BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
___________________________________________________________
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI
TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC NÔNG THÔN
GIAI ĐOẠN 2011 - 2020
MÃ SỐ: ĐTĐL.2010T/38
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS Hoàng Bá Thịnh
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội 9383
Hà nội, tháng 4/2012 MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Đặt vấn đề 1
64
1. Đô thị Việt Nam trong thờ
i kỳ Đổi Mới 64
2. Một số đặc điểm đô thị hoá nước ta trong 10 năm đầu thế kỷ XXI 65
3. Một số yếu tố tác động đến quá trình đô thị hoá Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010 71
Tài liệu tham khảo chương 4 79
CHƯƠNG 5. TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT
ĐAI NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2001-2010
81
1
1
.
.Quá trì
Quá trì
n
n
h
hc
c
h
h
u
u
y
gn
n
g
g
h
h
i
i
ệ
ệ
p
pc
c
h
h
o
ođ
đ
ô
ô
h
h
o
o
á
á 81
2. Đô thị hoá, công nghiệp hoá và sử dụng đất đai năm 2010 87
3. Biến động đất đai và những tác động đối với đời sống người dân nông thôn 91
Tài liệu tham khảo chương 5 99
CHƯƠNG 6. TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN CƠ CẤU LAO
101
ĐỘNG, VIỆC LÀM VÙNG NÔNG THÔN
1. Mối quan hệ giữa đô thị hóa và phát triển kinh tế nông thôn. 101
2. Đô thị hoá tác động đến cơ cấu lao động, việc làm các vùng nông thôn giai đoạn
2000-2010
102
3. Sự chuyển dịch trong cơ cấu ngành kinh tế nông thôn 116
4. Sự chuyển dịch trong các thành phần kinh tế nông thôn 119
5. Mức độ hài lòng của người dân nông thôn về nghề nghiệp, việc làm 123
Tài liệu tham khảo chương 6 125
CHƯƠNG 7. TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN DÂN SỐ ĐÔ THỊ, NÔNG
THÔN
127
1. Đô thị hoá và xu hướng nhân khẩu học. 127
2. Vài nét về dân số nông thôn thế giới trong quá trình đô thị hoá 128
3. Đô thị hoá và xu hướng biến đổi dân số nông thôn, đô thị ở Việt Nam 129
Tài liệu tham khảo chương 7 151
CHƯƠNG 8. ĐÔ THỊ HÓA TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA – XÃ HỘI
NÔNG THÔN
đ
đ
ô
ôthị hó
thị hó
a
ađế
đế
n
nc
c
ấ
ấ
u
ut
t
r
t
t
h
h
ô
ô
n
n 167
Tài liệu tham khảo chương 8 173
CHƯƠNG 9. MỘT SỐ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
175
1. Bất bình đẳng trong quá trình đô thị hóa 175
2. Đô thị hoá và những tác động tiêu cực đến phát triển nông thôn 179
Tài liệu tham khảo chương 9 188
CHƯƠNG 10. DỰ BÁO XU HƯỚNG ĐÔ THỊ HOÁ VIỆT NAM
191
1. Dự báo xu hướng đô thị hoá và phát triển Việt Nam 191
2. Dự báo phát triển nông thôn giai
đoạn 2011-2020 203
Tài liệu tham khảo chương 10 208
CHƯƠNG 11. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
209
1. Những kết luận chính 209
2. Một số bài học kinh nghiệm trong quá trình đô thị hoá ở Việt Nam 210
3. Đề xuất một số giải pháp 211
quốc gia đã được khẳng định qua thực tiễn của các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế
giới. Mức độ đô thị hóa là một chỉ báo đo trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Việc định hướng
quy hoạch và phát triển đô thị, vì thế, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển đất
nước, như phát biểu của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tại Hội nghị Đô thị Toàn quốc, ngày
6-7/11/2009 “Việt Nam sẽ chỉ có một cơ hội duy nhất để đô thị hóa đi đúng hướng. Nếu thất bại
trong đô thị hóa, chúng ta cũng sẽ thất bại trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa”.
Từ khi Đảng và nhân ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta chuyển sang nề
n kinh tế
thị trường, mở cửa và hợp tác kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã đẩy
nhanh quá trình đô thị hoá nông thôn. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến
vấn đề quy hoạch đô thị và phát triển nông thôn, điều này được thể hiện ở trong một số Văn kiện
Đảng, và quyết định của Chính phủ.
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: đã xác định quan điểm phát triển đất nước trong
giai đoạn mới, theo đó, phát triển mạng lưới đô thị phân bố hợp lý trên các vùng. Hiện đại hoá
dần các thành phố lớn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn. Không tập trung quá nhiều cơ sở
công nghiệp và dân cư vào các đô thị lớn. Khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông và ô nhiễm
môi trường. Tăng cường quản lý đô thị, nâng cao thẩm mỹ kiến trúc.
Khu vực đô thị: phát huy vai trò của các trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá trên từng vùng
và địa phương, đi nhanh trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh công
nghiệp và dịch vụ, đi đầu trong việc phát triển kinh tế tri thức. Tạo vành đai nông nghiệp hiện đại
ở các thành phố lớn.
Quy hoạch mạng lưới đô thị với một số ít thành phố lớn, nhiều thành phố vừa và hệ thống đô thị
nhỏ phân bố hợp lý trên các vùng; chú trọng phát triển đô thị ở miền núi. Xây dựng và nâng cấp
kết cấu hạ tầng đồng bộ theo quy hoạch. Đưa việc quy hoạch và quản lý đô thị vào nền nếp, ngày
2
càng xanh, sạch đẹp, văn minh. Hoàn thiện quy hoạch giao thông lâu dài, hợp lý ở tất cả các đô
thị; khắc phục tình trạng ách tắc giao thông ở các đô thị lớn. Cung cấp đủ nước sạch, thoát nước
và xử lý chất thải; xoá nhà tạm bợ. Đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng đời sống văn hoá, tinh
thần lành mạnh. (Nxb CTQG, Hà nội 2001,tr.180)
Chiến lược toàn diện về tăng trưởng xoá đói giảm nghèo (2003): đã khẳng định quan điểm về
mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp, đô thị nhằm tạo việc làm và nâng cao đời sống cho
người nghèo. Việc phát triển mạnh công nghiệp sẽ đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế,
tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, nhất là người nghèo ở đô thị và nông thôn.
