ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------------------------------
NGUYỄN HỒNG PHONG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƢỢNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 - 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------------
NGUYỄN HỒNG PHONG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƢỢNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 - 2014
NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Tài nguyên, phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học, trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên.
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của
bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS. TS
Nguyễn Khắc Thái Sơn là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian
nghiên cứu đề tài và viết luận văn.
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo
điều kiện của UBND huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, phòng Tài
nguyên và Môi trường, phòng Quản lý đô thị, phòng Thống Kê, các hộ gia
đình tham gia phỏng vấn, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động
viên, tạo mọi điều kiện về vật chất,tinh thần của gia đình và người thân.
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý
báu đó !
Thái Nguyên, ngày tháng
Tác giả luận văn
năm
Nguyễn Hồng Phong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
UBND
: Uỷ ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước. Đối với nước ta,
phát triển đi lên từ nông nghiệp, hiện nay với khoảng 70% dân số làm nông
nghiệp, bên cạnh việc khai thác, sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có
hiệu quả và bền vững, phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất thì công
tác đầu tư mở rộng diện tích, nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác
nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đã, đang và sẽ tiếp tục là
nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách.
Tình trạng vi phạm trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai nói chung
và vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá
nhân nói riêng trên phạm vi cả nước vẫn diễn biến hết sức phức tạp, chưa
được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức để chỉ đạo, giải quyết theo quy
định của pháp luật. Tình trạng trên phần nào đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả
của công tác quản lý Nhà nước về đất đai, dẫn đến thiếu công bằng trong
quản lý, sử dụng đất đai, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gấy mất ổn định tình hình an
ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử
dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội giai
đoạn 2010 - 2014”.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được thực trạng vi phạm và kết quả xử lý vi phạm hành
chính trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân nhằm chỉ ra
những mặt làm được, những mặt chưa làm được; từ đó đề xuất một số giải
pháp góp phần hạn chế, từng bước đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật về
đất đai trong sử dụng đất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả công tác quản lý
đất đai trên địa bàn huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được tình hình cơ bản của của huyện Đan Phượng ảnh
hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
3
- Đánh giá được thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất
nông nghiệp trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội giai đoạn
2010-2014;
- Đánh giá được kết quả xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất
nông nghiệp trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội giai đoạn
2010 - 2014;
- Chỉ ra được nguyên nhân vi phạm, khó khăn trong giải quyết, giải pháp
hạn chế và xử lí vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp tại huyện
SDĐ mà còn nhiều bất cập trong việc quản lý và xử lý các vi phạm về đất
đai. Ngoài việc pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập thì việc quản lý SDĐ
ở các địa phương nói chung và huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội nói
riêng còn nhiều hạn chế trong việc phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp
vi phạm về đất đai dẫn đến việc vi phạm về đất đai là khá phổ biến trên địa
bàn huyện Đan Phượng.
Để từng bước hạn chế tiến tới đẩy lùi tình trạng này, góp phần đưa
công tác quản lý, sử dụng đất đai đi vào nề nếp, tuân thủ các quy định của
pháp luật thì việc “Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng
đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Đan Phượng,
thành phố Hà Nội” là vấn đề rất cần được nghiên cứu.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
Trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp được giao 20 năm của hộ gia
đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và huyện Đan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
5
Phượng nói riêng tình trạng tự ý chuyển đổi sang sử dụng vào các mục đích
khác như: Làm nhà ở; xây dựng các công trình sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ; đào ao thả cá trên đất chuyên trồng lúa…không được phát hiện và xử lý
kịp thời, cương quyết, đúng pháp luật đã gây nhiều khó khăn cho công tác
quản lý đất đai, mất công bằng trong sử dụng đất đai, trong nhiều trường hợp
là nguyên nhân gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn
xã hội tại cơ sở. Vì vậy việc nghiên cứu “Đánh giá thực trạng vi phạm hành
chính trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn
huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” từ đó đề xuất các giải pháp góp
chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
Xử lý vi phạm hành chính năm 2008;
9- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
10- Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
11- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về cấp
GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại
về đất đai;
12- Thông tư số 16/2010/TT-BTNMT ngày 26/8/2010 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
13- Công văn số 483/UBND – TNMT ngày 26 tháng 07 năm 2010
của UBND huyện Đan Phượng. Về việc tăng cường công tác quản lý đất đai
trong toàn Huyện;
14- Quyết định số 40/2011/QĐ-UBND ngày 20/12/2011 của UBND
thành phố Hà Nội về việc ban hành quy định về trình tự, thủ tục cho phép hộ
gia đình, cá nhân chuyển mục đích sử dụng đất vườn, ao liền kề và đất nông
nghiệp xen kẹt trong khu dân cư (không thuộc đất công) sang đất ở trên địa
bàn thành phố Hà Nội;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
7
http://www.lrc.tnu.edu.vn
8
chính”.[21]
Pháp lệnh xử lý Vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh
xử lý Vi phạm hành chính năm 2002, không định nghĩa Vi phạm hành chính
trực tiếp mà được quy định một cách gián tiếp thông qua khái niệm “xử phạt
Vi phạm hành chính”:
“Xử phạt Vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức
(sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô vi phạm các
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và
theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.[24]
Hiện nay, có nhiều quan điểm cho rằng Vi phạm hành chính có lẽ còn
nguy hiểm hơn nhiều lần một số tội phạm nặng nhất như giết người, vì
chúng giết môi trường sống của con người, tức là gián tiếp, có khi là trực
tiếp giết nhiều người và hủy hoại môi trường sống của nhiều thế hệ mai sau.
