KTQD
Tel: 36.280688
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
~~~~~~*~~~~~~
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN MÔI TRƯỜNG
HUYỆN GIA LÂM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Sinh viên thực hiện :
PHẠM KIỀU CHINH
Lớp :
KINH TẾ & QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
MSSV
:
CQ490228
Giáo viên hướng dẫn :
TS. NGUYỄN HỮU ĐOÀN
Cán bộ hướng dẫn :
LƯƠNG VĂN THÀNH
KTQD
Tel: 36.280688
Hà nội, 5 - 2011
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện, không sao
chép, cắt ghộp cỏc báo cáo hoặc luận văn của người khác; nếu sai phạm tôi xin chịu
kỷ luật với Nhà trường.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
QCVN 09-
2008/BTNMT
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng nước ngầm
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1.a.Hiện trạng dân số theo đơn vị hành chính 25
Bảng 2.1.b.Hiện trạng cơ cấu dân số, lao động, nghề nghiệp 26
Bảng 2.2.a.Cơ cầu kinh tế 2006-2010 28
Bảng 2.2.b. Làng nghề huyện Gia Lâm 29
Bảng 2.3.Tổng hợp hiện trạng hạ tầng kỹ thuật huyện gia lâm 33
Bảng 3.2. Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất của huyện Gia Lâm 37
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Bảng 2.1.a.Hiện trạng dân số theo đơn vị hành chính 25
Bảng 2.1.b.Hiện trạng cơ cấu dân số, lao động, nghề nghiệp 26
Bảng 2.2.a.Cơ cầu kinh tế 2006-2010 28
Bảng 2.2.b. Làng nghề huyện Gia Lâm 29
Bảng 2.3.Tổng hợp hiện trạng hạ tầng kỹ thuật huyện gia lâm 33
Bảng 3.2. Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất của huyện Gia Lâm 37
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TÁC ĐỘNG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN MÔI TRƯỜNG
HUYỆN GIA LÂM- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
1
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là tập trung nghiên cứu quá trình đô thị hóa của huyện Gia
Lâm, phân tích, đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến môi trường huyện.
Đánh giá thực trạng môi trường, nguy cơ ô nhiễm môi trường trong tương lai từ đó
đề xuất các giải pháp trước mặt cũng như lâu dài để hạn chế vấn đề ô nhiễm môi
trường trên địa bàn huyện Gia Lâm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu qua trình đô thị hóa huyện Gia Lâm và tác động của
quá trình đô thị hóa đến môi trường huyện trong giai đoạn 2005-2010 ( sau khi tách
quận Long Biên ).
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp sử dụng trong quá trình nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập số liệu, xử lý thông tin.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp duy vật biện chứng và các phương pháp khác.
Chuyên đề tập trung nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa tới môi
trường huyện Gia Lâm. Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm 3 chương:
- Chương I: Lý luận chung về đô thị hóa và ô nhiễm môi trường
- Chương II: Thực trạng ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến môi trường
huyện Gia Lâm giai đoạn 2005-2010
- Chương III: Một số giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường trên địa bàn
huyện Gia Lâm
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
2
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ THỊ HÓA
VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
1. Khái niệm về đô thị và đô thị hóa
càng phong phú và đa dạng để tạo thế cân bằng động giữa môi trường xây dựng,
môi trường xã hội và môi trường thiên nhiên.
Đô thị hóa mang tính xã hội, tính lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số
lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành cỏc chựm đô thị.
Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế-xã hội của đô thị và nông
thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ…do
đó đô thị hóa không thể tách rời một chế độ kinh tế-xã hội.
Đô thị hóa phụ thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Ngày nay, đô thị hóa chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp với nhiều hiện tượng
và biểu hiện dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau của một xã hội hiện đại.