Chiến lược nhấn mạnh “Phát triển và mở rộng các mối liên kết giữa công nghiệ
p và các hoạt
động tiểu thủ công nghiệp ở đô thị trên cơ sở phát triển nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các
lĩnh vực ngành nghề truyền thống, với công nghệ hiện đại, tạo sản phẩm có chất lượng cao,
không gây ô nhiễm môi trường. Mở rộng các hoạt động gia công công nghiệp từ thành thị về
nông thôn” (tr. 106). Chiến lược cũng chỉ ra sự cần thiết phải “Thiết l
ập khuôn khổ chiến lược,
chính sách tổng thể phát triển đô thị xây dựng chiến lược quốc gia về đô thị hoá” (tr.107),
đồng thời cần chú trọng “Phát triển cân đối khu vực nội - ngoại thành, tăng cường liên kết thành
thị - nông thôn thông qua các chương trình cung cấp cơ hội việc làm trong lĩnh vực công nghiệp
chế biến nông sản, thương mại và dịch vụ”.(tr. 108).
3
Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư ngày 5/8/2008 Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; với mục tiêu
“Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình
thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị
theo quy hoạch”. Từ đó, nhiệm vụ và giải pháp là “Quy hoạch bố trí lại dân cư nông thôn gắn với
việc quy hoạch xây dựng công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị ở các vùng. Thực hiện chương
trình xây dựng nông thôn mới với các tiêu chí cụ thể, phù hợp với đặc điểm từng vùng, chú ý các
xã còn nhiều khó khăn ở miền núi, biên giới, bãi ngang, hải đảo. Phát triển mạng lưới thị trấn, thị
tứ theo quy hoạch”.
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2006-
2010; đã nhận định môi trường nông thôn từng bước bị suy thoái nghiêm trọng, bệnh dịch phát
sinh trên diện rộng đặc biệt tại các làng nghề, khu công nghiệp, đang đặt ra thách thức lớn đối
với sự nghiệp phát triển nông thôn bền vững. Đặc biệt là các khu vực nông thôn gần thành phố
lớn, phải chịu sức ép về đất đai, nông nghiệp được hiện đại hoá ở trình độ nhất định; chính điều
2) Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của quá trình đô thị hoá đối với phát triển nông thôn
nói riêng và phát triển đất nước nói chung.
3) Xuất phát từ những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình đô thị hoá diễn ra ở nhiều
vùng nông thôn trong thời gian qua và sự cần thiết nâng cao vai trò quy hoạch, quản lý đô thị
ở nước ta.
4
4) Mặc dù quá trình đô thị hoá trong thời kỳ Đổi mới đã diễn ra hơn 20 năm, song đến nay
chúng ta vẫn chưa có một công trình nghiên cứu sâu và có hệ thống nào về tác động của quá
trình đô thị hoá đến phát triển khu vực nông thôn ở mức độ của một đề tài cấp Nhà nước. Đặc
biệt, chúng ta mới nhìn nhận vấn đề đô thị hoá từ góc độ kinh tế và dân số mà chúng ta chưa
nhìn nhận vấn đề ở các khía cạnh tâm trạng, thái độ, hành vi của người dân nông thôn ở các
vùng đô thị hoá. Chúng ta còn ít xem xét vấn đề đô thị hoá từ góc độ văn hoá.
5) Trong thực tiễn, có những dự án quy hoạch không thật sự cần thiết, chưa khoa học dẫn đến
những tổn thất vô cùng to lớn không chỉ về kinh tế, mà cả về niềm tin xã hội. Điển hình là
những “dự án treo”, “quy hoạch treo” hay hiện tượng đô thị hoá ào ạt với tốc độ chóng mặt
mấy năm gần đây.v.v. cho thấy sự cấp bách của đề tài cần được triển khai nghiên cứu. Những
dự án treo hoặc quy hoạch ồ ạt đã có tác động rất lớn đến đời sống của người dân nông thôn.
Bên cạnh những tác động tích cực, cũng không ít những hệ quả tiêu cực do đô thị
hoá với tốc
độ nhanh, khiến cho tâm trạng người dân nông thôn bất an, người nông dân cảm thấy ”shock”
trước những thay đổi nhanh chóng về kinh tế, văn hoá,.v.v
2. Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu, phân tích làm rõ được những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về đô thị hoá và phát triển nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
nước. Chỉ ra những tác động của quá trình đô thị hoá
đến sự phát triển của khu vực nông thôn
hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số quan điểm, định hướng về đô thị hoá và phát triển nông
thôn Việt Nam giai đoạn 2011 -2020. Cụ thể
Đề tài cố gắng phân tích về mặt lý luận các quan điểm về đô thị hoá và phát triển nông thôn
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của chúng ta hiện nay.
Đề tài cũng góp phần tổng kết kinh nghiệm của các nước, tiếp thu những bài học có thể vận dụng
thích hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam hiện nay.
Đề tài góp phần vào việc phát triển các nghiên cứu thuộc chương trình Khoa học xã hội và Nhân
văn liên quan đến vấn đề đổi mới và phát triển
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phầ
n giải quyết một số vấn đề trong nhận thức về đô thị hoá và tác động của đô thị
hoá đến phát triển vùng nông thôn.
Đề tài đề xuất giải pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hoá hiện nay,
góp phần phát triển nông thôn bền vững và nâng cao vai trò của quản lý đô thị trong bối cảnh
toàn cầu hoá.
Thực hiện đề tài sẽ giúp cho việc đ
ào tạo, nâng cao năng lực và phát triển đội ngũ cán bộ giảng
dạy và nghiên cứu về đô thị, về nông thôn và khoa học phát triển.
