M U
1. Tớnh cp thit ca ti
Ch tch H Chớ Minh l ngi sỏng lp ng Cng sn Vit Nam, Nh
nc, Quõn i nhõn dõn Vit Nam v cng l ngi t nn múng cho
nn ngoi giao Vit Nam thi k hin i. Trong ton b ni dung phong
phỳ ca t tng H Chớ Minh v cỏch mng Vit Nam, nhng nguyờn lý,
quan im, lun im v ng li quc t chớnh sỏch i ngoi v v ngoi
giao Vit Nam chim mt v trớ quan trng.
T tng ngoi giao H Chớ Minh cựng vi lý lun ca ng trờn cỏc
lnh vc quc t v i ngoi hp thnh mt chnh th. T tng H Chớ
Minh l ti sn tinh thn to ln ca ng v dõn tộc ta
1
, l kim ch nam
cho hot ng quc t v ngoi giao ca ng v Nh nc ta.
Trong hot ng ca mỡnh, khi gn phong tro yờu nc vi phong
tro cỏch mng th gii, Nguyn i Quc - H Chớ Minh rt coi trng n
khu vc ụng Nam , vn cú quan h truyn thng lõu i v li ích
chung v c lp dõn tộc v tin b xó hi. im ni bt trong t tng H
Chớ Minh l xu hng on kt v hp tỏc khu vc. T tng ny hỡnh
thnh qua nhiu giai on gn vi quỏ trỡnh u tranh cỏch mng ca Ngi,
ó cú tỏc dng c th v ngy nay vn cú ý ngha to ln.
Trong xu th tng cng liờn kt khu vc, ch trng ca ng a
nc ta gia nhp ASEAN ó c chng minh l ỳng n v kp thi trc
tỡnh hỡnh thc t nhng nm cui ca thp k 80, u thp k 90 th k XX.
ng ta ó sm nhn thy s cn thit phi m rng, phỏt trin hn na mi
quan h lỏng ging, hu ngh vi cỏc nc trong khu vc v ASEAN l mt
i tỏc quan trng ụng Nam m chỳng cn hng ti. ASEAN l mt
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, HN 2001, tr.84.
tổ chức khu vực có uy tín, có mối quan hệ rộng rãi, có nền kinh tế phát triển
năng động. Việc tham gia ASEAN sẽ đem lại cho Việt Nam nhiều lợi Ých
Minh với xu hướng đoàn kết, hợp tác khu vực Đông Nam Á và chủ trương
của đảng đưa Việt Nam hội nhập với khu vực.
- Về lịch sử nghiên cứu vấn đề: Nghiên cứu về tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh có nhiều công trình nghiên cứu như: Tư tưởng ngoại giao Hồ
Chí Minh của tác giả Nguyễn Dy Niên; Hoạt động đối ngoại của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống pháp của tác giả Đặng văn Thái;
Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1954 - 1969 của tác giả
Trần Minh Trưởng; Tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh của tác giả Đinh
Xuân Lý Song chưa có một công trình nào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh với xu hướng đoàn kết, hợp tác khu vực Đông Nam Á và sự vận dụng
của Đảng đưa nước ta hội nhập với khu vực. Vì vậy, kế thừa kết quả nghiên
cứu của các công trình đó, Tác giả luận văn tập trung làm rõ Tư tưởng Hồ
Chí Minh với xu hướng đoàn kết, hợp tác khu vực Đông Nam Á và sự vận
dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
4. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu và trình bày trên cơ sở những quan điểm
phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ quốc tế và
đường lối đối ngoại.
4.2. Nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng các tài liệu của Đảng về đối ngoại bao gồm:
Các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương
Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về đường lối đối ngoại và công tác đối ngoại.
Các tác phẩm, bài nói, bài viết hoặc phát biểu của các đồng chí lãnh
đạo Đảng và Nhà nước.
