Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện đan phượng, thành phố hà nội giai đoạn 2010 2014 - Pdf 37

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------

------------------------

NGUYỄN HỒNG PHONG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 - 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

THÁI NGUYÊN - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

--------------------

NGUYỄN HỒNG PHONG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 - 2014

nghiên cứu đề tài và viết luận văn.
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo
điều kiện của UBND huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, phòng Tài
nguyên và Môi trường, phòng Quản lý đô thị, phòng Thống Kê, các hộ gia
đình tham gia phỏng vấn, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động
viên, tạo mọi điều kiện về vật chất,tinh thần của gia đình và người thân.
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý
báu đó !
Thái Nguyên, ngày tháng
Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Phong

năm


MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu

Chú giải

LĐĐ

: Luật Đất đai

SDĐ



Nguyễn Hồng Phong


2

về kinh tế - xã hội. Do chịu tác động rất lớn của quá trình mở rộng đô thị
hoá, công nghiệp hoá, nhu cầu thị trường quyền sử dụng đất cho yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội có xu hướng ngày càng gia tăng. Công tác quản
lý và sử dụng đất của huyện có nhiều vướng mắc, trở ngại đang cần được
khắc phục. Công tác cấp GCN QSD đất, thực hiện các quyền sử dụng đất
còn nhiều bất cập và vướng mắc. Đứng trước thực trạng đó, để công tác
quản lý và sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả, cần phải rút kinh
nghiệm từ thực tế trong quá trình quản lý và sử dụng đất. Trên cơ sở đó,
xây dựng các biện pháp nhằm quản lý và sử dụng đất hiệu quả hơn, bền
vững hơn.
Để có cách nhìn một cách khách quan dựa trên những cơ sở luận cứ
khoa học và nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử
dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội giai
đoạn 2010 - 2014”.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được thực trạng vi phạm và kết quả xử lý vi phạm hành
chính trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân nhằm chỉ ra
những mặt làm được, những mặt chưa làm được; từ đó đề xuất một số giải
pháp góp phần hạn chế, từng bước đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật về
đất đai trong sử dụng đất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả công tác quản lý
đất đai trên địa bàn huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.
2.2. Mục tiêu cụ thể

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
Đất đai ngày càng thể hiện được tầm quan trọng bậc nhất trong việc
ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của đất nước. Việc làm thế nào để
quản lý và SDĐ một cách tiết kiệm, hiệu quả nhất là vấn đề luôn luôn được
nhà nước ta coi trọng. Nó được thể hiện qua việc nhà nước ta dần hoàn thiện
pháp luật đất đai qua các thời kỳ và giai đoạn gần đây nhất là LĐĐ năm
2003 [24]. Tuy nhiên, nó chỉ đáp ứng được phần nào trong việc quản lý và
SDĐ mà còn nhiều bất cập trong việc quản lý và xử lý các vi phạm về đất
đai. Ngoài việc pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập thì việc quản lý SDĐ
ở các địa phương nói chung và huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội nói
riêng còn nhiều hạn chế trong việc phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp
vi phạm về đất đai dẫn đến việc vi phạm về đất đai là khá phổ biến trên địa
bàn huyện Đan Phượng.
Để từng bước hạn chế tiến tới đẩy lùi tình trạng này, góp phần đưa
công tác quản lý, sử dụng đất đai đi vào nề nếp, tuân thủ các quy định của
pháp luật thì việc “Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng
đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Đan Phượng,
thành phố Hà Nội” là vấn đề rất cần được nghiên cứu.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
Trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp được giao 20 năm của hộ gia
đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và huyện Đan
Phượng nói riêng tình trạng tự ý chuyển đổi sang sử dụng vào các mục đích
khác như: Làm nhà ở; xây dựng các công trình sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ; đào ao thả cá trên đất chuyên trồng lúa…không được phát hiện và xử lý
kịp thời, cương quyết, đúng pháp luật đã gây nhiều khó khăn cho công tác
quản lý đất đai, mất công bằng trong sử dụng đất đai, trong nhiều trường hợp


Xử lý vi phạm hành chính năm 2008;


