tác động của khói bụi công nghiệp đến môi trường sống của người dân (nghiên cứu cụ thể tại hn) - Pdf 25

Họ tên: Vũ Duy Long
Lớp: K52 Xã hội học
Đề tài: Ảnh hưởng của khói bụi từ nhà máy xi măng đến môi
trường sống và sức khỏe của người dân. (Nghiên cứu cụ thể tại khu dân cư xung
quanh nhà máy xi măng Sài Sơn – xã Sài Sơn – Quốc Oai – HN)
Phần 1: Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển về cơ sở hạ tầng nên nhu cầu về vật
liệu xây dựng là rất lớn. Chính vì vậy, ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
luôn là nghành được đầu tư, ưu tiên phát triển trước. Và trên thực tế ở nước ta, việc
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng luôn gắn liền với sự phát triển của đất nước, mạnh nhất
là từ khi thống nhất đất nước (1975) đến nay.
Từ sau đại hôị Đảng lần thứ 6 (1986), quan điểm của Đảng và nhà nước ta là
phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với mục tiêu cơ bản là làm cho dân giàu,
nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về mặt vật chất và tinh thần của nhân
dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các
thành phần kinh tế. Chính sách này tạo điều kiện để nhiều nghành kinh tế phát triển,
điều đó đòi hỏi cơ sở hạ tầng phải được đầu tư rất lớn. Chính vì vậy, công nghiệp sản
xuất vật liệu xây dựng là ngành có vai trò quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát
triển.
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được về mặt kinh tế thì những hệ lụy
về môi trường, đến sức khỏe con người do tác động của quá trình sản xuất vật liệu
xây dựng đang là những thách thức lớn đối với nước ta.
Là một bộ phận quan trọng của nghành sản xuất vật liệu xây dựng, công
nghiệp sản xuất xi măng đã phát triển từ rất sớm và ngày càng được đầu tư công nghệ
hiện đại để nhằm nâng cao năng lực sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhằm
đáp ứng cho nhu cầu của xã hội. Tuy nhiên, ở một số vùng hiện nay, việc sản xuất xi
măng vẫn còn áp dụng công nghệ lò đứng (là công nghệ đã cũ và lạc hậu), một công
nghệ phát thải khói bụi trực tiếp ra không khí mà không qua xử lý, gây ô nhiễm môi
trường sống tại vùng đồng thời, để lại những hậu quả tiêu cực cho sức khỏe của con

pháp nghiên cứu xã hội học thực nghiệm như (phương pháp thu thập thông tin bằng
bảng hỏi, phương pháp quan sát, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan
sát) cùng các cách tiếp cận xã hội học trong nghiên cứu các vấn đề xã hội. Để từ đó
xem xét, đánh giá, nhận thức những tác hại từ hoạt động sản xuất xi măng theo công
nghệ cũ đến sức khỏe của người dân,
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ những ảnh hưởng tới môi trường sống và sức khỏe đến người dân xung
quanh do khí thải từ hoạt động của nhà máy xi măng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về thực trạng và mức độ ảnh hưởng do hoạt động của nhà máy xi
măng theo đến môi trường sống của dân cư.
- Đánh giá sự tác động của các yếu tố môi trường (do ảnh hưởng của nhà máy
xi măng) đến sức khỏe của người dân trong vùng.
Chỉ ra những nguy cơ của ảnh hưởng do hoạt động của nhà máy xi măng đến
sức khỏe của cư dân.
4. Đối tượng nghiên cứu, khách thể và mẫu nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này hướng đến xem xét những ảnh hưởng từ hoạt động của nhà máy xi
măng đến môi trường và sức khoẻ của người dân trong vùng.
4.2 Khách thể nghiên cứu:
+ Người dân định cư xung quanh nhà máy Sài Sơn bao gồm: Cư dân của 3
thôn,1 trại (trên tổng số 5 thông, 7 trại) của xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội. Do đây là
những nơi (trong đó tập trung vào làng Khánh Tân, nơi mà nhà máy xi măng đặt ngay
giữa làng nên là vùng chịu nhiều ảnh hưởng nhất)
+ Công nhân và cán bộ trong nhà máy
5. Mẫu nghiên cứu:
Dự kiến:
100 mẫu phỏng vấn bằng bảng hỏi với cơ cấu như sau:
+ 50 mẫu tại thôn Khánh tân