Đô thị hóa có hai hình thức biểu hiện là đô thị hóa theo chiều rộng và đô thị hóa
theo chiều sâu. Đô thị hóa theo chiều rộng tức là đô thị hóa diễn ra tại các khu vực
trước đây không phải là đô thị. Đó là quá trình mở rộng quy mô diện tích các đô thị
hiện có dựa trên cơ sở hình thành các đô thị mới. Với hình thức này, dân số và diện
tích đô thị không ngừng gia tăng, các hoạt động phi nông nghiệp và các hoạt động
kinh tế đô thị không ngừng mở rộng. Sự hình thành các khu đô thị mới dựa trên cơ
sở phát triển các khu công nghiệp, thương mại và dịch vụ ở vùng nông thôn và
ngoại ô. Đô thị hóa theo chiều rộng là hình thức phổ biến hiện nay ở các nước đang
phát triển trong thời kỳ đầu.
Đô thị hóa theo chiều sâu là quá trình hiện đại hóa và nâng cao các đô thị hiện
có. Mật độ dân số có thể tiếp tục tăng cao, phương thức và các hoạt động kinh tế
ngày càng đa dạng, thực lực khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng tăng cường,
hiệu quả kinh tế và xã hội ngày càng được cải thiện và nâng cao.
Ở các nước phát triển đô thị hóa đặc trưng cho sự phát triển các nhân tố chiều
sâu (điều tiết và khai thác tối đa các ích lợi, hạn chế bất lợi của quá trình đô thị
hóa). Đô thị hóa nâng cao điều kiện sống và làm việc, công bằng xã hội, xóa bỏ
khoảng cách thành thị và nông thôn.
Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, đô thị hóa đặc trưng cho sự bùng nổ
về dân số, còn sự phát triển công nghiệp tỏ ra yếu kém. Sự gia tăng dân số không
dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và phát triển kinh tế. Những vấn đề như giao
tồn tại, phát triển của con người và thiờn nhiờn” ( Điều 1. Luật bảo vệ môi trường
Việt Nam).
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa sinh, sinh
học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của từng
cá nhân, từng cộng động và toàn bộ loài người trên hành tinh.
Xét theo quan điểm nghiên cứu đô thị, môi trường đô thị là môi trường sống
của con người tại khu vực đô thị. Môi trường đô thị là vấn đề quan tâm của các nhà
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
5
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quản lý, kỹ thuật, chính trị và xã hội ngay từ khi hình thành các đô thị. Tuy nhiên
mức độ quan tâm và cách thức tiếp cận mỗi thời mỗi khác.
Đô thị gắn với nền văn minh nông nghiệp mang tính chất trung tâm hành chính,
chính trị và thương mại. Đô thị của nền văn minh nông nghiệp có dân số không lớn,
số lượng ít ( 5% đến 15% dân số), lại chỉ sản xuất tiểu thủ công nghiệp và sử dụng
ít tài nguyên. Đô thị văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp khác hẳn đô thị văn
minh nông nghiệp về mặt quy mô, tính chất hoạt động sản xuất, cách thức sủ dụng
tài nguyên và tất nhiên là về môi trường và hệ sinh thái.
Lịch sử phát triển của đô thị và đô thị cho thấy chính cuộc cách mạng công
nghiệp đã làm cho vấn đề môi trường đô thị được quan tâm theo một giác độ mới.
Đó là vấn đề môi trường đô thị gắn với sử dụng tài nguyên, quản lý môi trường sinh
thái đô thị và phát triển bền vững. Cuối thế kỉ XVIII và đầu thế kỷ XIX, dân cư tập
trung tại các đô thị châu Âu làm cho điều kiện vệ sinh giảm sút nghiêm trọng. Ô
nhiễm do thiếu thốn hệ thống vệ sinh và nước sạch là nguyên nhân của các đại dịch
tả, thương hàn làm chết hàng chục vạn người. Trước bối cảnh đó, việc quy hoạch và
quản lý môi trường được đặt ra và đã xây dựng cách tiếp cận mới về môi trường đô
thị và quản lý môi trường đô thị.
Môi trường đô thị là môi trường xây dựng mang tính nhân tạo nhiều hơn là tự
nhiên, có nghĩa là để tạo dựng môi trường sống cho mình ở đô thị, con người biến
đổi tự nhiên cho phù hợp với điều kiện sống và làm việc. Dù biến đổi ra sao thì môi
- Môi trường xã hội
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người.