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ, những ý kiến, chỉ bảo quý báu của các thầy, cô giáo Khoa Quản lý
Tài nguyên, phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học, trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên.
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của
bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS. TS
Nguyễn Khắc Thái Sơn là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian
nghiên cứu đề tài và viết luận văn.
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo
điều kiện của UBND huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, phòng Tài
nguyên và Môi trường, phòng Quản lý đô thị, phòng Thống Kê, các hộ gia
đình tham gia phỏng vấn, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động
viên, tạo mọi điều kiện về vật chất,tinh thần của gia đình và người thân.
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý
báu đó !
Thái Nguyên, ngày tháng
Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Phong

năm


7

1.2. KHÁI QUÁT VỀ VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

8

theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.[24]
Hiện nay, có nhiều quan điểm cho rằng Vi phạm hành chính có lẽ còn
nguy hiểm hơn nhiều lần một số tội phạm nặng nhất như giết người, vì
chúng giết môi trường sống của con người, tức là gián tiếp, có khi là trực
tiếp giết nhiều người và hủy hoại môi trường sống của nhiều thế hệ mai sau.
Vì vậy, “Vi phạm hành chính ở nước ta là loại hành vi gây bất ổn cho xã
hội rất lớn, gây nguy hiểm cho xã hội rất lớn so với nhiều nước”. [20].
Tuy nhiên về mặt lý luận chung, các nhà khoa học pháp lý đều thừa nhận:
“Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý
hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không
phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật” [17].
1.2.1.3. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra khái niệm vi phạm pháp luật đất
đai như sau:
Vi phạm pháp luật đất đai là hành vi trái pháp luật, được thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quyền, lợi ích của Nhà nước, với vai
trò là đại diện cho chủ sở hữu, quyền và lợi ích của người SDĐ đai, cũng
như các quy định và chế độ sử dụng các loại đất [23].
Khái niệm Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, SDĐ đai lần
đầu tiên được ghi nhận tại Điểm 1 mục I Thông tư số 278-TT/ĐC ngày
07/3/1997 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 04-CP
ngày 10/01/1997 của Chính phủ về xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, SDĐ đai là những
hành vi làm trái với quy định về quản lý, SDĐ đai nhưng chưa đến mức phải
truy cứu trách nhiệm hình sự” [28]. Khái niệm này mới chỉ phản ánh được
mặt khách quan của vi phạm, mà không đề cập đến mặt chủ quan và chủ thể
của Vi phạm hành chính.
Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của

dụng đất đai để xem xét về một hành vi cụ thể.
- Hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) do hành vi trái pháp luật đất đai
gây ra. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật đất đai thể hiện


10

ở chỗ nó xâm hại quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước đối với đất đai
hoặc xâm hại đến quyền lợi của người sử dụng đất.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính về đất đai
với hậu quả mà nó gây ra cho xã hội thể hiện sự thiệt hại cho xã hội là do
chính hành vi vi phạm hành chính về đất đai gây ra. Song không phải mọi vi
phạm hành chính về đất đai đều bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả và quan
hệ nhân quả mà nhiều vi phạm hành chính về đất đai chỉ cần dấu hiệu “cấu
thành hình thức” là đủ căn cứ để xử phạt hành chính.
+ Mặt chủ quan của vi phạm hành chính về đất đai là những biểu hiện
tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm, gồm lỗi, động cơ và mục đích:
- Lỗi là trạng thái tâm lý, là ý chí chủ quan của con người đối với
hành vi vi phạm và hậu quả do hành vi đó gây ra được thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý. Vì vậy phải xét yếu tố lỗi chính xác để xác định được hình thức
xử lý phù hợp với hành vi vi phạm pháp luật đất đai.
- Mục đích, động cơ trong vi phạm hành chính về đất đai.
+ Khách thể của vi phạm hành chính về đất đai.
Khách thể của vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội được pháp
luật bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm hành chính xâm hại. Vậy khách thể
của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là những quan hệ trong quản
lý, sử dụng đất đai bị hành vi vi phạm hành chính xâm hại.
+ Chủ thể của vi phạm hành chính về đất đai.
Vi phạm hành chính về đất đai là hành vi do cá nhân, tổ chức thực
hiện cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật đất đai

Hai là, lấn, chiếm đất (Điều 9). Khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Nghị định
số 105/2009/NĐ-CP lần lượt định nghĩa:
- Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới
hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất [14].
- Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cho phép hoặc không được chủ sử dụng đất cho phép hoặc việc
sử dụng đất do được Nhà nước tạm giao hoặc mượn đất nhưng hết thời hạn
tạm giao, mượn đất mà không trả lại [14].
Ba là, huỷ hoại đất (Điều 10). Hành vi này không được Nghị định số
105/2009/NĐ-CP chính thức định nghĩa. Tuy nhiên căn cứ vào quy định tại
Điều 10 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP, chúng ta có thể hiểu hủy hoại
đất là hành vi làm suy giảm chất lượng đất hoặc làm biến dạng địa hình hoặc