thải, không khí, tiếng ồn,…) từ đó đối chiếu đánh giá với các số liệu, các thông tin thu
thập được từ nhằm làm phong phú thêm cho các giả thuyết và phần kết quả trong báo
cáo.
7.4. Phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi
Việc thực hiện thu thập thông tin bằng bảng hỏi là lựa chọn hợp lý để thu thập
nguồn thông tin định lượng một cách có hiệu quả. Thông qua phương pháp này, việc
phân tích kết quả định lượng kết hợp với những thông tin định tính thu được sẽ là kết
quả cuối cùng cho đề tài.
8. Giả thuyết nghiên cứu
Với công nghệ sản xuất theo mô hình lò đứng (2 ống xả khí) đã lạc hậu so với
công nghệ ngày nay, khí thải ra từ nhà máy không qua quá trình xử lý đã khiến cho
môi trường nơi đây trở nên ô nhiễm vì khói bụi và nước thải.
Mặc dù gần đây nhà máy đã ngưng sản xuất, nhưng với trên 50 năm sống
trong khói bụi và ô nhiễm như vậy, đã gây nên nhiều tác động xấu tới sức khỏe người
dân trong vùng.
Phần lớn những bệnh ở đây là bệnh về hô hấp, bệnh ngoài da, đau mắt do khói
bụi và tiếng ồn từ nhà máy gây ra.
 Từ giả thuyết của đề tài xin đưa ra khung lý thuyết.
Phần 2: Nội dung chính
Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn của đề tài
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã
hội
Khai thác và sản xuất xi măng
Ô nhiễm môi trường
Tiếng ồn Nguồn nước
Sức khỏe của người dân
Không khí
Thể chất Tinh thần
môi trường tự nhiên môi trường xã hội

nghiêm trọng của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường tự nhiên như: Sự ô
nhiễm không khí do khói bụi, mùi hôi thối và nồng độ các chất độc hại có trong
không khí, ô nhiễm đất do nhiễm các hóa chất độc hại, ô nhiễm nguồn nước do nhiễm
kim loại và các hóa chất. Ngoài ra còn có những hậu quả về mặt xã hội như: gia tăng
về tệ nạn xã hội.v.v… Tuy nhiên, chuyên đề này phân tích vấn đê quá rộng. Việc
đánh giá phần lớn chỉ dựa vào các chỉ số đo lường chứ không thu thập từ ý kiến đánh
giá của người dân xung quanh.
Tóm lại, các nghiên cứu lớn về vấn đề này thường tập trung vào việc đưa ra
các thông số vật lý để mô tả hiện tượng, hơn nữa, các nghiên cứu trên đều không tập
trung vào một vấn đề nghiên cứu cụ thể mà chỉ nói qua loavề ảnh hưởng do khói bụi
công nghiệp đến môi trường sống và sức khoẻ con người.
Ngoài ra, còn có rất nhiều báo cáo cũng như các bài báo đề cập tới vấn đề ô
nhiễm môi trường và ảnh hưởng của nó, tuy nhiên, tất cả chỉ dừng lại ở phương diện
phản ánh chung chung và chưa cụ thể.
1.2. Cơ sở lý luận
Để nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc và toàn diện, đề tài được thực hiện trên
cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được coi là phương
pháp luận chung nhất, có ý nghĩa to lớn trong nhận thức và trong thực tiễn xã hội.
Triết học Macxit cho rằng: “cần xem xét mọi sự vật hiện tượng một cách
khách quan, toàn diện nằm trong mối quan hệ phổ biến và phát triển.” Nguyên lý này
khẳng định sự vật không tồn tại một cách biệt lập mà chúng nằm trong mối quan hệ
tác động qua lại với nhau để tạo ra sự phát triển.
Marx cho rằng: “phải xem xét sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
theo một quá trình trong những giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau để tìm ra tính
tất yếu, tìm ra những quy luật chi phối đến sự vận động phát triển của chúng. Mặt
khác, luôn nhìn nhận sự vật trong một thể thống nhất của các mặt đối lập, mâu thuẫn
với nhau đấu tranh để hình thành một chỉnh thể mới.” Đó chính là nguồn gốc bên
trong của sự phát triển và vận động. Mối liên hệ của sự vật luôn được đặt trong mối