Đề tài giúp cho việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng chuyên môn của các giáo trình, bài giảng
về Xã hội học đô thị, Xã hội học nông thôn, về Phát triển nông thôn; về Biến đổi xã hội và phân
tầng xã hội,v.v
Đề tài được nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị không chỉ với cán bộ giảng dạy, nghiên
cứu, với sinh viên và học viên sau đại học mà còn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà
hoạch định chính sách, quản lý đô thị, quản lý nông thôn ở nước ta trong quá trình hội nhập và
phát triển.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu tác động của đô thị hóa đến phát triển vùng nông thôn là một vấn đề còn khá mới,
phạm vi rộng và nội dung phong phú với đ
a chiều cạnh. Do vậy, cần có hướng tiếp cận nghiên
cứu liên ngành, với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau trong nghiên cứu “Tác động của
luận cho việc nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát thực tiễn: do quá trình đô thị hóa ở Việt Nam mới diễn ra nhanh trong những năm 1990
trở lại đây, nên chúng ta chưa có những mô hình chuẩn về đô thị hóa để học tập. Do vậy việc
tham khảo kinh nghiệm thực tiễn về đô thị hóa nông thôn ở một số vùng miền khác nhau là rất
cần thiết. Khảo sát thực tiễn bao gồm nghiên cứu định lượng (khảo sát bằng bảng hỏi) và nghiên
cứu định tính (phỏng vấn sâu), như sau:
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: để thu thập thông tin định lượng, đề tài thực hiện khảo
sát xã hội học bằng phiếu hỏi (dung lượng mẫu 3000 hộ gia đình). Bảng hỏi được xây dựng chi
tiết, phù hợp với từng nội dung và chuyên đề
Phương pháp phỏng vấn sâu: nhằm thu thập thông tin định tính, đề tài thực hiện 80 phỏng vấn
sâu với các đối tượng là người dân, cán bộ chủ chốt địa bàn nghiên cứu, cùng với cán bộ quản lý
của các ngành chức năng liên quan đến quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Các đối tượng
phỏng vấn sâu này được chọn theo các tiêu chí giới tính, độ tuổi, trình độ văn hóa, nghề
nghiệp.v.v.
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Để phục vụ cho việc phân tích và so sánh giữa các địa
phương và các vùng/miền, đề tài đã tiến hành thu thập thông tin thứ cấp (số liệu thống kế, báo
cáo v.v) về các chỉ báo liên quan đến đất đai, dân số, nguồn nhân lực, kinh tế, công nghiệp hoá,
đô thị hoá,.vv của cấp xã, với tổng số 60 xã thuộc một số tỉnh được chọn nghiên cứu.
Phương pháp xử lý kết quả khảo sát: Thông tin định lượng sẽ được sử lý bằng phần mềm thống
kê SPSS phiên bản 16.0 dành cho các nghiên cứu khoa học xã hội. Các thông tin định tính sẽ
đựoc tập hợp, phân loại và phạm trù hoá bằng phần mềm chuyên dung cho phân tích định tính
N’Vivo
Chọn mẫu nghiên cứu: dung lượng mẫu được lựa chọn trên cơ sở sai số cho phép, sử dụng
phương pháp chọn mẫu phân tầng. Điều này cho phép vừa có thể phân tổ, vừa có thể tổng hợp
các kết quả thu được về các đối tượng khảo sát. Sử dụng kỹ thuật phân tích bảng chéo (cross–
tabular) và hồi quy đa biến (multvariate regression analysis) trong quá trình phân tích
5.3. Địa bàn nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tại 5 địa phương thuộc các trung tâm/tam giác phát triển kinh tế, nơi có tốc độ
đô thị hoá nhanh và có nhiều khu công nghiệp, như: Hà Nội; Bắc Ninh; Hải Dương; Tp. Hồ Chí
thời là những địa phương/địa điểm kinh tế - xã hội quan trọng của vùng/khu vực
Ba là, việc chọn các đại diện cho hai miền Bắc và Nam sẽ giúp cho việc phân tích, so sánh sự
tương đồng và khác biệt giữa các vùng/miền về quá trình đô thị hoá cũng như tác động của đô thị
hoá đến sự phát triển nông thôn.
Chọn một vùng nông thôn để khảo sát: đề tài chọn vùng đồng bằng sông Hồng (với Hà Nội, Bắc
Ninh, Hải Dương) làm điểm nghiên cứu chính. Các địa bàn còn lại sẽ là điểm đối chứng.
Tóm lại, đây là một nghiên cứu được thực hiện theo cách tiếp cận liên ngành giữa tâm lý học,
văn hoá học, xã hội học, kinh tế học, lịch sử, nghiên cứu giới và phát triển Cách tiếp cận liên
ngành sẽ cho phép những người nghiên cứu có cái nhìn đa diện đối với vấn đề đô th
ị hoá và tác
động của nó đến phát triển nông thôn ở nước ta hiện nay. Đề tài cũng được thực hiện cả trên bình
diện nghiên cứu lý luận lẫn nghiên cứu thực tiễn, nghiên cứu định lượng, cũng như định tính
6. Những sản phẩm chủ yếu từ kết quả nghiên cứu của đề tài
6.1. Các sản phẩm chính
Đề tài đã có được những sản phẩm chủ yếu sau đây:
Báo cáo tổng hợp nghiên cứu
Báo cáo tóm tắt đề tài
Báo cáo tổng hợp những khuyến nghị của đề tài
Hệ thống các báo cáo chuyên đề
Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của các nhánh đề tài
8
Bảng phân tích các số liệu điều tra thực tiễn 3000 đối tượng được phỏng vấn bằng bảng
hỏi
Bảng phân tích các số liệu định tính, phỏng vấn sâu.
Hệ thống các tư liệu nghiên cứu gồm các tài liệu dịch thuật, tài liệu sưu tầm tên các sách
báo khoa học
6.2. Sách và bài viết đã và sẽ được công bố
Đề tài cũng đã viết và công bố
một tập thể
những cán bộ nghiên cứu của Khoa Xã hội học, Trung tâm Nghiên cứu Dân số, Môi
trường và Các vấn đề xã hội (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia
Hà Nội), khoa Xã hội học (Đại học Bình Dương). Việc phân tích các số liệu điều tra xã hội học,
số liệu thống kê của đề tài được tiến hành tại Trung tâm Nghiên cứu Dân số, Môi trường và Các
vấn đề xã hội (Tr
ường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội) 9
CHƯƠNG I
KHÁI NIỆM ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
1. Khái niệm đô thị và đô thị hoá
1.1. Đô thị
1.1.1 Định nghĩa đô thị qua lăng kính xã hội học.