13

gây ô nhiễm đất dẫn đến hậu quả làm cho đất giảm hoặc mất khả năng sử
dụng theo mục đích sử dụng đã được xác định.
Bốn là, gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác (Điều 11).
Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP định nghĩa gây cản trở cho
việc sử dụng đất của người khác là hành vi đưa vật liệu xây dựng, chất thải,
chất độc hại hay các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc lên thửa đất
của mình hoặc đào bới, xây tường, làm hàng rào và các hành vi khác mà
hành vi này gây cản trở, làm giảm khả năng sử dụng đất của người khác
hoặc gây thiệt hại cho việc sử dụng đất của người khác [14].
Năm là, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế,
tặng cho quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử
dụng đất mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của
pháp luật về đất đai. Nghị định số 105/2009/NĐ-CP không có giải thích về
hành vi này, nhưng chúng ta có thể hiểu là người sử dụng đất khi thực hiện

bằng”, bao gồm: hành vi không có mặt tại địa điểm để bàn giao đất theo yêu
cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không có lý do chính đáng;
hành vi ngăn cản cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
tiến hành xác định mốc giới, bàn giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi
thường, giải phóng mặt bằng. Mặc dù, Nghị định số 105/2009/NĐ-CP đã bổ
sung thêm hành vi gây cản trở trong việc bồi thường giải phóng mặt bằng
nhưng vẫn chưa giải quyết được vướng mắc của các địa phương trong việc
thực hiện công tác này đó là: tại điểm a khoản 3 Điều 29 của Nghị định số
69/2009/NĐ-CP quy định “Chủ đầu tư tiến hành khảo sát, đo đạc lập bản đồ
khu vực dự án ngay sau khi được chấp thuận chủ trương đầu tư” [12]. Tuy
nhiên, khi các chủ đầu tư tiến hành các công việc này, người sử dụng đất cản
trở không cho họ vào thửa đất của mình để đo vẽ, kiểm đếm khiến cho công
tác bồi thường giải phóng mặt bằng không thực hiện được. Nhưng hành vi
này của người dân lại không bị xử phạt do Nghị định số 105/2009/NĐ-CP
không quy định hành vi này. Như vậy, nhà làm luật cần bổ sung hành vi này
vào Nghị định quy định về xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất
đai trong thời gian tới.
Mười là, hành vi không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết định thu
hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Về cơ bản nội dung Điều 17
của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP vẫn kế thừa quy định tại Điều 19 của


16

Nghị định số 182/2004/NĐ-CP đối với hành vi này. Tuy nhiên, có sửa một
chút tiêu đề của điều luật đó là đảo cụm từ “Không thực hiện đúng thời hạn
trả lại đất…” thành “Không trả lại đất đúng thời hạn…”.
Mười một là, tự tiện di chuyển làm sai lệch, hư hỏng mốc chỉ giới quy
hoạch sử dụng đất, mốc chỉ giới hành lang an toàn của công trình, mốc địa
giới hành chính. Điều 18 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP giữ nguyên quy

Mười bốn là, hành vi chậm hoặc không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài
liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra; cản trở việc thanh tra, kiểm tra
về đất đai. Đây cũng là hành vi mới được quy định trong Nghị định số
105/2009/NĐ-CP. Tuy nhiên, khoản 6 Điều 3 của Nghị định số
105/2009/NĐ-CP chỉ định nghĩa về hành vi chậm cung cấp dữ liệu đất đai:
“Là hành vi chậm cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến
việc thanh tra, kiểm tra sau mười (10) ngày kể từ ngày công bố quyết định
thanh tra hoặc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của người có thẩm
quyền, của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật” [14].
Các hành vi không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan
đến việc thanh tra, kiểm tra; cản trở việc thanh tra, kiểm tra về đất đai không
được Nghị định giải thích.
Mười lăm là, hành vi hành nghề tư vấn về giá đất mà không thực hiện
đúng nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất theo quy định của pháp luật
hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nghị định số
105/2009/NĐ-CP không định nghĩa về hành vi này, nhưng chúng ta có thể
hiểu là tổ chức, cá nhân hành nghề nhưng không tuân thủ đúng các nguyên
tắc, phương pháp đã được quy định trong Luật, các Nghị định và Thông tư
hướng dẫn hoặc hành nghề mà không có giấy phép của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật.
Mười sáu là, hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
mà không đăng ký hoạt động hành nghề, được quy định tại Điều 23 của
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP. Đây là hành vi hành nghề tư vấn về lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà không đăng ký hoạt động theo quy định của
pháp luật về đất đai.


18

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay pháp luật đất đai vẫn chưa có

Ký hiệu

Chú giải

LĐĐ

: Luật Đất đai

SDĐ

: Sử dụng đất

STT

: Số thứ tự

TNMT

: Tài nguyên và môi trường

TP

: Thành phố

TX

: Thị xã

UBND


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status