- Môi trường nhân tạo
Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố do con người tạo nên, làm thành
những tiện nghi cho cuộc sống của con người như ô tô, máy bay, công viên, khu
vui chơi giải trớ…….
* Theo thành phần
- Phân loại theo thành phần của tự nhiên:
+ Môi trường không khí
+ Môi trường đất
+ Môi trường nước
- Phân loại theo thành phần của dân cư sinh sống
+ Môi trường thành thị
+ Môi trường nông thôn
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
7
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.3. Các nhân tố tác động đến môi trường đô thị
Đô thị hóa tác động trực tiếp đến môi trường đô thị. Quá trình đô thị hóa gắn
liền với quá trình công nghiệp hóa, tăng quy mô, mật độ dân số, tăng trưởng kinh tế.
Thiên nhiên đô thị bị biến đổi mạnh mẽ dưới áp lực cuộc sống công nghiệp. Sự biến
đổi các thành phần môi trường theo hướng xấu đi trong quá trình đô thị hóa của các
nước trên thế giới là một hiện tượng mang tính quy luật không thể phủ nhận, đặc
biệt với các nước đang phát triển. Mức độ và tốc độ xuống cấp của môi trường tùy
thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế và chính sách bảo vệ môi trường cuat mỗi quốc
gia. Theo quy luật chung thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì nguy cơ xuống
xấp môi trường càng lớn. Khi kinh tế chưa phát triển, thu nhập của dân cư đô thị
chưa cao thì nhận thức về vấn đề môi trường bị hạn chế.
2.3.1. Sự tăng trưởng các ngành kinh tế
Sự tăng trưởng nhanh chóng của các ngành công nghiệp làm tăng khí thải, rác
chẽ, nhiên liệu dư trong quá trình đốt, khói bụi làm ô nhiễm không khí nghiêm
trọng.Vấn đề ô nhiễm nước mặt và nước ngầm từ nhiều nguồn khác nhau do nước
thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt Nhiều ao hồ chứa bị san lấp để xây dựng các
công trình, cơ sở hạ tầng.
2.3.4. Khai thác tài nguyên
Quá trình đô thị hóa sử dụng nhiều tài nguyên, trong đó có rất nhiều tài nguyên
không thể tái tạo hoặc chậm tái tạo. Từ vật liệu xây dựng cho đến thực phẩm, nước,
không khí và đất đai, đô thị hóa không những sử dụng rất nhiều tài nguyên không
tái tạo được mà còn thải ra môi trường xung quanh những chất độc hại. Do đó, sự
tồn tại của đô thị cần rất nhiều không gian để chôn lấp chất thải và những khoảng
đệm sinh thái đủ lớn để các tài nguyên có thể tái tạo được.
Những nguồn tài nguyên quan trọng nhất là tài nguyên đất, nước bị khai thác
quá mức trong quá trình đô thị hóa.
3. Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hóa và ô nhiễm môi trường
3.1. Đô thị hoá và ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm không khí đang là mối quan tâm lớn của các đô thị trên thế giới. Ô
nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt
là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí
hậu (hiệu ứng "nhà kính", mưa axớt và suy giảm tầng ụzụn), Công nghiệp hoá
càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không
khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu
càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng.
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
9
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ô nhiễm không khí ở đô thị chủ yếu do khí thải, khí đốt các nhiên liệu hóa
thạch, gồm ba hoạt động chính: giao thông cơ giới, công nghiệp và từ sinh hoạt.
Đặc biệt, các nước đang phát triển như Việt Nam có tốc độ tăng lượng xe cơ giới
nhanh.
tăng từ 2 - 5dBA do cấu trúc nhà ống, liền kề, bám dọc theo các tuyến đường. Sự bố
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
10
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trí không hợp lý các khu chức năng trong đô thị làm nghiêm trọng thêm ô nhiễm
tiếng ồn, nhất là đối với trường học, bệnh viện, công sở, và khu dân cư. Hầu hết các
trục đường lớn ở các đô thị đều có mức tiến ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Tiếng
ồn là nguyên nhân làm giảm tuổi thọ và gia tăng các chứng bệnh về thần kinh.