năng của hệ sinh thái trong việc hấp thu rác thải sẽ dẫn tới vấn đề bệnh tật từ rác thải
đọc hại và phá vỡ hệ sinh thái. Thêm nữa, các chức năng cạnh tranh nhau để chiếm
khoảng không gian, và thường va chạm nhau. Sự chồng chéo, và do đó xung đôt giữa
ba chức năng của môi trường đã phát triển nhanh chóng.
Như vậy, có thể thấy rằng theo mô hình của Cantton và Dunlap, các chức năng
của môi trường luôn xung đột lẫn nhau, nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà các
vấn đề về môi trường và sức khỏe đang ngày càng trở nên gay gắt. Theo đó, cùng với
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc xây dựng và phát triển hàng loạt các cơ
sở sản xuất và thu hẹp phạm vi sống của dân cư, sinh vật, đã dẫn đến những xung đột
và vấn đề gay gắt về môi trường và sức khỏe. Sự lạm dụng để xây dựng các khu nhà
máy, (nhà máy xi măng) trong khi thiếu sự quy hoạch, đồng thời đã tận dụng quá lớn
nguồn lực môi trường, vượt ngưỡng chịu đựng của không khí đã dẫn đến tình trạng
quá tải sinh thái, và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Với sự ô nhiễm nước,… đặc
biệt là môi trường không khi với lương khói bụi nguy hại do nhà máy xi măng xả ra
đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Và điều đó như là một biểu hiện rõ ràng,
rõ nét cho sự xung đột chức năng môi trường mà Cantton và Dunlap đã nêu trong sơ
sơ đồ, lý thuyết tiếp cận về cạnh tranh chức năng của môi trường của mình.
1.2.2 Các khái niệm công cụ
• Môi trường sống
Theo (Điều 1, Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam, 1993): Môi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của
con người và thiên nhiên .
Môi trường sống là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con
người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người
như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế.
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
- Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của
con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất,

học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt
được thải ra từ các khu dân cư ven sông.
 Ô nhiễm không khí: Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một
sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch
hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhin xa do bui Hàng năm con
người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt, đồng thời cũng thải
vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt,
chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên
nhanh chóng.
 Ô nhiễm tiếng ồn:
Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số khác nhau, sắp xếp
không có trật tự, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, ảnh hưởng đến quá trình làm
việc và nghỉ ngơi của cong người. Hay là những âm thanh phát ra không đúng lúc,
không đúng nơi, âm thanh phát ra với cường độ quá lớn, vượt quá mức chịu đựng của
con người. (Theo luật bảo vệ môi trường nước CHXHCN khóa IX, kì họp thứ 4 từ
ngày 6-30/12/1993)
• Khái niệm sức khỏe:
Trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không
phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật (WHO, Hiến chương
Ottawa, 1974).
Sức khỏe của con người không chỉ phụ thuộc vào yếu tố sinh học mà còn chịu
ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý, xã hội khác.cho dùng thuốc.
Quan điểm của y học lâm sàng: cá nhân bị bệnh/ốm là do bị nhiễmkhuẩn hoặc
nhiễm vi rút.
Quan điểm của xã hội học sức khỏe: chỉ bị nhiễm vi khuẩn hoặc vi rút thì chưa
đủ điều kiện phát triển thành bệnh (được khẳng định qua nghiên cứu về bệnh lao
phổi).
Quan điểm chủ chốt của các nhà xã hội học sức khỏe là chính các đặc điểm xã
hội của cá nhân mới là yếu tố quyết định sức khỏe của họ.
Khi gặp một người bệnh, các nhà xã hội học quan tâm đến nhóm xã hội mà cá

