Tác động của quá trình đô thị hóa đến cơ cấu lao động và việc làm của các hộ gia đình ở huyện Từ Liêm - Hà Nội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ VĨNH HÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ
MỤC LỤC Trang

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ
ĐẾN CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH


2.1. Ý nghĩa lý luận
8

2.2. Ý nghĩa thực tiễn
8
3.
Mục tiêu nghiên cứu
8
4.
Đốitượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
9

4.1.Đối tượng nghiên cứu
9

4.2. Khách thể nghiên cứu
9

4.3.Phạm vi nghiên cứu
9
5.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xã hội
học
10

5.1.Phương pháp luận nghiên cứu
10

5.2. Các phương pháp nghiên cứu xã hội học

Tình hình nghiên cứu trong nước
20
1.2
Cơ sở lý luận
22

1.2.1. Lý thuyết cấu trúc chức năng
22

1.2.2. Lý thuyết biến đổi xã hội
23
1.3.
Một số khái niệm có liên quan đến nghiên cứu
25

1.3.1. Khái niệm đô thị hoá
25

4

1.3.2. Khái niệm hộ gia đình - thành viên hộ gia đình
27

1.3.3. Khái niệm cơ cấu lao động, việc làm
29

1.2.4. Mối quan hệ giữa đô thị hoá với cơ cấu lao động, việc
làm
30
CHƢƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ ĐẾN


2.3.1. Sự biến đổi cơ cấu lao động, việc làm của lực lượng lao
động trong các hộ gia đình

47

2.3.2. Sự dịch chuyển của lực lượng lao động trong các hộ gia
đình

62

2.3.3. Dự kiến và nhu cầu hỗ trợ của lực lượng lao động liên quan
đến vấn đề việc làm và phát triển sản xuất - kinh doanh

65
2.4.
Tác động của quá trình đô thị hoá đến cơ cấu lao động và việc làm
của các hộ gia đình ở Huyện Từ Liêm, Hà Nội giai đoạn 2000-
2005 70

2.4.1. Những tác động tích cực của quá trình đô thị hoá đến cơ cấu
lao động và việc làm của các hộ gia đình ở huyện Từ Liêm, Hà
Nội giai đoạn 2000 - 2005 70


2.2. Đối với chính quyền địa phương
94

2.3. Đối với người dân
95

96

6
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC A - BẢNG SỐ LIỆU KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, PHỎNG VẤN
99

phương theo mức độ quan trọng của lực lượng lao động trong các hộ gia
đình không bị thu hồi đất 102
Bảng 9. Mục đích sử dụng tiền đền bù thu hồi đất của các hộ gia đình
103
Bảng 10. Những dự kiến về việc làm trong thời gian tới của lực lượng
lao động hiện đang thất nghiệp và không làm việc

103
Bảng 11. Dự kiến chuyển đổi việc làm trong thời gian tới của lực lượng
lao động hiện đang làm việc

103
Bảng 12. Dự định phát triển sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình
104
Bảng 13. Những khó khăn của gia đình trong giải quyết việc làm và phá
triển sản xuất kinh doanh của gia đình

104
Bảng 14. Nhu cầu của lực lượng lao động về hỗ trợ từ phía chính quyền
địa phương

105
PHỤ LỤC B - BỘ CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU
106
1
Phiếu thu thập thông tin cấp huyện
107


8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước nói
chung và Hà Nội nói riêng. Ở tầm vĩ mô, đô thị hoá là một trong những giải
pháp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo hướng chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá: phát triển
mạnh các ngành công nghiệp và thương mại - dịch vụ mà Đảng và Nhà nước đã
đề ra trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Mặt khác, đô thị hoá cũng là một
trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của một đất nước. Tuy
nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, vẫn còn có không ít những bất cập, tồn
tại đặt ra cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề lao động - việc làm đối với một
bộ phận lớn dân cư nông thôn bị rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm
khi bị thu hồi đất đai phục vụ mục tiêu đô thị hoá.
Hà Nội là một trong những địa phương có tốc độ đô thị hoá thuộc loại
nhanh nhất so với các địa phương khác trong cả nước, đặc biệt trong giai đoạn
2000 - 2005. Điều này được thể hiện qua sự mở rộng về phạm vi địa giới, sự
tăng về số lượng các đơn vị hành chính (9 quận và 4 huyện) so với trước đây (4
quận và 5 huyện); sự tăng trưởng về số lượng các khu công nghiệp tập trung,
cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các khu đô thị mới