Ở Việt nam, Công nghiệp cũ (được xây dựng trước năm 1975) đều là công
nghiệp vừa và nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, một số cơ sở sản xuất có thiết bị lọc
bụi, hầu như chưa có thiết bị xử lý khí thải độc hại. Nói chung, công nghiệp cũ
không đạt tiêu chuẩn về chất lượng môi trường. Công nghiệp cũ lại rất phân tán, do
quá trình đô thị hoá, phạm vi thành phố ngày càng mở rộng nên hiện nay phần lớn
công nghiệp cũ này nằm trong nội thành của nhiều thành phố. Ví dụ ở thành phố Hồ
Chí Minh, không kể các cơ sở thủ công nghiệp, có khoảng 500 xí nghiệp trong tổng
số hơn 700 cơ sở công nghiệp nằm trong nội thành, ở thành phố Hà Nội có khoảng
200 xí nghiệp trong tổng số khoảng 300 cơ sở công nghiệp nằm trong nội thành.
Trong các năm gần đây nguồn ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp nằm trong nội
thành có phần giảm bớt do các tỉnh, thành đã tích cực thực hiện chỉ thị xử lý triệt để
các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nằm xen kẽ trong các khu dân cư.
Vấn đề đặt ra là chi phí trả để chữa trị những căn bệnh trực tiếp do ô nhiễm
không khí gây nên có lợi hơn lợi nhuận thu được do sử dụng tràn lan xe cơ giới,
công nghiệp rẻ tiền không bảo vệ môi trường không khí. Để tính được chi phí cơ
hội nếu đầu tư vào các biện pháp khắc phục môi trường thay vì phải chi cho chữa trị
bệnh cho cộng đồng và những mất mát khác của môi trường không hề đơn giản.
Thêm vào đó, xã hội không sẵn sàng trả cho những chi phí mà hậu quả nếu không
có nó là không rõ ràng hoặc khó tính toán chính xác.
3.2. Đô thị hoá và ô nhiễm môi trường nước
Nguồn nước và môi trường nước có vai trò cực kỳ quan trọng đối với đô thị.
Bất kỳ một đô thị nào cũng phải có nguồn nước đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt,
quy mô nhỏ không đủ sức đầu tư cho xử lý. Trong khi đó, các nhà máy cũ không có
hoặc không phù hợp phần xử lý nước thải nhưng vẫn đang hoạt động vì lý do kinh
tế khá phổ biến ở Việt Nam.
Ngoài ra, các xí nghiệp nhỏ cũng gây ô nhiễm nặng cho nguồn nước bởi chỳng
khú kiểm soát và kiến thức về môi trường, an toàn rất kém. Hiện tại các xí nghiệp
cơ khí nhỏ đã thải một lượng lớn kim loại nặng, dầu và hóa chất có độ ăn mòn cao
không kém các nhà máy quy mô tập trung. Trong tương lai gần, những nhà máy có
nguy cơ ô nhiễm cao phải di dời khỏi phạm vi đô thị và những nhà máy còn lại phải
áp dụng công nghệ làm sạch đạt tiêu chuẩn cho phép. Tuy nhiên, quá trình này đòi
hỏi nhiều vốn và thời gian phu thuộc khả năng của nền kinh tế.
* ễ nhiễm do giao thông
Cùng với sự phát triển của giao thông cơ giới, vấn đề ô nhiễm nguồn nước do
dầu xả từ các phương tiện máy nổ đang đe dọa nghiêm trọng đa dạng sinh thái và
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
12
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nguồn nước ngầm. Chỉ một ml dầu thải có thể gây ô nhiễm 1000 m3 nước ngầm.
Tuy nhiên với khoảng 30 triệu xe cơ giới và hàng ngàn tàu bè các loại vẫn xả một
lượng lớn dầu thải xuống đất và nguồn nước mà chưa có chế độ kiểm soát chặt chẽ.
Kim loại nặng có trong các sản phẩm mau hỏng của xe hơi, xe máy như acquy, các
bộ phận bằng đồng, khi đưa ra bãi thải cũng gây ô nhiễm nặng nề cho môi trường
đô thị.
