Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội giai đoạn 2000 2013 - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIÊN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HOÀNG TIẾN DŨNG

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA
LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2000 - 2013
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: : 60.85.01.03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐỖ VĂN NHẠ HÀ NỘI, NĂM 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i


tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn

Hoàng Tiến DũngHọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1. Đô thị hóa và các vấn đề liên quan 3
1.1.1 Một số khái niệm về đô thị và đô thị hoá 3
1.1.2 Những biểu hiện cơ bản của đô thị hoá 6
1.1.3 Đặc điểm của đô thị hoá 8
1.1.4 Tác động của quá trình đô thị hoá đối với kinh tế - xã hội 9

3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường 38
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm 42
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 51
3.2. Thực trạng phát triển đô thị và đô thị hoá ở huyện Gia Lâm 52
3.3. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp 58
3.3.1. Ảnh hướng của đô thị hóa đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp 58
3.3.2. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng 61
3.3.3. Ảnh hưởng của đô thị hoá đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 65
3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp dưới tác động của đô thị hóa và phát triển đô thị 83
3.4.1 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa 83
3.4.2 Một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả trong quá trình đô
thị hóa 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
1. Kết luận 90
2. Kiến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 CPTG Chi phí trung gian
2 ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
3 GTGT Giá trị gia tăng = GTSX - CPTG.
4 GTGT/LĐ Giá trị gia tăng trên 1 công lao động
5 GTSX Giá trị sản xuất = năng xuất x giá bán.
6 GTSX/LĐ Giá trị sản xuất trên 1 công lao động

và năm 2013 75
Bảng 3.12 Tổng hợp hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất năm 2005 và
năm 2013 77
Bảng 3.13 Mức sử dụng phân bón của một số cây trồng năm 2005 và năm 2013 79
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Sự biến động đất ở đô thị huyện Gia Lâm giai đoạn 2000 - 2013 53
Hình 3.2 Cơ cấu sử dụng đất huyện Gia Lâm giai đoạn 2000 - 2013 54
Hình 3.3 Cơ cấu đất nông nghiệp huyện Gia Lâm giai đoạn 2000 - 2013 60
Hình 3.4. So sánh một số loại hình sử dụng đất năm 2005 và 2013 63
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra ở tất cả các nước trên thế giới, nhất là
các nước đang phát triển. Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra
với tốc độ ngày càng nhanh. Công nghiệp hóa và đô thị hóa là hai quá trình phát
triển tất yếu và diễn ra song song trong quá trình phát triển . Đô thị hóa là hệ quả
của công nghiệp và trở thành mục tiêu của mọi nền văn minh trên thế giới, nó góp
phần đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đã và đang thực hiện
sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước làm cho bộ mặt đất nước có
nhiều thay đổi. Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, nhất là khu vực ngoại ô và
gần các thành phố lớn. Có thể nói, đô thị hóa là quá trình tất yếu trong phát triển
kinh tế - xã hội và là xu thế tích cực tạo nên động lực mới cho nền kinh tế đất nước.

nghiệp của huyện Gia Lâm.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm định hướng sử dụng đất nông nghiệp hiệu
quả trên đia bàn huyện Gia lâm.
3. Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần bổ sung lý luận về nghiên cứu quá trình đô thị hóa và các tác
động của nó đến sử dụng đất nông nghiệp.
- Góp phần đánh giá hướng sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nông dân
dưới tác động của quá trình đô thị hóa.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Đô thị hóa và các vấn đề liên quan
1.1.1 Một số khái niệm về đô thị và đô thị hoá
1.1.1.1. Khái niệm về đô thị
Đô thị là khái niệm được xuất hiện từ khá lâu và được quan tâm nghiên cứu
trong vài chục năm trở lại đây.
Thuật ngữ “đô thị” bắt nguồn từ tiếng La Tinh: Urbanus - thuộc về đô thị,
Urban – thành thị, đô thị, châu thị, “Đô thị là một khái niệm cơ bản và được sử
dụng khá thống nhất ở các quốc gia, nhằm chỉ những nơi có dân cư đông đúc, sinh
sống bằng các nghề phi nông nghiệp”.
Theo G.S Harold Chestnut trường đại học kỹ thuật Preden (Liên bang Mỹ):
“Đô thị là các điểm dân cư ở đó biểu hiện quá trình kinh tế - xã hội - kỹ thuật gắn

văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân
cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi
trường, cảnh quan thiên nhiên.
Phân loại đô thị: Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I,
loại II, loại III, loại IV và loại V, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định
công nhận. Các đô thị phân loại dựa trên sự khác biệt về chức năng kinh tế, qui mô
dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, hệ thống công trình hạ tầng
đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị. Trong đó các chỉ tiêu về dân số là cơ sở chủ
yếu để phân loại đô thị.
+ Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. Đô thị loại đặc biệt đa chức năng,
với quy mô dân số từ 5 triệu người trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành từ
15000 người/km
2
và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 90% tổng số lao động.
+ Đô thị loại I là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành,
huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc với quy mô dân số từ 1 triệu
người trở lên, mật độ dân số tối thiểu là 12000 người/km
2
. Đô thị loại I là thành phố
thuộc tỉnh có các phường nội thành, các xã ngoại thành có quy mô dân số từ 500000
người trở lên, mật độ dân số từ 10000 người/km
2
trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp tại đô thị loại I phải trên 85%.
+ Đô thị loại II có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp phải từ 80% trở lên. Nếu là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

đô thị trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số từ 800000 người trở lên, mật độ dân

Đô thị hoá là quá trình tập trung dân cư đô thị. Đồng thời đó là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi
nông tăng. Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị mở rộng. Trong đó
dân cư đô thị là một điểm dân cư tập trung phần lớn những người lao động phi nông
nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị.
Đô thị hoá là quá trình kinh tế - xã hội mà biểu hiện của nó là sự tăng nhanh
về số lượng và quy mô của các điểm dân cư đô thị, sự tập trung của dân cư trong
thành phố, nhất là các thành phố lớn, là sự phổ biến rộng rãi lối sống nơi thành thị.
Đô thị hoá là một quá trình định cư của dân số nông nghiệp sang phi nông
nghiệp, với những chỉ số biểu trưng như: tỷ số dân số đô thị tăng lên trong khi tỷ lệ
dân số nông thôn giảm đi kèm theo sự mở rộng diện tích và không gian của của các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

đô thị đã có và sự xuất hiện các đô thị mới.
Đô thị hoá là sự biến đổi toàn diện kinh tế - xã hội nhiều mặt, trên cái nhìn
hẹp hơn đó là hiện tượng dịch cư nghề nghiệp từ lĩnh vực nông nghiệp sang phi
nông nghiệp với tất cả các hệ quả của nó. Và đô thị hoá là quá trình kinh tế - xã hội
tất yếu sẽ xảy ra mà không ngoại trừ bất kỳ quốc gia nào.
Có thể tổng quát rằng đô thị hoá là một quá trình:
- Làm gia tăng dân số đô thị (% so với tổng số dân-tỉ lệ đô thị hoá và tăng
tuyệt đối số dân đô thị) do chuyển dịch dân cư nông thôn vào các đô thị và qua đó
làm tăng quy mô dân số của các đô thị.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế-xã hội, hoàn thiện và nâng cao điều kiện sống,
phong cách sống đô thị theo hướng hiện đại, văn minh.
- Làm chuyển hoá diện mạo và tính chất của các điểm dân cư nông thôn
thành các đô thị hay theo kiểu đô thị.
Như vậy quá trình đô thị hoá không chỉ tác động ảnh hưởng đến các đô thị
mà còn đến sự phát triển của các điểm dân cư nông thôn theo hướng đô thị (đô thị
hoá nông thôn).

City – Mexico; Sao Paulo – Brazil; New Delhi – Ấn Độ; Thượng Hải – Trung
Quốc, Concata – Ấn Độ; Jakarta – Indonesia; Dhaka – Bangladesh).
Trong những năm gần đây, dân số đô thị tại các nước đang phát triển tăng
nhanh hơn các nước phát triển, làm cho sự cách biệt dân số đô thị giữa hai nhóm
nước có sự thay đổi rõ rệt: dân số đô thị tại các nước đang và kém phát triển chiếm
hơn 75% dân số đô thị toàn thế giới (năm 2009) (Trần Thị Bích Huyền, 2011).
1.1.2.3 Lãnh thổ đô thị mở rộng
Quá trình đô thị hóa ngày càng phát triển. Các đô thị chiếm một diện tích
không nhỏ của Trái Đất. Diện tích các đô thị hiện nay chiếm khoảng 3 triệu km2
(hơn 2% diện tích các lục địa và 13% diện tích đất có giá trị sử dụng cao – đất canh
tác nông nghiệp). Hiện nay, đô thị ngày càng phát triển các tuyến đường giao thông,
các khu công nghiệp, khu dân cư, khu thương mại, khu giải trí nhằm phục vụ nhu
cầu sản xuất và sinh hoạt ngày càng cao của người dân. Nhu cầu mở rộng diện tích
đất ở, đất khu công nghiệp, đất công trình công cộng tăng cao. Do đó, diện tích đất
đô thị không ngừng mở rộng. Đô thị phát triển phình to ra ngoài ranh giới hiện có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