Vì vậy, “Vi phạm hành chính ở nước ta là loại hành vi gây bất ổn cho xã
hội rất lớn, gây nguy hiểm cho xã hội rất lớn so với nhiều nước”. [20].
Tuy nhiên về mặt lý luận chung, các nhà khoa học pháp lý đều thừa nhận:
“Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý
hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không
phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật” [17].
1.2.1.3. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra khái niệm vi phạm pháp luật đất
đai như sau:
Vi phạm pháp luật đất đai là hành vi trái pháp luật, được thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quyền, lợi ích của Nhà nước, với vai
này là hành vi cố ý hoặc vô ý của người SDĐ, tổ chức, cá nhân có liên quan,
tổ chức hoạt động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về
đất đai mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật”[10].
1.2.2. Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là một dạng của vi phạm
hành chính vì vậy mà đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
cũng được thể hiện ở bốn yếu tố là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và
khách thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
10
+ Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là
những biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm hành chính về đất đai, nó gồm có
những yếu tố sau:
- Hành vi trái pháp luật đất đai. Để xác định có hành vi trái pháp luật
đất đai thì ta phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về đất đai, về
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến việc quản lý, sử
dụng đất đai để xem xét về một hành vi cụ thể.
- Hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) do hành vi trái pháp luật đất đai
gây ra. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật đất đai thể hiện
ở chỗ nó xâm hại quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước đối với đất đai
hoặc xâm hại đến quyền lợi của người sử dụng đất.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính về đất đai
với hậu quả mà nó gây ra cho xã hội thể hiện sự thiệt hại cho xã hội là do
chính hành vi vi phạm hành chính về đất đai gây ra. Song không phải mọi vi
đến mức nguy hiểm cho xã hội để trở thành tội phạm hình sự và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính [4], [5].
1.2.3. Các loại hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông
nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP quy định tổng số có 17 hành vi vi
phạm và bị xử phạt, trong đó có 14 hành vi Vi phạm hành chính trong sử
dụng đất và 03 hành vi Vi phạm hành chính trong hoạt động dịch vụ về đất
đai. So với Nghị định số 182/2004/NĐ-CP, có một số hành vi bị loại bỏ và
một số hành vi được bổ sung, cụ thể:
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP loại bỏ 02 hành vi:
- Bỏ hành vi "chậm thực hiện bồi thường và chậm nộp tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất,
cho thuê đất cho phép" [13]. Việc bỏ hành vi này vì việc chậm thực hiện bồi
thường là hành vi vi phạm của cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ thực
hiện việc bồi thường, không phải là hành vi của người có đất bị thu hồi; do
đó không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định.
- Bỏ hành vi "chậm nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà không được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cho phép” [13]. Việc
bỏ hành vi này vì đã được xử lý theo quy định của pháp luật về tài chính.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
12
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP bổ sung 03 hành vi:
- Nhận chuyển quyền sử dụng đất nhưng không đủ điều kiện nhận
chuyển quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 103 của Nghị định số
181/2004/NĐ-CP;
- Sử dụng đất để xây dựng công trình, đầu tư bất động sản thuộc khu
vực đô thị, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế trái với quy
hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được công bố;
Hai là, lấn, chiếm đất (Điều 9). Khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Nghị định
số 105/2009/NĐ-CP lần lượt định nghĩa:
- Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới
hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất [14].
- Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cho phép hoặc không được chủ sử dụng đất cho phép hoặc việc
sử dụng đất do được Nhà nước tạm giao hoặc mượn đất nhưng hết thời hạn
tạm giao, mượn đất mà không trả lại [14].
Ba là, huỷ hoại đất (Điều 10). Hành vi này không được Nghị định số
105/2009/NĐ-CP chính thức định nghĩa. Tuy nhiên căn cứ vào quy định tại
Điều 10 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP, chúng ta có thể hiểu hủy hoại
đất là hành vi làm suy giảm chất lượng đất hoặc làm biến dạng địa hình hoặc
gây ô nhiễm đất dẫn đến hậu quả làm cho đất giảm hoặc mất khả năng sử
dụng theo mục đích sử dụng đã được xác định.
Bốn là, gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác (Điều 11).
Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP định nghĩa gây cản trở cho
việc sử dụng đất của người khác là hành vi đưa vật liệu xây dựng, chất thải,
chất độc hại hay các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc lên thửa đất
của mình hoặc đào bới, xây tường, làm hàng rào và các hành vi khác mà
hành vi này gây cản trở, làm giảm khả năng sử dụng đất của người khác
hoặc gây thiệt hại cho việc sử dụng đất của người khác [14].