4.3. Các phương pháp sử dụng khi nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và hệ thống
các phương pháp như phân tích, tổng hợp, thống kê… nhằm làm sáng tỏ những
vấn đề đặt ra trong luận văn.
cổ vũ lẫn nhau. Vì vậy, bằng nhiều hoạt động khác nhau, Người đã phấn đấu
làm cho các dân téc thuộc địa từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết
nhau hơn, và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông. Tư
tưởng đoàn kết quốc tế giữa các dân téc phương Đông là biểu hiện của sự
tiếp thu tư tưởng của Mac - Lênin về “ vô sản toàn thế giới và các dân téc bị
áp bức đoàn kết lại” trong cuộc đấu tranh giải phóng dân téc.
Cuối năm 1924, khi đã trở thành một cán bộ cốt cán của Quốc tế cộng
sản, Nguyễn Ái Quốc đước Bộ phương Đông và Ban chấp hành Quốc tế
cộng sản điều động tới Quảng Châu (Trung Quốc). Về danh nghĩa công
khai, Người là phóng viên của hãng thông tấn Rôxta (Thông tấn xã Nga Xô
viết), và là một nhân viên phiên dịch, giúp việc cho cố vấn Bôrôđin bên cạnh
chính phủ Trung Hoa Quốc Dân Đảng, do Tôn Trung Sơn đứng đầu, đóng
tại Quảng Châu, chống chọi với chính phủ phản động ở Bắc Kinh, do Đoàn
Kỳ Thuỵ đứng đầu. Trong nội bộ, Người là uỷ viên bộ Phương Đông của
Quốc tế cộng sản, phụ trách công tác vùng Đông Nam Á.
Năm 1925, theo sự phân công của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc
trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở Đông Nam Á. Đây là thời kỳ đầu
tiên thử thách và kiểm nghiệm nhận thức cách mạng của người trong thực
tiễn sinh động, phức tạp của phong trào giải phóng dân téc ở Đông Nam Á.
Đồng thời hoạt động thực tiễn ở đây cũng bổ sung làm phong phó lý luận
cách mạng của người đã tiếp thu được. Với sự ra đời của Hội liên hiệp các
dân téc bị áp bức Á Đông( 12- 1924) do Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập,
lần đầu tiên trong lịch sử, các nước Á Đông có chung một tổ chức cách
mạng. Năm 1927, Bộ tuyên truyền của hội này đã giúp Người xuất bản cuốn
“Đường cách mạng”.
Tôn chỉ, mục đích của Hội là đoàn kết các dân téc bị áp bức ở
Châu Á trong mặt trận chung chống đế quốc, thực dân, giải phóng dân
téc. Hội viên là những phần tử yêu nước của Việt Nam, Trung Quốc,
Triều Tiên, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia…Với tổ chức này, các tổ
chức ở châu Á nói chung các nước Đông Nam Á nói riêng có điều kiện
lập Đảng cộng sản Malaixia
Như vậy, trong 5 năm(1925 - 1930) tư tưởng về đoàn kết giữa các dân
téc bị áp bức đã biến thành tổ chức hoạt động cách mạng, có tác dụng lớn
trong sự phát triển của phong trào yêu nước vùng Đông Nam Á.
Sự phát triển của phong trào những năm 30 thể hiện ở sự ra đời của
các Đảng cộng sản ở Việt Nam, Lào, Xiêm, Malaixia(1930),
Philippin(11/1930), Mianma(1930) mà Nguyễn Ái Quốc góp phần không
nhỏ. Sự ra đời của các đảng vô sản, sự lớn mạnh của phong trào quần chúng
ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á đặt cơ sở để đến khi thời cơ đến, tuỳ
điều kiện của mình, mỗi dân téc có thể đứng lên giành chính quyền.
Sau khi Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giúp đỡ việc sáng lập các Đảng
cộng sản ở một số nước Đông Nam Á, mối quan hệ của các đảng trong khu
vực thêm chặt chẽ.
Tháng 2/1941, sau 30 năm xa tổ quốc, Nguyễn ái Quốc trở về nước
trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam và Đông Dương.