để đáp ứng sự gia tăng dân số và sản xuất của đô thị.(Trần Thị Bích Huyền, 2011)
1.1.2.4 Phổ biến rộng rãi lối sống thành thị
Lối sống bao gồm những điều kiện và hình thức hoạt động sống của con
người, đặc trưng của xã hội, giai cấp, tầng lớp xã hội. Đô thị hóa là quá trình có sự
chuyển đổi lối sống nông thôn sang lối sống đô thị.
Lối sống đô thị là lối sống hợp cư, dễ biến động và ít có sự liên kết về huyết
thống, tập quán, truyền thống Người dân đô thị hiểu và có ý thức tôn trọng những
chuẩn mực mang tính pháp lý cao.
Đô thị hóa không chỉ gắn với sự phát triển công nghiệp mà còn gắn với sự
phát triển các ngành dịch vụ khác như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, tài
chính – ngân hàng, khoa học giáo dục… Nhờ quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh
chóng, những khu vực ven đô dễ dàng tiếp cận các nhóm ngành dịch vụ. Từ đó, lối


Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đô thị hóa thường diễn ra song song với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Quá trình này biến dân cư nông thôn trở thành dân đô thị, với sự chuyển dịch
cơ cấu lao động từ nông nghiệp chuyển sang lao động công nghiệp và dịch vụ; biến
quần cư nông thôn thành quần cư thành thị. Tác động này làm ngành nông nghiệp
giảm dần tỉ trọng, tăng dần tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ.
 Thay đổi đặc điểm dân số
+ Gia tăng dân số và tỉ lệ thị dân
Quá trình đô thị hóa tạo nên sức hút rất mạnh mẽ dân cư từ các vùng nông thôn
chuyển vào đô thị. Vì thế, qui mô dân số và tỉ lệ dân thành thị tăng nhanh chóng.
Dân số tăng tạo nguồn cung cấp lao động dồi dào cho sự phát triển kinh tế.
Đồng thời nguồn lao động tập trung vào các đô thị phần lớn là lao động có chất
lượng cao, tạo thuận lợi cho sự phát triển các ngành sản xuất hiện đại, mang giá trị
cao như tài chính, tín dụng, công nghiệp chế biến, các hoạt động khoa học công
nghệ cao. Nguồn lao động này cũng chính là nguồn tiêu thụ sản phẩm lớn, tạo điều
kiện thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh chóng, hiệu quả.
+ Thay đổi kết cấu dân số
Quá trình đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu dân số theo độ tuổi: Do chất lượng
cuộc sống người dân đô thị được nâng cao, tỉ lệ sinh tại các đô thị giảm xuống.
Thêm vào đó, số dân nhập cư vào các thành phố lớn chủ yếu trong độ tuổi lao động
nên tỉ lệ dân số phụ thuộc giảm mạnh, tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng lên.
Đây là lực lượng lao động dồi dào tạo điều kiện cho các ngành kinh tế phát triển
nhanh chóng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

Bên cạnh đó đô thị hóa cũng làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp. Cụ thể cơ cấu
lao động có sự chuyển dịch rõ nét: giảm tỉ lệ dân số hoạt động nông nghiệp và tăng
tỉ lệ dân hoạt động phi nông nghiệp.

