán như sau:
β =
P
k
= Y’ : K (4a)
Nếu lấy giá trị gia tăng riêng phần của lao động (Y”) chia cho lao động làm việc (L) sẽ được năng suất
riêng phần của lao động (P
L
)
P
L
= Y” : L (4b)
Từ (4a) và (4b) ta có :
Y’ = P
k
x K (5a)
Và Y” = P
L
x L (5b)
Trên cơ sở phương trình (5a) ta có hệ thống chỉ số :
0
1
0k
1k
'
0
'
1
K
K
P
P
"
0
"
1
L
L
P
P
Y
Y
×=
hoặc
"
Y
I
= I
Pl
x I
L
(6b)
Trong đó:
"
Y
I
- chỉ số giá trị gia tăng riêng phần của lao động
I
Pl
- chỉ số năng suất riêng phần của lao động
I
−=−=−=∆
(7a)
Từ hệ thống chỉ số (6b) ta tính được khối lượng giá trị gia tăng mang lại do tăng thêm về số lượng lao
động làm việc:
( ) ( ) ( )
1IY.1
L
L
YLL
L
Y
LLP
L0
0
1
"
001
0
"
0
01L)L(Y
0
−β=
1IY
I
••
β=−β=
−β
=
(8b)
Thay tốc độ tăng giá trị gia tăng (
Y
I
•
), tốc độ tăng giá trị gia tăng do vốn đóng góp [
)K(Y
I
•
- 8a] và tốc độ
tăng giá trị gia tăng do lao động đóng góp [
)L(Y
I
•
- 8b] vào phương trình (1) ta có:
)II(II
LKYTFP
••••
β+α−=
(9)
Như vậy vấn đề đặt ra đã được chứng minh (công thức (9) chính là công thức 2)
- Phương pháp dùng hàm sản xuất Cobb-Douglass.
Từ hàm sản xuất (1)
βα
2
i
n
1i
i
n
1i
ii
n
1i
i
n
1i
i
x.bx.axy
x.ba.ny
Với số liệu trong ngành công nghiệp Việt nam từ năm 1990-1999, chúng tôi tính ra được hệ số α = 0,54
từ đó suy ra β = 0,46 Với hệ số xác định
2
R
=0,9249 (tức là các biến giải thích quyết định 92,49% mô hình, có
nghĩa là các hệ số tính được có hệ số tin cậy cao).
Khi sử dụng phương pháp này phải có một dãy số liệu liên tục nhưng không phải thu nhập số liệu về
thu nhập của lao động và số liệu tính ra trong trường hợp này là số trung bình của cả thời kỳ
IV. Tỉ phần đóng góp của tốc độ tăng TFP
0 Chỉ tiêu tỉ phần đóng góp của tốc độ tăng TFP là tỉ lệ của tốc độ tăng TFP trên tốc độ tăng GDP, nó
phản ánh mức độ đóng góp của TFP (các yếu tố vô hình) so với tăng trưởng GDP, và qua đó cũng thể hiện
được tỉ phần đóng góp của các yếu tố hữu hình (là vốn và lao động).
Công thức tính tỷ trọng của tăng TFP vào tăng GDP như sau:
% đóng góp của TFP = (İTFP /İY) x 100%.
Giai đoạn 1990 - 2000 Giai đoạn 2000 - 2008
Vốn Lao động TFP Vốn Lao động TFP
Việt Nam 100% 34% 22% 44% 53% 19% 26%
Trung
Quốc 100% 36% 7% 56% 42% 6% 52%
Ấn Độ 100% 40% 23% 38% 42% 22% 37%
Campuchia 100% 38% 34% 27% 47% 39% 14%
Inđônêxia 100% 61% 27% 12% 27% 22% 49%
Malaixia 100% 54% 30% 16% 30% 20% 50%
Philippin 100% 43% 47% 10% 21% 40% 38%
Thái Lan 100% 61% 7% 32% 17% 30% 53%
Nhìn vào bảng trên có thể thấy:
Trong thời kỳ 1990-2000, 34% tăng trưởng GDP của Việt Nam là do đóng góp của tăng trưởng vốn vật chất,
22% là do tăng trưởng lao động và 44% là do tăng trưởng TFP.
Trong thời kỳ 2000-2008, đóng góp của vốn vật chất đã tăng lên tới 53%, trong khi phần đóng góp của TFP
giảm xuống còn 26%.
Nếu so với các nước ASEAN khác như Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan và Philippin, đóng góp của TFP vào
tăng trưởng kinh tế ở các nước này đều tăng mạnh trong thời kỳ 2000-2008. Hơn thế nữa, ở Trung Quốc,
hơn 50% tăng trưởng kinh tế trong cả thời kỳ 1990-2008 là do TFP đóng góp, tỷ lệ đóng góp của TFP vào
tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thuộc vào nhóm nước có tỷ lệ thấp nhất trong khi tỷ lệ này ở các nước
phát triển đạt xấp xỉ 50%, các nước đang phát triển có tỷ lệ trung bình khoảng 30%.
Rõ ràng là Việt Nam đã phụ thuộc quá nhiều vào vốn vật chất để tăng trưởng, và hàm ý rằng năng suất
biên của vốn ở Việt Nam là thấp và đặt ra câu hỏi về sự bền vững của cách thức tăng trưởng hiện nay. .
Thời gian qua, đầu tư phát triển công nghệ của nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển quan
trọng. Song tiến bộ còn chậm, tác động của sự phát triển KH&CN đối với tăng trưởng kinh tế còn chưa cao.
2. Nguyên nhân và giải pháp
2.1. Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nêu trên là do trình độ kỹ thuật, nhất là trang thiết bị, công nghệ sản
xuất còn lạc hậu, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, yếu kém
về năng lực quản lý, trình độ và kỹ năng của người lao động.
vật tư y tế tiêu hao, vắc xin, dược liệu; các loại sản phẩm, hàng hóa chủ lực của các tỉnh/thành phố…
Xây dựng Hệ thống tiêu chuẩn quốc gia bao quát được các đối tượng thuộc hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã
hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu nâng cao NSCL đối với sản phẩm, hàng hoá của nền kinh tế.
Xây dựng Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trên cơ sở sử dụng hoặc viện dẫn tiêu chuẩn quốc gia,
quốc tế, khu vực.
Thiết lập được mạng lưới các phòng đo lường, thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa đạt trình độ khu
vực, quốc tế, đáp ứng nhu cầu đánh giá sự phù hợp của hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm,
hàng hóa; đáp ứng nhu cầu về thừa nhận lẫn nhau các kết quả thử nghiệm, chứng nhận chất lượng sản
phẩm, hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu chủ lực để tạo thuận lợi trong thương mại quốc tế
.
22