* ễ nhiễm do sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt bị ô nhiễm chủ yếu do hàm lượng chất hữu cơ và vi khuẩn
gây bệnh quá tiêu chuẩn cho phép. Nước thải sinh hoạt nói chung có khả năng tự
làm sạch, nghĩa là qua một thời gian lưu chuyển các vi khuẩn, vi sinh vật sẽ làm
nước trở nên an toàn cho sức khỏe.
Tuy nhiên, do mật độ tập trung dân số ở đô thị mà hàm lượng các chất hữu cơ
vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường nên nguồn nước bị ô nhiễm . Kết quả
là những dòng sông chết, mùi hôi khó chịu do nước có hàm lượng chất hữu cơ và
phố( do ô nhiễm, do không kinh tế nữa). Chúng trở thành những vùng đất kém phát
triển trong lòng đô thị. Nếu cải tạo chúng thành đất ở đảm bảo môi trường thì chi
phí rất cao; nếu đưa vào sử dụng ngay có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng
đồng.
Vấn đề mất đất do các nghĩa trang là mối lo lớn bởi truyền thống mai táng của
Việt Nam chưa thích nghi với lối sống công nghiệp. Mai táng và cải táng thường
chiếm rất nhiều đất, bằng khoảng 5 đến 10% diện tích đất ở nông thôn, khoảng 5%
diện tích đất ở đô thị. Việc hỏa táng không những tiết kiệm đất mà còn làm giảm
việc ô nhiệm đất và nguồn nước do các nghĩa trang gây ra. Nghĩa trang và mai táng
hiện đang là một vấn đề nan giải ở hầu hết các đô thị và chưa được ổn định. Hiện tại
ở nước ta có hai hình thức quỹ đất dành cho mai táng, là đất nghĩa địa và đất nghĩa
trang. Nghĩa địa là loại hình đất mai táng có nguồn gốc tự phát trong cỏc nhúm dân
cư. Loại này không có quy hoạch và thường nằm xen kẽ giữa các khu dân cư và đất
nông nghiệp. Nghĩa trang là quỹ đất mai táng hình thành do nhu cầu được xác định
của đô thị, có quy hoạch và quản lý của các cơ quan chức năng. Tại hầu hết các đô
thị, tổng diện tích đất nghĩa địa lớn hơn nghĩa trang. Tỷ lệ chiếm đất của các nghĩa
trang trên tổng diện tích đất đô thị dao động từ 0,03% đến 8,4%, nhưng phần lớn
các đô thị có tỷ lệ < 1%, nhỏ hơn so với tiêu chuẩn của các đô thị trên thế giới (tỷ lệ
chiếm đất 1 - 1,2%). Trong hầu hết các đô thị, khoảng cách từ nghĩa trang đến khu
dân cư gần nhất chỉ từ vài mét đến vài trăm mét. Thậm chí tại nhiều đô thị, khu dân
cư nằm tiếp giáp hoặc xen kẽ với nghĩa trang. Theo kết quả khảo sát đối với 38 đô
thị thì chỉ có 5 đô thị (chiếm 13%) có khoảng cách >1.500m (đạt Tiêu chuẩn Việt
Nam 4449-1987).
Việc lấn chiếm đất và chôn cất lộn xộn như vậy dẫn đến tình trạng lãng phí quỹ
đất rất lớn và khi phát triển đô thị và giao thông thường gặp phải vấn đề rất nan giải
là di chuyển và giải phóng mồ mả. Việc quy hoạch các khu nghĩa trang còn chưa
được quan tâm đúng mức, phần lớn các nghĩa trang được chọn từ các nghĩa địa đã
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
14
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2
. Các chỉ
tiêu giao thông tại các đô thị loại thấp hơn cũng nhỏ hơn nhiều so với yêu cầu cần
thiết. Diện tích các điểm đỗ xe đạt 25% song chưa có quy hoạch cụ thể. Mật độ
đường chính đạt 40%, mật độ của đường liên khu vực, phân khu vực thấp nhất chỉ
đạt 20 - 30% so với yêu cầu
Đất đai sử dụng cho đô thị có xu hướng phân tán mạnh mẽ. Điều kiện và tiêu
chuẩn quy hoạch đòi hỏi điều kiện vệ sinh, chiếu sáng và cơ sở hạ tầng làm cho nhu
cầu sử dụng đất tăng rất nhanh. Việc chuyển chức năng sử dụng đất đã làm cho hệ
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
15
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sinh thái, thảm thực vật, chế độ thủy văn thay đổi, không gian xanh bị xâm hại. Một
khi đã sử dụng làm đất ở hay xây dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp thì đất không thể
sử dụng cho canh tác nông nghiệp. Tài nguyên đất đai vì thế không tái tạo được.