người dân trong thôn gắn bó với nghề trồng lúa và hoa màu. Một bộ phận nhỏ được
nhận vào làm công nhân trong nhà máy xi măng.
Thôn Sài Khê, là thôn sát với thôn Khánh Tân, với dân số khoảng 1200 người.
Tương tự với thôn Khánh Tân, do Sài Khê chỉ cách nhà máy xi măng khoảng 700m
nên cũng là thôn phải chịu nhiều ảnh hưởng từ nhà máy xi măng (chủ yếu là khói bụi
và tiếng ồn). Tuy nhiên, người dân thôn này không nhận được sự ưu tiên trong việc
xin vào làm công nhân trong nhà máy xi măng, nên phần lớn người dân gắn bó với
nghề làm ruộng, 1 bộ phận làm dịch vụ và đi làm xa nhà.
Tóm lại, đây là hai thôn phải chịu những tác động nhiều nhất từ ảnh hưởng của
nhà máy xi măng Sài Sơn. Ngoài ra còng một số thôn cũng chịu nhiều ảnh hưởng
khác là: thôn Thụy Khuê, thôn Đa Phúc và năm Trại, nhưng mức độ nhẹ hơn nhiều.
I.2 Nhà máy xi măng Sài Sơn
Công ty Cổ phần Xi măng Sài Sơn tiền thân là Xí nghiệp Xi măng Sài Sơn
được thành lập từ ngày 28/11/1958 dưới sự quản lý của Tổng cục Hậu cần Quân đội
nhân dân Việt Nam. Đây là cơ sở sản xuất xi măng lò đứng đầu tiên của Việt Nam và
là cơ sở sản xuất xi măng thứ hai của Việt Nam sau xi măng Hải Phòng.
Năm 1964, Xí nghiệp Xi măng Sài Sơn được chuyển sang khối kinh tế được sự
quản lý của Ty Kiến trúc tỉnh.
Tháng 12/1996, Xí nghiệp Xi măng Sài Sơn được đổi tên thành Công ty Xi
măng Sài Sơn.
Tháng 11/1998, Công ty Xi măng Sài Sơn đã đầu tư xong dây chuyền sản xuất
xi măng lò đứng cơ giới hoá của Trung Quốc với công suất thiết kế 60.000 tấn xi
măng/năm tại xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Tây cũ. Ngay từ năm đầu tiên vận
hành dây chuyền sản xuất mới, Công ty đã đạt được 70.000 tấn/năm vượt công suất
thiết kế. Cùng với hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001, chất
lượng sản phẩm được ổn định và nâng cao, có uy tín trên thị trường và được người sử
dụng tin dùng, nhu cầu đối với sản phẩm của Công ty ngày một tăng.
Từ năm 2002 - 2003, Công ty đầu tư thêm một dây chuyền sản xuất đồng bộ,
nâng tổng công suất thiết kế của hai dây chuyền lên 120.000 tấn/năm. Tổng vốn đầu
tư của dây chuyền thứ hai bằng 1/3 vốn đầu tư dây chuyền thứ nhất. Do đó, chi phí