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra đời, hoà bình lập lại ở đông Dương. Nhiều quốc gia ở Đông Nam Á ở
những mức độ khác nhau cũng lần lượt giành được độc lập:
Campuchia(8/1945); Inđonêxia(17/8/1945);Lào(12/10/1945), cuộc đấu tranh
giải phóng dân téc của nhân dân Malaixia kéo dài từ tháng 8/1945 đến
8/1957 mới buộc chính phủ Anh tuyên bố trao trả độc lập, Mianma giành
độc lập vào năm 1947 - 1948… Nhưng các nước Âu - Mỹ một lần nữa lại
quay lại xâm lược các nước Đông Nam Á. Mét làn nữa nhân dân trong khu
vực lại đoàn kết, hợp tác với nhau để bảo vệ độc lập, tiếp tục sự nghiệp giải
phóng dân téc.
Cách mạng tháng Tám thành công, thế giới biết thêm tên tuối một
chính khách lớn: Hồ Chí Minh - Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Hồ Chủ tịch lại vận dụng đường lối liên hiệp các dân téc yêu chuộng độc
lập, tự do hoà bình trên thế giới, trước hết là trong vùng Đông Nam Á.
1.2. Xu hướng hợp tác, đoàn kết các nước Đông Nam Á để bảo vệ
thuốc men, điện đài cho nhân dân Việt Nam. Ngay từ đầu cuộc kháng chiến
chống Pháp, chính phủ Thái Lan lúc bấy giê đã tạo điều kiện thành lập các
lực lượng vũ trang của Việt kiều về Nam Bộ hoạt động.
Ngày 20/7/1947 thực dân Hà Lan bội ước mở cuộc tấn công xâm lước
Inđônêxia, ngày 3/8/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tõ rõ sự đồng tình
của chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với cuộc đấu tranh giành độc lập
của nhân dân Inđônêxia.
Từ 1958-1959 đến trước ngày từ giã cõi đời 1969, Hồ Chủ tịch đã
nhiều lần tiếp xúc, trao đổi thư, điện với Tổng thống Xucacnô của
Inđônêxia, Hoàng thân Xuphanuvông của Lào, Quốc trưởng Xihanuc của
Campuchia.
Như vậy, với sự đoàn kết với các lực lượng cách mạng trong khu vực,
cuộc kháng chiến chống pháp, cũng như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước của nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi lớn. Trong sự nghiệp đổi
mới hiện nay của nước ta, tư tưởng đó lại được kế thừa và vận dụng một
cách đúng đắn vào việc mở cửa hội nhập với các nước trong khu vực.
Tư tưởng đoàn kết hợp tác khu vực của Chủ tịch Hồ Chí Minh được
hình thành trong quá trình đấu tranh giải phóng dân téc và xây dựng xã hội
tiến bộm hạnh phóc của các dân téc Đông Nam. Nó đã góp phần thắng lợi
trong sự nghiệp giành độc lập, tự do của nhân dân khu vực và ngày nay trở
thành xu hướng chung của các dân téc Đông Nam Á trong xây dựng đất
nước, trong hợp tác và phát triển.
Trong các nước Đông Nam Á Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng các dân téc
trên bán đảo Đông Dương, chủ nghĩa thực dân thực hiện chính sách “chia để
trị”, gieo rắc và khơi sâu hận thù dân téc, nhằm làm cho nhân dân Cao Miên,
Lào “ác cảm dân téc Việt Nam, không có chút thiện cảm nào đối với nhau.
Ly gián dân téc để ngăn cản sự đoàn kết cách mạng của các dân téc là một
mục đích. Một mục đích khác nữa là đem dân téc này bắn giết dân téc khác”.
Ngoài ra, “sự biệt lập”, “thiếu sự tin cậy lẫn nhau” đã làm suy yếu các dân
téc phương Đông.
chủ cộng hoà đã liên lạc với vua Lào Xixavang Vông và Hoàng Thân
Xuphanuvông nhằm phối hợp hành động giữa 2 nước.