tích đánh giá tác động, phương pháp đánh giá dựa trên khung sinh kế bền vững
nhằm tìm hiểu và đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình đô
thị hoá đến sự biến đổi về cơ cấu lao động và việc làm của các hộ gia đình. Kết
quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc khẳng định và phát triển hệ thống các lý
luận, phương pháp, khung lý thuyết trong nghiên cứu xã hội học về các vấn đề
liên quan đến đô thị, lao động, việc làm
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cùng với ý nghĩa lý luận trên, kết quả nghiên cứu này cũng đồng thời góp
phần là cơ sở giúp cho các nhà quản lý, hoạch định chiến lược quy hoạch phát
triển đô thị và giải quyết việc làm, tăng thu nhập của người dân phù hợp với điều
kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của các vùng ngoại thành Hà Nội theo
định hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
3. Mục tiêu nghiên cứu

10
Để có thể phát hiện những tác động (cả tích cực và tiêu cực) của vấn đề
đô thị hoá tới sự biến đổi cơ cấu lao động và việc làm của người dân ở các
huyện ngoại thành Hà Nội, đề tài sẽ tập trung vào những mục tiêu cụ thể sau:
 Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đô thị hoá, về lao động - việc
làm ở Việt Nam hiện nay;
 Đánh giá sự biến đổi về cơ cấu lao động, việc làm của các hộ gia đình
dưới tác động của quá trình đô thị hoá ở huyện Từ Liêm;
 Phát hiện những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình đô thị hoá đến
sự chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm của các hộ gia đình ở huyện Từ
Liêm - Hà Nội giai đoạn 2000 - 2005;
 Đề xuất các giải pháp hỗ trợ tạo việc làm, tăng thu nhập cho các hộ gia
đình ở các vùng đô thị hoá ở Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010.
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Tác động của quá trình đô thị hoá đến cơ cấu lao động và việc làm của các

- Phương pháp này được áp dụng để tra cứu, tổng hợp các báo cáo tổng
kết của huyện và các xã; thu thập các tài liệu sẵn có liên quan đến đô thị hoá, lao
động và việc làm phục vụ cho nghiên cứu của đề tài.
- Thu thập thông tin chung của huyện theo mẫu phiếu: 01 phiếu tổng hợp
thông tin chung liên quan đến vấn đề quy hoạch thu hồi đất, lao động, việc làm,
kinh tế, xã hội của huyện;
- Thu thập thông tin chung của xã theo mẫu phiếu: 04 phiếu tổng hợp
thông tin chung liên quan đến vấn đề quy hoạch thu hồi đất, lao động, việc làm,
kinh tế, xã hội của 4 địa bàn: thị trấn Cầu Diễn, xã Mỹ Đình, xã Minh Khai và
xã Mễ Trì;
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân: Thực hiện phỏng vấn sâu 10 chủ
hộ gia đình bị thu hồi đất và 10 chủ hộ gia đình không bị thu hồi đất về các

12
vấn đề có liên quan đến lao động, việc làm, thu nhập của hộ gia đình vào thời
điểm trước và sau khi diễn ra việc thu hồi đất. 5.2.3. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi:
- Phỏng vấn 137 hộ gia đình bị thu hồi đất của 4 địa bàn: thị trấn Cầu
Diễn và các xã Mỹ Đình, Minh Khai và Mễ Trì;
- Phỏng vấn 56 hộ gia đình không bị thu hồi đất của 4 địa bàn: thị trấn
Cầu Diễn và các xã Mỹ Đình, Minh Khai và Mễ Trì;
- Phỏng vấn 462 thành viên trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 60 tuổi)
trong hộ gia đình bị thu hồi đất;
- Phỏng vấn 195 thành viên trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 60 tuổi)
trong hộ gia đình không bị thu hồi đất;
- Trưng cầu ý kiến 22 cán bộ chính quyền và đoàn thể của 4 địa bàn
được chọn khảo sát.
5.2.4. Cách thức tiến hành chọn mẫu khảo sát

Tổng số mẫu dự kiến khảo sát
Hộ gia đình bị thu hồi đất
Hộ gia đình không bị thu hồi
đất
1
Thị trấn Cầu
Diễn
10
30
2
Xã Mỹ Đình
40
10
3
Xã Mễ Trì
40
10
4
Xã Minh Khai
50
10