Do ý thức cải tạo và bảo vệ môi trường của người dân được nâng cao, hệ
thống cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống người dân cải thiện, hoạt động của Sở vệ sinh
– môi trường ngày càng hiệu quả… giúp môi trường sống của người dân đô thị
được cải thiện đáng kể, đặc biệt tại các khu dân cư mới. Bên cạnh đó, quá trình qui
hoạch đô thị cũng khiến cảnh quan tự nhiên thay đổi: hệ thống cây xanh, ao
hồ…được điều chỉnh hợp lí, làm tăng vẻ mĩ quan đô thị.
1.1.4.2 Tác động tiêu cực
Đô thị hóa nếu không xuất phát từ công nghiệp hoá, không phù hợp, cân đối
với quá trình công nghiệp hoá thì việc chuyển cư ồ ạt từ nông thôn ra thành phố sẽ
làm cho nông thôn mất đi một phần lớn nhân lực. Trong khi đó nạn thiếu việc làm,
nghèo nàn ở thành phố ngày càng phát triển, điều kiện sinh hoạt ngày càng thiếu
thốn, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến những hiện tượng tiêu cực
khác trong trong đời sống kinh tế - xã hội.
Sự tăng dân số tự nhiên thông thường quá trình này không phải là tác nhân
mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thường thấp hơn nông
thôn. Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị như là sự nhập cư đến đô thị.
Bên cạnh những mặt tích cực thì sự nhập cư không chủ động cũng gây ra nhiều tiêu
cực không chỉ cho đô thị mà cho cả các vùng ngoài vi xung quanh. Đô thị hoá có
tác động không nhỏ đến sinh thái và kinh tế khu vực Sự gia tăng quá mức của
không gian đô đô thị so với thông thường gọi là “sự bành trướng đô thị”, thông
thường để chỉ những khu đô thị rộng lớn mật độ thấp phát triển xung quanh thậm
chí vượt ngoài ranh giới đô thị. Những người chống đối xu thế đô thị hoá cho rằng
nó làm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phí đầu tư hạ tầng kỹ thuật và có
tác động xấu đến sự phân hoá xã hội do cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm các khó
khăn của khu vực trong đô thị.
 Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đô thị và nông thôn.

Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá đã dẫn đến tình trạng di dân từ nông
thôn lên thành thị. Sự chênh lệch này còn thể hiện ở chất lượng giáo dục, cơ hội
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

thị hoá trong quá trình phát triển hợp lý.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

1.1.5 Quá trình đô thị hóa diễn ra ở trên thế giới và những bài học kinh nghiệm
được rút ra
Quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là ở các
nước đang phát triển. Theo tính toán của Liên hợp quốc đến giữa năm 1990 dân số
đô thị thế giới đã đạt đến mức 43%, tức 2,3 tỷ người. Tỷ lệ này đã tăng nhanh gấp
2,5 lần dân số nông thôn. Năm 2005 có khoảng 50% dân số thế giới sống ở đô thị.
Ước đến năm 2025 có khoảng 60% dân số thế giới sống ở đô thị.
Ở các nước đang phát triển, năm 1970 dân số đô thị chiếm 25%; năm 1990
lên tới 34%; năm 2015 là 50%; và lên tới 57% vào năm 2025. Như vậy tốc độ tăng
dân số đô thị ở các nước đang phát triển khá cao với bình quân/năm là 3,8%, trong
khi dân số nông thôn là 1,2%/năm.
Sự phát triển mạnh mẽ của đô thị hoá đã đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải
quyết: Phát triển kinh tế đô thị, giải quyết việc làm cho người lao động, môi
trường Thực tiễn phát triển đô thị của các quốc gia trên thế giới nhất là các quốc
gia trong khu vực đã có nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra trong việc giải quyết
các vấn đề trên, đặc biệt là kinh nghiệm quý báu trong giải quyết việc làm cho
người lao động nói chung, lao động nông nghiệp nói riêng. Đây thực sự là những
bài học hữu ích đối với vấn đề đô thị hoá và giải quyết việc làm cho lao động nói
chung và lao động nông nghiệp nói riêng ở Việt Nam cũng như ở các nước đang
phát triển. Để giải quyết vấn đề việc làm cho lao động nông nghiệp, các quốc gia
đang phát triển tập trung vào các vấn đề sau:
a) Làm tốt công tác quy hoạch đô thị, gắn quy hoạch phát triển đô thị với
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Ở Cộng hoà Liên bang Đức, quy hoạch không gian liên quan đến sự phát
triển trong toàn bộ lãnh thổ liên bang, các bang và các vùng. Với mục tiêu: Đảm
bảo sự thống nhất về điều kiện sống trong cả nước, tránh sự giãn cách quá xa giữa

phát triển đô thị, CNH – HĐH đất nước rất cần phải có vốn. Vốn cho đô thị hoá,
CNH, HĐH có được từ hai nguồn: trước tiên phải huy động tối đa nguồn vốn trong
nước thông qua việc kêu gọi dân chúng phát huy tinh thần tiết kiệm, giảm tỷ lệ cất
trữ, tăng vốn đầu tư sản xuất, phát triển ngành nghề. Thứ hai: kêu gọi đầu tư nước
ngoài (vốn, công nghệ, chất xám, ) thông qua việc thực hiện chính xác ưu đãi cho
người đầu tư: miễn giảm thuế, chính sách tự do luân chuyển tư bản, đơn giản hoá,
gọn nhẹ trong việc cấp phép, thủ tục hành chính,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