thì những hạt bụi mịn và nhỏ vẫn len lỏi vào từng nhà, phủ trắng nền nhà và tất cả đồ
đạc kèm theo mùi khói hăng hắc, khét lẹt. Hàng chục năm qua, các hộ dân thuộc các
thôn Khánh Tân, Thụy Khuê, Đa Phúc, Năm Trại của xã Sài Sơn hiếm có một ngày
yên ổn vì phải sống chung với bụi khói phả ra từ Nhà máy xi măng Sài Sơn, kéo theo
nhiều nỗi lo về sức khỏe và môi trường. Trong đó, chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ hoạt
động của nhà máy xi măng là 2 thôn Khánh Tân và Sài Khê. Người dân ở 2 thôn này
quanh năm ngày tháng phải sống chung với khói, bụi nên bị ảnh hưởng sức khỏe rất
nhiều do bị các bệnh về mắt, đường hô hấp, tiêu hóa. Dù có bịt hết cửa lại cho đỡ bụi
thì vẫn không chắn được tiếng ồn rất khó chịu do nhà máy gây ra.
Được biết, những năm qua, lãnh đạo công ty đã có nhiều biện pháp nhằm hạn
chế ảnh hưởng đến các hộ dân xung quanh, như xây dựng ống khói cao lên, cải tạo hệ
thống xử lý nước thải nhưng chưa hiệu quả và triệt để. Thực tế cho thấy, ngoài hàng
trăm hộ dân ở thôn Khánh Tân đang trực tiếp bị khói, bụi xi măng "bủa vây", hàng
trăm hộ dân khác ở các thôn Đa Phúc, Năm Trại… của xã cũng bị ảnh hưởng nặng
nề.
Theo kết quả thu được từ 100 mẫu tại 2 thôn Khánh Tân và Sài Khê về hoạt
động của nhà máy xi măng, ta thu được kết quả sau:
Bảng 1: Đánh giá của người dân về các hoạt động của nhà máy xi măng
ảnh hưởng tới môi trường (100 mẫu)
Hoạt động Số người lựa chọn Tỉ lệ (%)
Xả khói bụi 90 90
Gây tiếng ồn 83 83
Xả nước thải 63 63
Hoạt động khác 03 03
Bảng 2: Tần suất hoạt động của nhà máy xi măng .
Hoạt động Số người lựa chọn Tỉ lệ (%)
Cả ngày đêm 89 89
Chỉ làm ca ngày 3 3
½ ngày 8 8
Khác 00 00

Khó khăn trong giao
thông, đi lại
46 46
Tác động xấu tới sức
khỏe
73 73
Khác 13 13
Từ kết quả trên cho thấy, môi trường sống của người dân trong vùng phải chịu
những ảnh hưởng tầm trọng từ hoạt động của nhà máy xi măng. 94% người được hỏi
cho rằng: hoạt động của nhà máy xi măng khiến môi trường bị ô nhiễm, 73% cho
rằng hoạt động của nhà máy xi măng gây nên hoặc làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tật
của họ. Tiếp theo là những ảnh hưởng đến cảnh quan (68%), tiếp theo là “gây khó
khăn trong đi lại” 46%.
Các số liệu trên đã cho thấy những ảnh hưởng của nhà máy xi măng là như thế
nào, trong đó, “khói bụi” chính là nguyên nhân gây ra nhiều hậu quả nhất. Đây cũng
là yếu tố có phạm vi ảnh hưởng rộng, do dễ phát tán và bị các yếu tố tự nhiên tác
động đến như gió, mưa. Hơn nữa, khói bụi cũng là yếu tố góp mặt ở mọi biểu hiện
ảnh hưởng đến môi trường. Trong khi đó, mức độ ảnh hưởng trong giao thông, đi lại
mặc dù được khá nhiều người lựa chọn, nhưng mức ảnh hưởng lại chỉ đứng thứ ba.
Điều này gắn với vị trí nhà dân và tầm ảnh hưởng của nhà máy, khi người dân ở gần
nhà máy, mức độ ảnh hưởng nặng nề hơn, nên họ thường phải đối mặt với nhiều hình
thức ảnh hưởng khác nhau.
2.2 Ảnh hưởng của hoạt việc xả thải của nhà máy xi măng đến môi trường sống.:
Với 100% người lựa chon cho rằng, “hoạt động của nhà máy xi măng ảnh
hưởng đến môi trường sống của họ” đã mô tả hình ảnh môi trường sống của một vùng
quê chịu nhiều ảnh hưởng từ hoạt động công nghiệp nặng.
Việc đánh giá những tác động đến môi trường sống muốn được làm rõ cần
được phân tích sâu vào các khía cạnh của vấn đề. Theo định nghĩa, môi trường sống
bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Để phân tích cụ thể được vấn đề
đặt ra, cần phải làm rõ được mức độ ảnh hưởng của nhà máy xi măng đến từng thành