Tổng số
140
60
b. Các bước tiến hành chọn hộ gia đình khảo sát
 Bước 1: Chọn thôn/xóm khảo sát theo gợi ý của cán bộ xã.
 Bước 2: Lập danh sách các hộ gia đình bị thu hồi đất,
Lập danh sách các hộ gia đình không bị thu hồi đất.
 Bước 3: Chọn bước nhảy “k”:

Bảng 2. Cơ cấu mẫu khảo sát phỏng vấn hộ gia đình thực tế tại 4 xã
TT
Địa bàn
Số hộ bị thu hồi đất
được phỏng vấn (hộ)
Số hộ không bị thu hồi
đất được phỏng vấn (hộ)
1
Thị trấn Cầu Diễn
10
26
2
Xã Mỹ Đình
39
10
3
Xã Mễ Trì
40
10
4
Xã Minh Khai
48
10
5
Tổng số
137
56
Tổng số hộ gia đình không bị thu hồi đất tại mỗi xã
k
2

SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Chung
462
100.0
223
48.3
239
51.7
195
100.0
106
54.4
89
45.6
Thị
trấn
Cầu
Diễn
39

81
53.6
42
21.5
23
54.8
19
45.2
Minh
Khai
149
32.3
73
49.0
76
51.0
43
22.1
21
48.8
22
51.2
5.2.4.5. Chọn mẫu khảo sát đối với cán bộ chính quyền, đoàn thể:
Tổng số mẫu phiếu trưng cầu ý kiến cán bộ dự kiến là 28 phiếu. Trong
đó, tại mỗi địa bàn xã/thị trấn, thực hiện trưng cầu ý kiến đối với 7 cán bộ gồm:
1 cán bộ lãnh đạo xã; 1 cán bộ lao động, thương binh và xã hội; 1 cán bộ đoàn
thanh niên; 1 cán bộ hội phụ nữ; 1 cán bộ hội nông dân và 1 cán bộ đảng uỷ.
Tổng số phiếu trưng cầu ý kiến cán bộ chính quyền và đoàn thể thực tế
thu thập được là 22 phiếu. Trong đó:



- Các chính sách kinh tế - xã
hội, quy hoạch thu hồi đất,
- Những rủi ro, ảnh hưởng
tiêu cực của các chính sách.
17
Như vậy, khung sinh kế bền vững được áp dụng trong nghiên cứu này
nhằm tìm hiểu và đánh giá:
(i) Các nguồn vốn / tài sản hiện có của các hộ gia đình, cụ thể:
 Đất đai phục vụ sản xuất của gia đình;
 Nguồn nhân lực - lực lượng lao động của gia đình;
 Các mối quan hệ xã hội của gia đình;
 Nguồn tiền mặt hiện có của gia đình;
 Nhà cửa, tài sản khác
(ii) Sử dụng các nguồn vốn / tài sản trong các hoạt động sinh kế của các hộ
gia đình:
 Sử dụng các nguồn vốn / tài sản hiện có để ứng phó với rủi ro như bị mất
đất sản xuất, thất nghiệp / thiếu việc làm do quá trình đô thị hoá mang lại.
 Tiếp cận những cơ hội về việc làm của các hộ gia đình: chuyển đổi việc
làm - ngành nghề; đa dạng hoá việc làm - ngành nghề của gia đình khi
diễn ra quá trình đô thị hoá ở địa phương.


18
 Giảm thiểu tính dễ tổn thương; Có khả năng đối phó tốt hơn đối với
những khủng hoảng, rủi ro và những tác động tiêu cực của các chính sách.
 Sử dụng có hiệu quả và bền vững các nguồn lực của gia đình.
6. Giả thuyết nghiên cứu
(i). Quá trình đô thị hoá diễn ra đã và đang tác động tích cực tới sự biến đổi về
cơ cấu lao động và việc làm theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các
hộ gia đỡnh ở huyện Từ Liờm, Hà Nội:
 Đô thị hoá đã tạo ra sự chuyển đổi về việc làm từ khu vực nông nghiệp
sang khu vực phi nông nghiệp của các hộ gia đình và khiến cầu về đào
tạo nghề phi nông nghiệp tăng nhanh.
 Đô thị hoá đã làm cho các hộ gia đình trở nên linh hoạt hơn, đa dạng hoá
việc làm của lực lượng lao động trong hộ gia đình.
 Đô thị hoá tạo ra xu hướng lao động của các hộ gia đình dịch chuyển từ
lao động tự làm/làm kinh tế hộ sang lao động làm thuê/ làm công ăn
lương.
(ii) Tuy nhiên, đô thị hoá cũng có một số tác động tiêu cực khiến cho một bộ
phận dân cư gặp phải những khó khăn, trở ngại trong quá trình thích nghi với
hoàn cảnh sống mới, đặc biệt trong tìm kiếm, chuyển đổi việc làm phi nông
nghiệp:
 Đô thị hoá gây nên tình trạng thất nghiệp hữu hình của lao động trong
các hộ gia đình.
 Phần lớn lực lượng lao động của các hộ gia đình chưa đáp ứng được kịp
thời về chuyên môn kỹ thuật để có thể chuyển đổi việc làm sang lĩnh vực
phi nông nghiệp.
 Những vấn đề xã hội nảy sinh của quá trình đô thị hoá như tệ nạn xã hội,
phân hoá giàu nghèo , tạo nên sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, gây
ảnh hưởng đến an ninh trật tự trong xã hội.
7. Khung lý thuyết