mất đất nông nghiệp sẽ dẫn tới mất cân bằng về lương thực và việc thâm canh, tăng
năng suất trên diện tích đất còn lại sẽ là nguy cơ suy thoái tài nguyên này trầm trọng
hơn.
3.4. Chất thải rắn ở đô thị
Phế thải rắn là nguyên nhân chủ yếu gây nhiễm bẩn đất và nước. Môi trường
sống đô thị đòi hỏi phải quản lý chất thải rắn theo quy mô công nghiệp và tập trung,
trong khi đó truyền thống định cư, lối sống từ nền văn minh nông nghiệp chỉ xử lý
theo quy mô từng hộ gia đình.
Hầu hết thôn xóm Việt Nam không có bãi rác mà chỉ có nghĩa trang, có nghĩa là
rác thải được tái sinh, tái sử dụng ngay trong từng đơn vị hộ gia đình. Tuy nhiên đối
với đô thị phải có một hệ thống từ thu gom, vận chuyển và xử lý phế thải rắn.
Phế thải rắn ở đô thị gồm nhiều loại, từ rác thải sinh hoạt, công nghiệp, xây
dựng cho đến bệnh viện, đều có thể gây ô nhiễm cho thành phố. Chính vì vậy chúng
đều phải được đưa ra khỏi thành phố và chôn lấp, xử lý hợp vệ sinh.
Nếu rác không được thu gom hợp lý sẽ làm ô nhiễm đất, nước và không khí
các đô thị hiện đã lớn hơn số phí vệ sinh thu được. Hầu hết các đô thị Việt Nam chỉ
chôn lấp rác thô sơ, chưa có xử lý quy mô và việc thu gom, vận chuyển rác, phân
loại vẫn rất thủ công. Có thể nói việc đảm bảo điều kiện vệ sinh đô thị đối với phế
thải rắn cần đầu tư và chi phí thêm nhiều nữa mà hầu hết các đô thị của Việt Nam
hiện chưa đáp ứng được.
4. Phát triển bền vững
Đây là một khái niệm xuất hiện trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm phát triển của
các quốc gia trên thế giới từ trước đến nay, phản ánh xu thế của thời đại và định
hướng tương lai của con người.
Phát triển bền vững là sự phát triển lành mạnh, trong đó sự phát triển của cá
nhân này không làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác, sự phát triển của cá nhân
không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng, sự phát triển của cộng đồng này
không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng người khác, sự phát triển của thế hệ
hôm nay không xâm phạm đến lợi ích của các thế hệ mai sau và sự phát triển của
loài người không đe dọa sự sống còn hoặc làm suy giảm nơi sinh sông của các loài
khỏc trờn hành tinh.
Trên góc độ nghiên cứu đô thị, phát triển đô thị bền vững là phát triển đô thị hài
hòa trên cơ sở đảm bảo sự phù hợp giữa quy mô đô thị và khả năng quản lý, duy trì
sự cân bằng giữa cung và cầu trong dài hạn trờn cỏc thị trường đô thị, đảm bảo sự
cân bằng về môi trường sinh thái. Mục tiêu của phát triển đô thị bền vững là làm
cho thành phố có tính cạnh tranh hơn, công bằng hơn thông qua sự phối hợp giữa
SVTH: Phạm Kiều Chinh Lớp Kinh tế và quản lý đô thị k49
17