Người ta bàn nhiều về đô thị, đô thị hoá và đã có nhiều nghiên cứu xã hội học về đô thị,
nhưng có một điểm đáng chú ý rằng, từ cách tiếp cận xã hội học thì khó có thể tìm thấy
khái niệm đô thị. Trong một số cuốn từ điển tiếng Anh đều không có thuật ngữ đô
thị(urban), mà chỉ đề cập đến một vài thuật ngữ có liên quan như: xã hội học đô thị
(Urban Sociology), lối sống đô thị (Urban way of life), thuyết đô thị (urbanism)
1
,đô thị
hoá(urbanization), thuyết quản lý đô thị (urban managerialism)
2
; đô thị sinh thái (Urban
ecology)
3
Trong các cuốn sách nghiên cứu về đô thị, giáo trình Xã hội học đô thị được xuất bản ở
Ví dụ như: Gordon Marshall (1994). The concise Oxford Dictionary of Sociology, Oxford University Press.
David J and Julia L.(1991). The Happer Collins Dictionary of Sociology; HarperPerennial.
Bryan S. Turner (2006). The Cambridge Dictionary of Sociology; Cambridge University Press.
3
Tại Hội thảo “Tác động của quá trình đô thị hoá… Những vấn đề lý luận và phương pháp tiếp cận”, ngày
25/8/2011, có ý kiến cho rằng cần dịch là “sinh thái học đô thị”.
10
nào mà nhân vật đứng đầu quốc gia và các chư hầu, bằng cách đem đổi thu nhập của mình (sản
phẩm thặng dư) lấy lao động, đã chi phí khoản thu nhập ấy với tư cách là quỹ lao động”.
4
Một trong những tiêu chí để xác định đô thị là quy mô dân số của đô thị. Tuy nhiên,
trong tiêu chí này, cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia.
Nếu như ở Anbani và New Zealand, một khu vực địa lý chỉ với dân số từ 400 người đến
1000 người là được xác định là đô thị, trong khi đó quy mô này ở các nước châu Âu lại
khác, như 1500 người với Ireland; 2000 người đối với nước Pháp, Israel, và Achentina;
5000 người đối với nước Bỉ và Ghana; và 10.000 người đối với Ai Cập và Senegal.
Ngược lại, ở Đan Mạch và Thuỵ Điển, chỉ cần 200 người ở một khu vực địa lý là được
phân loại là đô thị. Với nước Mỹ, theo sự phân loại của Phòng điều tra nếu có ít nhất
2500 người thì được xác định là đô thị, con số này cũng là dân số tối thiểu để xác định
đô thị ở các n
ước Mexico và Venezuela (Stanley và cs, 1993:3). Còn ở Việt Nam, quy
mô dân số đô thị được quy định khác nhau tuỳ theo loại đô thị, với mức độ tối thiểu
4000 người (đô thị loại V) hoặc từ 5 triệu người trở lên (đô thị loại đặc biệt)
Với những thông tin trên đây, có thể thấy rằng mặc dù quy mô dân số là một tiêu chí cơ
bản để xác định đô thị, nhưng không có sự nh
ất quán giữa các quốc gia về số lượng dân
cư cho một đô thị. Mà điều này tuỳ thuộc quy định của mỗi quốc gia. Không có một
định nghĩa chuẩn về khu vực thành thị. Liên hợp quốc khuyến nghị các nước tự xác định
11
gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội
thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”.
1.1.3. Phân loại đô thị
Theo chúng tôi, có hai tiêu chí quan trọng để phân loại đô thị: đó là quy mô dân số và chức năng
của đô thị.
Theo quy mô dân số, thường có đô thị loại nhỏ, đô thị loại trung bình, đô thị loại lớn và siêu đô
thị (từ 8 triệu dân trở lên). Trên thế giới, đến năm 2015 sẽ có 22 siêu đô thị (các thành phố hoặc
địa điểm tập trung trên 8 triệu dân) và 475 thành phố với dân số trên 1 triệu người.(Frannie,2006)
Ở Việt Nam, theo quy định của Chính phủ, thì quy mô dân số đô thị được phân thành 4 loại: đô
thị rất lớn (trên một triệu dân), đô thị lớn (35 vạn - 1 triệu dân), đô thị trung bình (3 vạn - 10 vạn
dân), đô thị nhỏ (dưới 3 vạn dân).
Theo chức năng của đô thị: người ta có thể phân loại đô thị kinh tế, đô thị chính trị - văn hoá.
Các chuyên gia nghiên cứu đô thị của Viện Ngân hàng Thế giới còn đưa ra khái niệm thành phố
toàn cầu. Theo định nghĩa của Taylor, thành phố alpha là những thành phố có tầm quan trọng
trên toàn cầu về bốn chức năng chính của đô thị toàn cầu (kế toán, quảng cáo, ngân hàng và dịch
vụ pháp lý quốc tế). Một thành phố beta là thành phố có tầm quan trọng toàn cầu 3 trong 4 chức
năng đó. Thành phố gamma là một thành phố có tầm quan trọng toàn cầu 2 trong 4 chức năng
đó.(Frannie,2006)
Tại Việt Nam, theo Luật quy hoạch đô thị (2009), nước ta có 6 loại đô thị bao gồm: đô thị đặc
biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V. Trước đó, tại quyết
định số 445/QĐ-TTg , ngày 07 tháng 04 năm 2009 của Thủ tướng về Phê duyệt điều chỉnh định
hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến
năm 2050 đã có sự phân loại như sau: các đô thị lớn, cực lớn (đô thị đặc biệt, đô thị loại I và II)
các đô thị trung bình và nhỏ (đô thị loại III trở lên). Theo cách phân loại này, còn có các đô thị
cực nhỏ (là đô thị loại V) vì trong các loại đô thị cực lớn, lớn, trung bình và nhỏ không thấy đề
cập đến đô thị loại V?
1.1.4. Đô thị và thành phố
Định nghĩa về một vùng đô thị biến đổi từ nước này đến nước khác. Nói chung, không có một
1.2 Đô thị hoá
1.2.1. Định nghĩa đô thị hoá
Theo các chuyên gia của Liên hợp quốc, thì “Đô thị hoá (Urbanization) là một quá trình liên
quan đến hai giai đoạn hoặc hai đặc trưng: 1) sự di chuyển của người dân từ nông thôn đến các
vùng đô thị, nơi mà con người chủ yếu làm các nghề phi nông nghiệp; và 2) sự chuyển đổi của
con người từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, với những giá trị, thái độ và hành vi của đô
thị.” Những khác biệt quan trọng của giai đoạn thứ nhất là mật độ dân số và chức năng kinh tế;
và những khác biệt quan trọng của giai đoạn thứ hai là các yếu tố xã hội, tâm lý và hành vi.