thị
Chính sách phát
triển kinh tế - xã
hội
Quá trình đô thị hoá

- Diễn ra việc thu hồi đất;
- Hình thành các cụm, khu công
nghiệp;
- Hình thành các cụm, khu đô thị
mới.

Hộ gia đình bị thu hồi
đất
(Lực lượng lao động
của hộ gia đình)
Hộ gia đình không
bị thu hồi đất
(Lực lượng lao động
của hộ gia đình)

Chuyển đổi cơ cấu
lao động, việc làm
của hộ gia đình

20
Trên cơ sở khung lý thuyết, có thể đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản để đánh
giá tác động của đô thị hoá đến cơ cấu lao động và việc làm của các hộ gia đình
ở huyện Từ Liêm, Hà Nội như sau:
- Thời điểm đánh giá đối với hộ gia đình bị thu hồi đất: Thời điểm trước

Hải Phòng, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Hà Tây, Cần Thơ và Bình Dương với mục tiêu:
+ Đánh giá thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu
hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế, xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia hiện nay, chỉ ra những thành
tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của vấn đề này.
+ Đề xuất các quan điểm, phương hướng, giải pháp và các điều kiện giải
quyết thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các
khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhu cầu
công cộng và lợi ích quốc gia những năm tới.
- "Nghiên cứu đề xuất phương án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá gắn với công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trên địa bàn thành phố Hà Nội" - Đề tài khoa học và công
nghệ cấp Thành phố - 2005. Cùng với xu thế khách quan và tất yếu của đô thị
hoá là sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở các vùng bị thu hồi
đất sản xuất nông nghiệp, trong đó vấn đề giải quyết việc làm cho người lao
động thuần nông gặp phải những trở ngại lớn khi họ buộc phải chuyển đổi từ
việc làm nông nghiệp không cần đến trình độ chuyên môn kỹ thuật sang việc
làm phi nông nghiệp đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Nghiên cứu
này hướng đến đề xuất những giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn với
phương án khả thi và mô hình phù hợp với xu thế đô thị hoá nhanh và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành Hà Nội.

22
- Đề tài nghiên cứu: "Thị trường đất công nghiệp và thương mại và những
tác động tới người nghèo ở Việt nam - Kết quả nghiên cứu tại 6 tỉnh: Vĩnh Phúc,
Hà Tây, Quảng Nam, Bình Định, Long An và Cần Thơ". - Ngân hàng phát triển
Châu á - Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo - 2005. Mục tiêu của
nghiên cứu là khảo sát các quy trình, giao dịch đất đai trên thị trường đất đai
công nghiệp và thương mại; xem xét những tác động của chúng tới các hộ gia
đình bị thu hồi đất; cung cấp thông tin cho quá trình hoạch định chính sách