Năm là, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế,
tặng cho quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử
dụng đất mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của
pháp luật về đất đai. Nghị định số 105/2009/NĐ-CP không có giải thích về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
hạn sử dụng đất mà vẫn đang sử dụng đất. Đây là hành vi không thực hiện
đúng các quy định về đăng ký quyền sử dụng đất quy định tại Điều 46 của
LĐĐ năm 2003 và Điều 38, Điều 39 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
15
ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành LĐĐ. So với quy định về cố ý đăng
ký không đúng loại đất, không đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng đất tại
Điều 15 Nghị định số 182/2004/NĐ-CP thì Nghị định số 105/2009/NĐ-CP
đã quy định thêm các hành vi không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu,
không đăng ký biến động quyền sử dụng đất, không đăng ký gia hạn sử dụng
đất khi hết hạn sử dụng đất mà vẫn đang sử dụng đất.
- Đối với hành vi không đăng ký biến động quyền sử dụng đất, nội
dung này trùng với nhiều nội dung khác đã được quy định trong Nghị định
số 105/2009/NĐ-CP.
- Đối với hành vi không đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng đất,
nội dung của nó trùng với quy định về sử dụng đất không đúng mục đích.
Bởi vì, nếu người dân đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy
định của pháp luật tức là họ đã sử dụng đất đúng mục đích và ngược lại nếu
họ không đăng ký mà cứ sử dụng thì là sử dụng đất không đúng mục đích.
Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền có khó khăn, vướng mắc
trong việc áp dụng điều luật để xử phạt. Quy định không rõ ràng này dễ dẫn
đến tình trạng tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật và phát sinh các tiêu cực
trong công tác xử lý vi phạm.
Chín là, hành vi gây cản trở trong việc Nhà nước giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng. Trước đây hành vi này
hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Về cơ bản nội dung Điều 17
của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP vẫn kế thừa quy định tại Điều 19 của
Nghị định số 182/2004/NĐ-CP đối với hành vi này. Tuy nhiên, có sửa một
chút tiêu đề của điều luật đó là đảo cụm từ “Không thực hiện đúng thời hạn
trả lại đất…” thành “Không trả lại đất đúng thời hạn…”.
Mười một là, tự tiện di chuyển làm sai lệch, hư hỏng mốc chỉ giới quy
hoạch sử dụng đất, mốc chỉ giới hành lang an toàn của công trình, mốc địa
giới hành chính. Điều 18 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP giữ nguyên quy
định của Điều 20 của Nghị định số 182/2004/NĐ-CP.
Mười hai là, hành vi làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc sử
dụng đất. Điều 19 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP và Điều 21 của Nghị
định số 182/2004/NĐ-CP đều xác định rõ đây là hành vi tẩy xóa, sửa chữa
giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
17
quyền sử dụng đất không đúng quy định; việc chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng
đất không đúng thực tế và gây ra những hậu quả phức tạp.
Tuy nhiên, Nghị định 105/2009/NĐ-CP lại bỏ đi cụm từ “mà chưa
đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Điều này dẫn đến khó khăn cho các
cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng luật. Bởi vì, Bộ luật Hình sự năm
1999 có một điều quy định về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức (Điều 267) [10]. Như vậy, sẽ khó có cơ sở để cơ quan có thẩm quyền
xử lý Vi phạm hành chính khi phát hiện hành vi phạm sẽ chuyển cho cơ
quan điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mười lăm là, hành vi hành nghề tư vấn về giá đất mà không thực hiện
đúng nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất theo quy định của pháp luật
hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nghị định số
105/2009/NĐ-CP không định nghĩa về hành vi này, nhưng chúng ta có thể
hiểu là tổ chức, cá nhân hành nghề nhưng không tuân thủ đúng các nguyên
tắc, phương pháp đã được quy định trong Luật, các Nghị định và Thông tư
hướng dẫn hoặc hành nghề mà không có giấy phép của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật.
Mười sáu là, hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
mà không đăng ký hoạt động hành nghề, được quy định tại Điều 23 của
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP. Đây là hành vi hành nghề tư vấn về lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà không đăng ký hoạt động theo quy định của
pháp luật về đất đai.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay pháp luật đất đai vẫn chưa có
quy định về việc đăng ký hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất. Như vậy, quy định này vẫn chưa có cơ sở thực hiện trên thực tế.
Mười bảy là, hành vi cung cấp dữ liệu đất đai không đúng quy định
của pháp luật quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP và
được định nghĩa [10].
“Là hành vi cung cấp các số liệu, tài liệu về đất đai gồm: số hiệu, kích
thước, hình thể, diện tích, vị trí, người sử dụng thửa đất, nguồn gốc, mục
đích, thời hạn sử dụng đất, giá đất, tài sản gắn liền với đất, nghĩa vụ tài
chính về đất đai đã thực hiện và chưa thực hiện; Giấy chứng nhận quyền sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
19
http://www.lrc.tnu.edu.vn