(Stanley và cs, 1993)
Theo Từ điển xã hội học Oxford định nghĩa đô thị hoá “Theo nghĩa hẹp, đô thị hoá chỉ sự tạo
thành đô thị”. (Scott và Marshall, 2005: 681). Theo từ điển Cambridge, đô thị hoá “được định
nghĩa như là sự tăng lên của bộ phận dân cư sống trong các thành phố” (Bryan, 2006:646)
Theo Từ điển Bách khoa khoa học xã hội, thuật ngữ đô thị hoá xuất hiện trong hầu hết các tài
liệu khoa học xã hội. Thuật ngữ này có hai nghĩa có mối quan hệ tương hỗ “Thứ nhất, đối với
các nhà nhân khẩu học, họ sử dụng khái niệm đô thị hoá liên quan đến sự tái phân bổ dân số giữa
các vùng nông thôn và đô thị, nhưng các nhà nhân khẩu học nghiên cứu về đô thị hoá đã thất bại
trong việc tạo nên sự chấp nhận ở phạm vi quốc tế về các tiêu chí xác định đô thị. Thứ hai, một
số các nhà khoa học xã hội khác, đáng chú ý là các nhà kinh tế học, địa lý và xã hội học, thì đô
thị hoá liên quan đến thay đổi cấu trúc hình thái học của vùng đô thị và sự phát triển của nó”
(Adam Kupper và cs, 1999:891)
Thêm nữa, trong khoa học xã hội, một trong những chủ đề nghiên cứu trọng tâm xung quanh sự
chia tách/phân tách về các nguyên nhân và ảnh hưởng của đô thị hoá như là một hiện tượng nhân
khẩu học và sự hình thành hình thái học về đô thị phức hợp rộng lớn trong thế giới phương tây
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị hoá là “quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng
sản xuất, bố trí dân cư, những vùng không phải đô thị trở thành đô thị. Tiền đề cơ bản của đô thị
hoá là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến
sinh s
ống và làm việc, làm cho tỉ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh”.
Các nhà xã hội học người Đức quan niệm đô thị hoá được dùng theo ba nghĩa khác nhau:
“1) cho sự tăng trưởng vượt quá mức trung bình số những người dân sống ở đô thị so với toàn bộ
1.2.2. Tính chất/đặc trưng của đô thị hoá
Theo các chuyên gia nghiên cứu về đô thị, thì đô thị hóa chủ yếu do các ngành nghề phi nông
nghiệp và sự biến đổi cơ cấu của nó quyết định nó có những đặc trưng về tính chất và trạng thái
sau đây: 1) Quy mô sản xuất lớn xã hội hóa và kinh tế hàng hóa phát triển, đây là cơ sở vật chất
của hình thành đô thị; 2) Nó là hệ thống khu vực xã hội dân số tập trung cao, đây là đực trưng xã
hội cơ bản của đô thị hiện đại hình thành phát triển; 3) Nó là trung tâm có quan hệ chặt chẽ với
sự phát triển khu vực, đây là điều kiện quan trọng đô thị hiện đại hình thành và phát triển, và
cũng là hình thức tồn tại chủ yếu; 4) Nó là hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có năng suất cao, sự
bảo đảm quan trọng chức năng xã hội chủ yếu của đô thị hiện đại.
Vì vậy, quá trình đô thị hóa là quá trình phát triển lịch sử, sản xuất hàng hóa xã hội hiện đại
không ngừng phát triển, dân số không ngừng tập trung, mối liên hệ giữa kinh tế đô thị với kinh tế
khu vực ngày càng chặt chẽ, tác dụng động lực xã hội của đô thị ngày càng tăng cường.
Số lượng đô thị tăng lên vừa là chỉ tiêu chứng tỏ trình độ đô thị hóa, cũng có thể từ đó phát hiện
nhiều quy luật của quá trình đô thị hóa. Đặc trưng số lượng của đô thị hóa (gồm đặc trưng không
gian) được trình bày như sau: 1) Dân số nông nghiệp của xã hội chuyển hóa nhanh chóng sang
dân số phi nông nghiệp, dân số đô thị; 2) Số đô thị và dân số đô thị trong một khu vực nhất định
không ngừng tăng lên; 3) Qui mô dân số của nhiều đô thị trong một thời kỳ nhất định tăng vọt và
nâng cấp; 4) Đô thị lớn, đô thị đặc biệt lớn và khu vực đô thị không ngừng hình thành và mở
rộng; 5) Tỷ trọng dân số đô thị so với cả nước (hoặc khu vực) không ngừng tăng lên.
Cần nói rằng chỉ tiêu tổng hợp chứng tỏ trình độ đô thị hóa là điểm (5) cuối cùng trên đây, tức là
tỉ trọng dân số đô thị chiếm trong tổng số dân số, tỉ
lệ đô thị hóa. Nhưng cũng có ý kiến khác về
vấn đề này. Một học giả Ấn Độ N.G.Fian cho rằng xác định trình độ đô thị hóa một khu vực nhất
định, nên dựa theo 4 chỉ tiêu: 1) Tỉ lệ phân trăm số dân đô thị của khu vực được đánh giá chiếm
trong dân số khu vực lớn sở tại; 2) Mật độ dân số trong các vùng của đô thị (người/km
2
); 3) Các
vùng trong đô thị lớn hay nhỏ; 4) Khoảng cách giữa các vùng đô thị.