hội trên cơ sở cho rằng mỗi hành động đều có thể được miêu tả bằng 3 giá trị cơ
bản: 1. Thực tế của tình huống; 2. Những nhu cầu của chủ thể hành động; 3. Sự
đánh giá tình huống của chủ thể hành động luôn có xu hướng cân bằng những
nhu cầu cá nhân của mình với những đòi hỏi xã hội.
Mặc dù nhận thấy rằng có thể có xung đột giữa những nhu cầu của chủ
thể hành động và những khuôn mẫu cần thiết cho sự định hướng nhằm duy trì hệ
thống, song ông lại cho rằng các chủ thể hành động luôn sẵn sàng tìm cách dung
hoà để duy trì hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng. Như vậy, một hệ thống bất kỳ
trong đó kể cả hệ thống hành động phải được đáp ứng bằng một hệ thống chức
năng. Hệ thống phải phù hợp với môi trường, đồng thời nó cũng làm môi trường
phải phù hợp với những đòi hỏi của hệ thống đó.
Trong hệ thống, giữa các bộ phận phải có mối quan hệ với nhau để tạo ra
quan hệ chỉnh thể của hệ thống. Một hệ thống xác định cần phải đạt tới mục tiêu
xác định và bất kỳ hệ thống nào cũng phải có trang bị công cụ hay phương tiện
phù hợp để duy trì các hoạt động của nhóm, đảm bảo hoạt động của các bộ phận
và của các cá nhân. Những động cơ hoạt động của các thành phần, của các cá
nhân trong một nhóm cũng thường xuyên biến đổi phụ thuộc vào điều kiện môi
trường, văn hoá, xã hội. Từ luận điểm trên, Parsons đã đưa ra sơ đồ lý thuyết hệ
thống chức năng (AGIL), trong đó:
A (Sự phù hợp với mục tiêu - Adaptation ): Những đòi hỏi về mặt thích nghi,
thích ứng của một hệ thống đối với những yêu cầu cấp bách của ngoại cảnh. Hệ
thống phải phù hợp với môi trường, đồng thời nó cũng làm môi trường phải phù
hợp với những đòi hỏi của hệ thống đó.
G (Goal attainment - Đạt được mục đích, đạt tới mục tiêu): Một hệ thống xác
định cần phải đạt tới mục tiêu xác định. Mục tiêu là một đòi hỏi tất yếu để duy
trì xu hướng hành động.
I (Integration - Liên kết): Phối hợp các hoạt động, điều hoà và giải quyết những
mâu thuẫn, khác biệt trong chỉnh thể hệ thống.

24

tính liên tục, tức là những chuyển đổi quan sát được không phải chỉ là những
chuyển đổi bề ngoài và trong chốc lát. Ít nhất những chuyển đổi đó phải kéo dài
hơn nhiều so với một phương thức nhất thời nào đó.
Có thể định nghĩa về biến đổi xã hội như sau: Biến đổi xã hội là tất cả các
chuyển đổi đã quan sát được trước đây có tác động, không chỉ tạm thời hay

25
chốc lát, đến cấu trúc hay chức năng của tổ chức xã hội của một tập thể nào đó
và thay đổi tiến trình lịch sử của tập thể đó.[32]
Các nhà xã hội học theo trường phái chức năng quan niệm rằng: “Biến đổi
xã hội là biến đổi các chức năng tương ứng với các thiết chế xã hội”.
Marx và Engels đã giải thích nguồn gốc và sự tiến triển của xã hội đô thị,
phân tích sự kết tinh ở thời kỳ hiện đại và chỉ ra rằng cần thiết phải đấu tranh
làm sao để có thể kích động và làm chai cứng hai giai cấp đối lập: giai cấp của
những người nắm giữ và kiểm soát các phương tiện sản xuất và giai cấp vô sản
hoàn toàn bị mất hết quyền lợi [33,313].
Trên cơ sở các lý thuyết: “Lý thuyết cấu trúc - chức năng” và “Lý thuyết
biến đổi xã hội", phần nào chúng ta có thể hiểu được rằng quá trình đô thị hoá
nông thôn là một xu thế khách quan và tất yếu trong tiến trình phát triển của đất
nước theo định hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Bản chất của đô thị hoá là
sự phát triển các khu dân cư đô thị mang tính chất công nghiệp, các cụm kinh tế
công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng cơ sở. Đô thị hoá tạo cơ sở thúc đẩy phát
triển phân công lao động xã hội, cơ cấu lại kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Như vậy, khi thực hiện đô thị hoá, các khu vực được đô thị hoá có
sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức: thay đổi về tổ chức dân cư, về tổ
chức kinh tế - xã hội. Tương ứng với sự thay đổi về cấu trúc này là sự thay đổi
về chức năng sao cho phù hợp với tổ chức dân cư, kinh tế và xã hội mới. Cụ thể:
- Đô thị hoá tác động thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn,
chuyển lao động nông thôn sang làm các công việc thuộc lĩnh vực công nghiệp,
xây dựng và thương mại dịch vụ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status