56
43
3
0
20
40
60
80
100
khói
bụi
tiếng
ồn
nước
thải
mùi hôi
thồi
khác
3-D Column 1
Thông qua biểu đồ, có thể thấy rõ, nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi
trường khói bụi (94%) tiếp theo là nước thải (56%). Tiếng ồn 51%, mùi hôi thối 43 %
và cuối cùng là các nguyên nhân khác, bao gồm sỉ than, vật liệu rơi… chiếm 3%.
Để làm rõ và phân tích cụ thể được vấn đề đặt ra, cần phải làm rõ được mức
độ ảnh hưởng của nhà máy xi măng đến từng thành phần của ô nhiễm môi trường.
o Ô nhiếm môi trường không khí:
Với sự ảnh hưởng rất lớn từ khói bụi, cùng với các yếu tố khác, môi trường
không khí trong vùng được người đánh giá là rất trầm trọng. Từ bảng 4 ta có thể thấy
90% là tỉ lệ người lựa chọn cho rằng, không khí trong vùng họ sinh sống đang bị ô
nhiễm trầm trọng.
Một thực tế là, nếu chỉ cần đứng ở một vị trí không bị khuất tầm nhìn, thì dù

đó, tỉ lệ lựa chọn câu trả lời là ảnh hưởng rất nhiều lớn nhất với 63%, tiếp theo là ảnh
hưởng nhiều với 31 %. 6% là tỉ lệ cho rằng ô nhiễm không khí chỉ ảnh hưởng ít,
nhóm này chủ yếu tập trung vào những gia đình nằm xa nhà máy xi măng nhất.
Một người dân được hỏi về tình trạng ô nhiễm không khí ở địa phương trả
lời: Hàng ngày mỗi khi ra khỏi nhà là mọi người phải dùng đến khẩu trang. Khi nhà
máy hoạt động, khói bụi tràn xuống, không khí nơi đây mù mịt và âm u hẳn đi. Có khi
hai người đứng cách xa 12 - 15m không thể nhìn thấy nhau". (Nữ, 36 tuổi, thôn
Khánh Tân)
Hay: “Mới tháng trước tôi vừa quét dọn trên này. Chỗ bụi này là mới hình
thành. Cứ 3 tuần đến 1 tháng là tôi phải tôi phải quét dọn 1 lần". (Nam. 58 tuổi,
người làng Khánh Tân)
Những câu trả lời của người dân một lần nữa cho thấy rõ hơn tình trạng ô
nhiễm môi trường tại địa phương.Điều đó đã góp phần minh chứng cho sự ô nhiễm
không khí nơi đây.
Tóm lại, với việc xả khí thải, nước thải cùng với khói bụi từ các phương tiện
cơ giới làm việc trong nhà máy đã khiến bầu không khí nơi đây trở nên ô nhiễm trầm
trọng.
o Ô nhiễm môi trường nước
Nhiều đời nay, người dân tại xã Sài Sơn đã quen sử dụng nước mưa cho sinh
hoạt, ăn uống. Nguồn nước ngọt đồng thời cũng là yếu tố quan trọng trong công tác
sản xuất, do đa số người dân trong vùng gắn bó với nông nghiệp. Tuy nhiên, tác động
của nhà máy xi măng đã khiến cho nguồn nước nơi đây bị ô nhiễm, đặc biệt là đối với
các khu dân cư nằm sát với nhà máy xi măng.
Mỗi khi mưa, phải đợi ít nhất là nửa giờ đồng hồ, chúng tôi mới dám bắc ống
hứng nước mưa vào bể để sử dụng. Đồng thời tôi còn phải làm hệ thống bể lọc nữa.
Chứ cứ để vậy mà ăn thì sợ bệnh lắm. Làng này từ trước đến nay ối người ung thư
đấy…”(nam 55tuổi, thôn Khánh Tân) Một người dân khi được hỏi về tình hình ô
nhiễm nguồn nước ở địa phương trả lời.
Hay: Cháu nhìn cái ao trước mắt mà xem, xung quanh nhà máy còn mấy cái
nữa đấy, từng đám cặn bẩn vón cục, nổi lều phều trên mặt nước, người dân cũng

30m, điểm xa nhất là 800m, nên những ảnh hưởng do tiếng ồn từ máy móc nhà máy
và các phương tiện cơ giới làm việc cho nhà máy đến đời sống người dân hai thôn
Khánh Tân và Sài Khê đang là một vấn đề gây bức xúc.

Trích đoạn Tạp chí XHH số 2/1993 –chuyên đề “nghiên cứu xã hội học sức khỏe”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status