1.2.3. Một số tiêu chí cơ bản đánh giá trình độ đô thị hoá
Theo GS.TSKH Lê Du Phong và nhóm cộng sự, có thể đưa ra một số tiêu chí cơ bản sau để đánh
Chất lượng hạ tầng kỹ thuật
- Chất lượng hạ tầng xã hội
- Kiến trúc đô thị
- Trình độ văn minh đô thị
Khi giới thiệu các tiêu chí cơ bản để đánh giá trình độ đô thị hoá như trên, các nhà khoa học
cũng lưu ý rằng “Trong các tiêu chí trên đây, có những tiêu chí ch
ỉ áp dụng khi đánh giá trình độ
đô thị hoá của các đô thị lớn, ví dụ diện tích nhà ở bình quân trên một người dân đô thị, số lượng
các trường đại học trên địa bàn. Ở các quận, phường mới thành lập, tiêu chí diện tích nhà ở bình
quân một người dân có thể cao nhưng điều đó không nói lên trình độ đô thị hoá…”(Lê Du Phong
và cs; 2002:20)
2. Nông thôn và phát triển nông thôn
2.1. Nông thôn
Trong các cuốn Từ điển xã hội h
ọc (tiếng Anh) không tìm thấy thuật ngữ nông thôn (Rural) đứng
riêng biệt (nhưng có thể tìm thấy từ làng quê/quê hương – Countryside). Cũng tương tự, thuật
15
ngữ đô thị (Urban) khó tìm thấy trong các từ điển xã hội học nước ngoài (trong khi thuật ngữ
Thành phố - City, thì lại khá phổ biến). Điều này cho thấy, việc đưa ra một khái niệm về nông
thôn không đơn giản. Cho dù, nói đến nông thôn nhiều người đều hiểu và hình dung được nông
thôn là một vùng quê như thế nào. Nhưng có thể tìm thấy các khái niệm ghép đi với nông thôn,
như: vùng nông thôn, xã hội nông thôn, cộng đồng nông thôn, đời sống nông thôn, dân số nông
thôn, gia đình nông thôn vv.
Theo các nhà xã hội học Đức, thì “Phạm trù địa lý “vùng nông thôn” qua cư trú, trở thành không
gian xã hội mà có đặc điểm riêng là có mật độ dân cư và mật độ chỗ làm việc tương đối thấp,
một tính thuần nhất địa phương nào đó về mặt cư dân và văn hoá, những cụm dân cư nhỏ, phân
tán. Ưu thế của các yếu tố địa hình tự nhiên, sống tương đối phụ thuộc vào đất đai và việc sinh
sống chủ yếu ở các căn nhà riêng cho một hoặc hai gia đình ” (G.Endruweit, 2002: 738)
2. Cao Bằng 76 12. Quảng Trị 126
3. Bắc Kạn 61 13. Quảng Nam 136
4. Tuyên Quang 124 14. Bình Thuận 150
5. Lào Cai 96
Tây Nguyên 93
6. Điện Biên 51 15. Kon Tum 44
7. Lai Châu 41 16. Gia Lai 82
8. Sơn La 76 17. Đắk Lắk 132
9. Yên Bái 107 18. Đắk Nông 75
10. Lạng Sơn 88 19.Lâm Đồng 121
Đông Nam bộ 594
20. Bình Phước 127
(Nguồn: tác giả lập bảng trên cơ sở Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009)
16
Nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được hình thành trong quá trình
phân công lao động xã hội mà ở đó mật độ dân cư tương đối thấp; lao động nông nghiệp chiếm
tỷ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy, lối sống, phương thức sống của cộng đồng
dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư thành thị.
Trên thế giới hiện nay vẫn chưa có được định nghĩa chuẩn xác và thống nhất về nông thôn, và
còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào tiêu chí phát triển của cơ
sở hạ tầng. Quan điểm khác lại cho rằng nên căn cứ vào tiêu chí trình độ tiếp cận thị trường, phát
triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn. Ý kiến khác lại căn cứ vào quy mô và mật độ dân số,
theo đó nông thôn là vùng có mật độ và quy mô dân số thấp hơn đô thị.
Hội nghị nhóm chuyên viên của Liên hợp quốc đã đề cập đến một khái niệm nông thôn – đô thị
(Continium). Có thể hiểu nông thôn – đô thị là một khu vực kinh tế hỗn hợp gồm nông thôn,
nông thị, và thành phố nối tiếp, xen kẽ nhau. Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông
nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như cầu nối giữa
nông thôn và thành thị, còn đô thị là các thành phố lớn, vừa, hoặc các khu công nghiệp tập trung.
chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.
2.2. Vùng/khu vực nông thôn
Một vùng là một khu vực của bề mặt trái đất với những điểm tương đối đồng nhất, và khác với
hàng xóm của nó theo những tiêu chí nhất định.
17
Định nghĩa và mô tả về vùng là mối quan tâm chủ đạo của các nhà địa lý học trong giai đoạn
trung tâm của thế kỷ XX.
Đối với nhiều tác giả, môi trường vật chất/ tự nhiên là yếu tố quan trọng để hiểu vùng, và rất
nhiều định nghĩa và mô tả vùng nhấn mạnh các khái niệm về thuyết quyết định môi trường - các
hoạt động của con người là điều kiện mạnh mẽ, nếu không nói là quyết định, bởi bối cảnh vật
chất của họ. Một số tác giả phân biệt giữa một “ vùng tự nhiên” với chỉ có các đặc điểm vật chất
được xác định bởi các tiêu chí, và một “vùng địa lý” với những tính chất phản ánh ứng xử của
con người với môi trường (Kuper and J. Kuper.1999: 730)
Về mặt xã hội học, vùng là một khái niệm bậc trên cho tất cả các hình thể cư trú và vượt ra ngoài
hình thức cư trú riêng lẻ tạo nên một cấu trúc nhất định và cùng với nó là một bản sắc (identity)
về mặt xã hội và văn hoá. Nó bao trùm từ làng cho tới thành phố tầm cỡ thế giới trong phạm vi
mới và cấu trúc mới (G. Endrweit và cs, 2002:868)
Vùng có thể được định nghĩa qua ba đặc điểm (B. Hamm): qua cơ sở vật chất (khu vực được
định bằng đường biên giới và những người và trang bị vật chất nằm trong đó); qua màng lưới
tương tác xã hội được phân biệt và hỗ trợ về mặt thể chế và về hình danh qua tên, hình ảnh xuất
hiện,… của vùng. Đối với việc phân biệt giữa làng và thành phố hay những nét đặc thù của cấu
trúc cư trú khác cần phải đưa thêm vào những đặc điểm bổ sung (ví dụ như dân số, mật độ dân
cư, và sự không đồng nhất về dân cư) (G. Endrweit và cs, 2002:869)
Ở nước ta, khái niệm vùng có thể thấy qua việc phân chia các vùng kinh tế - xã hội qua các cuộc
Tổng điều tra dân số và nhà ở, hoặc các cuộc điều tra định kỳ về lao động việc làm, về biến động
dân số, kế hoạch hoá gia đình. Theo cách phân chia này, năm 2009 nước ta được chia làm 6 vùng
kinh tế - xã hội.(trước đó là 7 vùng, 8 vùng)
Từ quan điểm hoặc định phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ xác định xây dựng các vùng kinh
tế trọng điểm. Theo đó, hiện nay cả nước có 4 vùng kinh tế trọng điểm, là: Vùng KTTĐ Bắc Bộ;
kỳ khác nhau. Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ quản lý, chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp lý luận hệ
thống về thuật ngữ này. Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và vận dụng thuật ngữ
này ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm
cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở
vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông
thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”. Chiến lược này cũng nhằm mở rộng phúc lợi của quá
trình phát triển cho những cư dân nông thôn, những người đang tìm kiếm sinh kế ở nông thôn.