Nhờ thành công nhờ chính sách này đã giúp Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo,
vượt qua khó khăn, thực hiện thành công CNH, HĐH nền kinh tế và trở thành các
con “rồng” châu Á.
Tuy nhiên ở mỗi thời kỳ chính phủ các nước này lại có chính sách tập trung
vào một số đối tượng khác nhau.
Trước năm 1990, Hàn Quốc có mục tiêu phát triển mạnh các ngành cần
nhiều lao động, lao động không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp. Sau năm 1990 trở đi
Hàn Quốc đẩy mạnh CNH, HĐH, đầu tư đổi mới công nghệ, biến đổi cơ cấu kinh
tế, thúc đẩy xuất khẩu, tăng năng xuất lao động. Chương trình này của Hàn Quốc
được chính phủ đặt trong mối quan hệ đồng bộ với các biện pháp khác: Thực hiện
chương trình trợ cấp thất nghiệp, mở rộng các chương trình đào tạo, đào tạo lại kỹ
năng cho người lao động, áp dụng các chương trình đảm bảo việc làm, tăng hiệu
quả của thị trường lao động.
Để tạo nhiều việc làm cho người lao động trong quá trình đô thị hoá, các
nước trong khu vực thường tập trung phát triển mạnh các ngành nghề phi nông
nghiệp: khai thác mỏ, phát triển mạnh công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo,
phát triển mạnh các ngành thuộc khu vực kinh tế phi chính thức (khu vực kinh tế
bao gồm các hoạt động sản xuất quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ), các hoạt động không
đăng ký hoặc trốn tránh pháp luật, các hoạt động chưa được pháp luật quy định, do
đó không chịu sự kiểm soát, điều tiết của nhà nước. Ở thành phố ngành nghề đa

mẽ, các chủ doanh nghiệp thực hiện quá trình đổi mới cơ cấu ngành, tăng cường
ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tăng năng xuất lao động và chất lượng
sản phẩm, Chính phủ mở rộng các chương trình đào tạo, đào tạo lại kỹ năng của
người lao động (Trần Thị Thu, 2002).
- Ở Philippines: Khác với Thái Lan và Hàn Quốc, Philippin có tỷ lệ tăng dân
số hàng năm khá cao do sự thống soái của phe phái nhà thờ. Tỷ lệ thất nghiệp và
thiếu việc làm hàng năm rất cao. Sự tụt hậu nền kinh tế do những sai lầm trong quản
lý, tham nhũng, bất ổn về chính trị đã ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ phát triển
kinh tế, gia tăng việc làm và nâng cao mức sống người lao động. Định hướng phát
triển nguồn nhân lực của Philippines là Chính phủ rất quan tâm tới hệ thống thông
tin nguồn nhân lực như sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục, mức sinh, sử dụng nguồn
nhân lực và tạo việc làm cho người lao động.
Chiến lược quan trọng được áp dụng ở Philippines vào cuối những năm 1980
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17

– 1990 là: khuyến khích tự tạo việc làm thông qua các chương trình giáo dục và đào
tạo, định hướng phát triển nông thôn, nông nghiệp; giáo dục kỹ năng nghề nghiệp
và các kỹ năng khác, cung cấp những hiểu biết về kinh doanh và quản lý trong giáo
dục cao đẳng và giáo dục phổ thông trung học. Nhờ vậy đã giúp một số lượng lớn
người lao động từ làm thuê vươn lên làm chủ doanh nghiệp, thu hút được nhiều lao
động, tạo nhiều chỗ làm mới, góp phần làm giảm sức ép về lao động và việc làm
cho xã hội.
- Ở Bangladesh: để tạo việc làm cho người lao động trong điều kiện mới,
Chính phủ đã thực hiện chương trình nâng cao chất lượng đội ngũ người lao động,
bắt đầu từ việc giới thiệu, hướng dẫn áp dụng các công nghệ mới trong gây giống
phục vụ trồng trọt, phân hóa học, xây dựng các công trình tưới tiêu phục vụ sản xuất
đặc biệt là gieo trồng lúa.
Chính phủ cho phép thành lập các trung tâm nguồn việc làm, cung cấp các
thông tin về tín dụng, thị trường, kiến thức cần thiết về công nghệ mới. Bên cạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status