Một số quan điểm khác cho rằng, PTNT là hoạt động nhằm nâng cao vị thế về kinh tế và xã hội
cho người dân nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực của địa phương
bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực. Phát triển nông thôn sẽ thành công khi chính người dân
nông thôn tham gia tích cực vào quá trình phát triển. Điều đó đòi hỏi chiến lược PTNT phải được
xây dựng trên nền tảng sự tự tin của họ về tài chính, sự độc lập về kinh tế, có khả năng tiếp cận
các hàng hóa, dịch vụ vật chất và tinh thần ngày càng nhiều hơn. Qua đó, tự người dân nông thôn
sẽ nâng cao vị trí của bản thân họ trong xã hội và trong quá trình phát triển của đất nước.
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Đây là một quá trình thu hút
mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng
cuộc sống của các cư dân nông thôn. Đồng thời, PTNT là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền
văn minh nông thôn, nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng
dụng khoa học và công nghệ.
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện và đa phương, bao gồm phát triển các hoạt
động nông nghiệp và các hoạt động có tính chất liên kết phục vụ nông nghiệp, công nghiệp quy
mô vừa và nhỏ, các ngành nghề truyền thống, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực
nông thôn và xây dựng, tăng cường các dịch vụ và phương tiện phục vụ cộng đồng nông thôn.
Có thể hiểu phát triển nông thôn bền vững một cách ngắn gọn là sự phát triển tập trung vào
người dân (tiếp cận từ dưới lên), đồng thời phải phát triển đa ngành và giải quyết thích đáng mối
quan hệ liên ngành (tiếp cận tổng hợp) và phát triển đảm bảo sự cân xứng với việc quản lý môi
trường (tiếp cận quả
n lý nguồn tài nguyên thiên nhiên).
Như vậy, có rất nhiều quan điểm về khái niệm về PTNT. Trong điều kiện của Việt Nam, tổng
lao động xã hội của Durkheim đã cho biết đặc điểm sinh thái xã hội dẫn đến kiểu phân công lao
động phức tạp ở thành thị và kiểu đoàn kết xã hội hữu cơ đặc trưng cho sinh thái xã hội thành thị.
Như vậy có thể thấy rõ nguồn gốc xã hội học của thuyết sinh thái xã hội về đô thị là nghiên cứu
của Durkheim về sự phân công lao động và sự phân công lao động gắn liền với dân số và các quá
trình dân số, cấu trúc dân số, phân bổ dân số trong không gian.
Nghiên cứu của Rober Park ở Mỹ cũng góp phần hình thành và phát triển thuyết sinh thái xã hội
về đô thị bởi vì Park nghiên cứu các quá trình của cộng đồng xã hội trên hai cấp độ là tiểu xã hội
(subsocial) và xã hội (social). Trên cấp độ tiểu xã hội, các cá nhân, nhóm xã hội cạnh tranh với
nhau về nơi cư trú, chỗ ở và không gian sống trong môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái.
Các nghiên cứu sinh thái xã hội hiện đại không còn quan tâm quá nhiều tới khía cạnh không gian
của cộng đồng xã hội trên cấp độ tiểu xã hội và xã hội, hay cấp độ phân công lao động đơn giản,
máy móc và phân công lao động phức tạp, hữu cơ nữa. Các nghiên cứu sinh thái học xã hội về
thành thị như Duncan, Kasarda, Berry, Theodorson và nhiều người khác quan tâm nhiều hơn tới
những vấn đề của thành thị hiện đại như sự giao lưu, sự di động xã hội, các khuôn mẫu, hình thù
của sự khu biệt hóa xã hội, sự mở rộng và lớn mạnh của thành thị về cả chiều ngang, chiều rộng
của lãnh thổ và cả chiều cao cũng như chiều sâu của thành thị. Sự hình thành các khu vực sinh
sống, kinh doanh, sản xuất, sinh hoạt ở thành thị vẫn được chú ý nghiên cứu nhưng nhữ
ng vấn đề
mới của thành thị đòi hỏi phải chú ý nhiều hơn như ỗ nhiễm môi trường, ô nhiễm thực phẩm, các
trào lưu xã hội ở thành thị và nhất là sự định hình và biến đổi các lối sống thành thị trong các khu
vực, địa bàn của thành phố.
Quan tâm của các nhà xã hội học đối với thành phố ngoài mô tả tính chất chung của đời sống đô
thị. Sinh thái học văn hóa khảo sát nhiều cách trong đó các mẫu văn hóa liên quan đến môi
trường cụ thể. Sinh thái học đô thị là phân tích sự tương tác của các thứ nguyên tự nhiên và xã
hội của đời sống đô thị. Sự đóng góp chính của sinh thái học đô thị là tìm hiểu thành phố ở bối
cảnh tự nhiên lẫn xã hội, mỗi bối cảnh đều tác động lẫn nhau.
3.1.2. Thuyết tổ chức xã hội về
thành thị
Thuyết tổ chức xã hội còn được gọi là thuyết cấu trúc xã hội (hay cơ cấu xã hội) với các biến thể
khác nhau. Trong nghiên cứu về thành thị và đô thị hóa, các tác giả của lý thuyết này thường
- Sự giảm đi tuyệt đối, hoặc di chuyển tương đối các cơ sở công nghiệp ra ngoài thành phố.
Những việc làm công nghiệp đã mất ở các vùng đô thị, trong khi đó những công việc được trả
lương cao dựa trên kỹ năng chuyên môn cao lại phát triển trong những lĩnh vực thông tin, nghiên
cứu và kinh doanh. Những người thất nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp giờ đây thường tìm việc
làm với mức lương thấp và điều kiện làm việc kém an toàn, như dọn dẹp vệ sinh, bảo vệ…vv. Sự
chuyển đổi trong sản xuất công nghiệp được thể hiện ở cả cấu trúc và không gian.
- “Sự đẩy lùi của nhà nước” (rolling back of the state), đó là ảnh hưởng của khuynh hướng kinh
tế chính trị tự do mới, khiến cho các chính phủ muốn chi tiêu với mức tối thiểu. Điều này dẫn
đến giảm các dịch vụ công cộng, không quan tâm đến những yêu cầu của liên đoàn lao động,
chuyển thị
trường lao động ảnh hưởng đến cá nhân, được thể hiện ở các hợp đồng lao động linh
hoạt và làm việc theo giờ.
Castells tranh luận rằng, những quá trình kinh tế - xã hội này tương tác lẫn nhau tạo nên hai loại
kết quả: cấu trúc và không gian (Jarvis và cs, 2001). Quá trình cấu trúc dẫn đến phát triển một xã
hội theo hình “đồng hồ cát” (hour-glass’ society) (Liepietz, 1998), trong đó người giàu trở nên
giầu hơn, người nghèo càng nghèo hơn và các tầng lớp cấp trung lưu giảm. Các lĩnh vực chuyên
môn trả lương cao được hỗ trợ bởi những nghề dịch vụ bậc thấp, và nó thường đáp ứng do những
người di cư kinh tế hơn là những lao động thất nghiệp trong sản xuất công nghiệp. Điều này dẫn
đến sự gia tăng số lượng người thất nghiệp lâu dài. “Phân cực xã hội” vì thế được xem như là hệ
quả trực tiếp c
ủa tái cấu trúc kinh tế. Thuyết cấu trúc nhị nguyên dẫn đến hệ quả, cùng lúc sự
chia tách về không gian và định hình sự khác biệt giữa tầng lớp cao trong xã hội thông tin và
những cư dân còn lại.( Castells 1989, tr. 227).
21
3.1.4. Louis Wirth “thuyết thành thị như là một lối sống” (Urbanism as a Way of Life)
Về lối sống thành thị, trước kia Simmel đã xuất bản cả một công trình có tên là “Thành phố và
đời sống tâm thần” (The Metropolis and Mental Life) năm 1903 trong đó phân tích mối quan hệ
rằng ở thành thị các cá nhân có thể có nhiều tự do hơn, được gi
ải thoát nhiều hơn khỏi sự kiểm
soát tình cảm và kiểm soát cá nhân của nhóm nhỏ nhưng cũng có thể bị mất khả năng tự thể hiện
và mất cảm giác tham gia trong lối sống của cả cộng đồng.
Kế thừa quan niệm của Adam Smith về sự chuyên môn hóa của các cá nhân trên cơ sở mở rộng
thị trường, Louis Wirth cho rằng ở thành thị các cá nhân chuyên môn hơn nhưng cũng phụ thuộc
lẫn nhau nhiều hơn và bất ổn định nhiều hơn bởi vì sự phân công lao động diễn ra mạnh mẽ.
Louis Wirth phát hiện ra một kiểu quan hệ đặc trưng cho thành thị là quan hệ gián tiếp qua trung
gian và trao quyền đại diện. Các lợi ích của cá nhân có thể được bảo vệ, thực hiện thông qua sự
đại diện. Tiếng nói của cá nhân có thể nhỏ bé đi nhưng tiếng nói của người đại diện có thể
to lớn
lên tỉ lệ thuận với số lượng người mà họ là đại diện.
Mật độ dân số: Louis Wirth nhất trí với quan niệm của Darwin và Durkheim rằng mật độ dân số
tăng sẽ tạo ra sự phân hóa và chuyên môn hóa, đồng thời làm tăng mức độ đa dạng của các hoạt
5
Louis Wirth. “Urbanism as a Way of Life” in The American Journal of Sociology. Vol. 44. No. 1. July 1938. P. 1 –
24, Ông viết: “a city may be defined as a relatively large, dense, and permanent settlement of socially
heterogeneous individuals”. Tr. 8.
22
động và tính phức tạp của cấu trúc xã hội. Theo Louis Wirth, việc sinh sống gần nhau và làm
việc cùng nhau của các cá nhân không có mối quan hệ tình cảm riêng tư trong một không gian
chật hẹp do mật độ dân số tăng tất yếu sẽ tạo ra tinh thần cạnh tranh, ganh đua và bóc lột lẫn
nhau. Để đối phó với tình trạng vô trách nhiệm, mất trật tự, mất ổn định có thể xảy ra, tất yếu sẽ
xuất hiện các hình thức kiểm soát chính thức. Đồng hồ và các chỉ báo giao thông là những biểu
tượng của nền tảng trật tự xã hội của chúng ta trong thế giới thành phố. Đồng thời, sự chật chội ở
thành thị nhưng lại xa cách về tình cảm, nhịp độ cuộc sống tăng nhanh cùng với công nghệ phức
tạp ở thành thị cũng gây ra cảm giác cô đơn, bối rối, khó chịu, căng thẳng, một trạng thái tinh
thần mà các nhà khoa học cuối thế kỷ XX gọi là “stress”.
, tương tự như cách phân loại “công ty trách nhiệm
đầy đủ” và “công ty trách nhiệm hữu hạn”. Với thuật ngữ mới là “cộng đồng trách nhiệm hữu
hạn” Janowitz (1952) muốn chỉ ra rằng ở cộng đồng thành thị người dân không sinh sống không
phải là hoàn toàn duy lý, hành động không hoàn toàn vì công việc, vì chức năng, nhiệm vụ, thiếu
tình cảm, phi – cá tính, mà vẫn có trách nhiệm với nhau mặc dù không phải là “trách nhiệm đầy
đủ”, “trách nhiệm vô hạn” như ở
cộng đồng nông thôn. Cách thành viên của “cộng đồng trách
nhiệm hữu hạn” vẫn có trách nhiệm với nhau nhưng đó là trách nhiệm có giới hạn, có chủ đích,
có tính toán và phân hóa theo từng phần, từng bộ phận tùy theo từng lĩnh vực, phạm vi hoạt động 6
Trích theo Harvey M. Choldin. Cities and suburbs: An introduction to urban sociology. Mc-Graw Hill Book
Company. New York. 1985. Tr. 271.