Ngày 12/10/1945 chính phủ lâm thời Lào tuyên bố nền độc lập của Lào,
Ngày 14/10/1945, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã gửi điện chúc
mừng, tuyên bố công nhận chính phủ Lào và đề nghị thiết lập quan hệ ngaọi
giao giữa hai nước.
Ngày 30/10/1945, Hiệp ước Liên minh quân sự giữa Chính phủ Việt Nam
dân chủ cộng hoà và Chính phủ Lào Itxala được ký kết. Theo đó các đơn vị
bộ đội Lào và Việt Nam sẽ phối hợp cùng chiến đấu chống kẻ thù chung là
thực dân pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập của dân téc mình. Với sự kiện
này, một thời kỳ mới trong quan hệ Việt Nam - Lào được bắt đầu.
Với Campuchia, ngày 14/8/1945, chính phủ Khơme độc lập ra đời do ông
Sơn Ngọc Thành làm Thủ Tướng. Tháng 9/1945 thực dân Pháp trở lại xâm
lược Campuchia, Sơn Ngọc Thành bị bắt, quân đội Pháp lập chính phủ bù
nhìn do Hoàng Thân Môniret đứng đầu. Một số người trong chính phủ Sơn
Ngọc Thành chạy về vùng biên giới giáp với Việt Nam lập ra Khơme
Itxarắc. Sau sự kiện nói trên, Chính phủ ta đã chỉ thị cho uỷ ban kháng chiến
Nam bộ chủ động giúp đỡ Khơme Itxarắc xây dựng lực lượng và tổ chức
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Cuối năm 1946, một đơn vị vũ
trang của Campuchia đã phối hợp với bộ đội Việt kiều đánh chiếm thị xã
Xiêm Riệp, mở đầu liên minh chiến đấu Việt Nam - Campuchia trong thời
kỳ mới.
Hội nghị cán bộ về công tác giúp đỡ Lào và Campuchia ngày 15 tháng
Hai 1949 đề ra bốn phương châm của công tác quốc tế với nước bạn: 1-
Không đứng trên lợi Ých Việt Nam mà làm công tác Lào – Miên; 2- Nắm
chắc nguyên tắc dân téc tự quyết, do Lào, Miên tự quyết định lấy;3- Không
đem chủ trương, chính sách, nguyên tắc của Việt Nam ứng dụng vào Lào,
Miên như lắp máy; 4- Cần giúp đỡ Lào, Miên để bạn tự làm lấy.
Để đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động phối hợp chống kẻ thù chung của
cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia, Chủ tịch Hồ Chí Minh và trung
Phômvihẳn. Đồng chí Trường Chinh sau đó nhận xét: “Việc Bác sang thăm
đoàn Lào trước là một cử chỉ rất khiêm tốn, rất đẹp. Nhiều cán bộ ta sang
Lào công tác, làm việc tốt, thái độ đúng đắn, được các bạn Lào khen. Nhưng
cũng có cán bộ bị chê vì thái độ chưa đúng mức. Điều đó rất nên tránh”. Bác
Hồ đã nhắc nhở các đồng chí lãnh đạo Đảng ta cần giáo dục các cán bộ Việt
Nam khắc phục những mặt thiếu sót đó.
Từ năm 1954, trong vấn đề Đông Dương, quan điểm của các nước lớn xã
hội chủ nghĩa, cũng như của Mỹ, Anh, Pháp diễn biến phức tạp; lợi Ých đan
xen, vừa đấu tranh, vừa nhân nhượng. Quan hệ giữa Việt Nam và các nước
láng giềng bắt đầu chịu các tác động trực tiếp, đa chiều từ chính sách và
quan hệ giữa các nước lớn liên quan.
Trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, dưới sự lãnh đạo của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai các quan hệ với
Lào và Campuchia vừa nguyên tắc vừa linh hoạt, phù hợp với tình hình mỗi
nước và nhiệm vụ cách mạng nước ta. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thiết lập
quan hệ ngoại giao với các Vương quốc Lào và Campuchia, ủng hộ nền
trung lập của Lào và Campuchia, mặt khác giúp đỡ các lực lượng kháng
chiến ở hai nước này phù hợp với tình hình cụ thể từng thời kỳ. Trong bối
cảnh quan hệ của các nước lớn với ba nước Đông Dương ngày càng trở nên
phức tạp, nhờ xem trọng ý nghĩa chiến lược của quan hệ với các nước láng
giềng, ta đã triển khai quan hệ với Lào, Campuchia khéo léo và linh hoạt,
hình thành mặt trận đoàn kết của nhân dân Đông Dương, phục vụ đắc lực
cuộc kháng chiến chống xâm lược, tăng cường các lực lượng cách mạng tại
nước bạn.
Phát biểu trong buổi tiễn đoàn cấp cao Lào(3/1963), Chủ tịch Hồ Chí
Minh ca ngợi quan hệ Việt Nam - Lào:
Thương nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua
Việt - Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.
Đông Nam Á khác” [39, tr. 108]. Vào thời điểm diễn ra Đại hội, vấn đề
Campuchia là trở ngại chính cho việc phát triển quan hệ Việt Nam -
ASEAN. Vì vậy, Đại hội nhấn mạnh: “Chúng ta mong muốn và sẵn sàng
cùng các nước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở Đông
Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây dựng Đông Nam Á
thành khu vực hoà bình, ổn định và hợp tác" [39, tr. 108].
Thực hiện và cụ thể hoá đường lối đối ngoại với các nước ASEAN mà
Đại hội VI đã đề ra, tháng 5/1988, Bộ Chính trị khoá VI đã họp Hội nghị lần
thứ 13 bàn về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới. Bộ
Chính trị chủ trương rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam khái
Campuchia, coi đây là giải pháp phá bỏ những rào cản và sự bao vây cô lập
về chính trị của thế giới đối với ta. Bộ Chính trị nhấn mạnh ngoài việc tăng
cường quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, Lào và Campuchia, mở rộng
quan hệ kinh tế với các nước phương Tây và các nước ASEAN là một yêu
cầu khách quan. Để mở rộng quan hệ đối ngoại Việt Nam - ASEAN, Bộ
Chính trị cho rằng:
Cần có chính sách toàn diện đối với Đông Nam Á, trước hết
là tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với Indonesia, phá vỡ thế
bế tắc trong quan hệ với Thái Lan, mở rộng quan hệ hợp tác về
kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá với các nước trong khu vực,
giải quyết những vấn đề tồn tại giữa nước ta với các nước này
bằng thương lượng, thúc đẩy việc xây dựng khu vực hoà bình, ổn
định, hữu nghị và hợp tác [40, tr.12].
Chủ trương đúng đắn của Đảng nhằm tăng cường quan hệ với các nước
láng giềng khu vực tiếp tục được thể hiện ở Hội nghị Trung ương lần thứ 6
(khoá VI), Hội nghị chỉ rõ:
Góp phần tích cực giải quyết vấn đề Campuchia bằng chính
trị, đồng thời chuẩn bị rút hết quân sớm trong trường hợp chưa có
giải pháp về Campuchia. Xây dựng mối quan hệ mới với các nước
ASEAN, tham gia tích cực vào việc biến Đông Nam Á thành khu
thời mở rộng quan hệ với các nước tư bản phát triển, với các nước
khác và tổ chức quốc tế [44, tr. 6-7].
Hội nghị Trung ương 3 (khoá VII) đã ra nghị quyết về đối ngoại, Hội
nghị xác định rõ: Nhiệm vụ đối ngoại là giữ vững hoà bình, mở rộng quan
hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào
cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân téc, dân
chủ và tiến bộ xã hội. Trước tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức
tạp, Hội nghị đã đề ra tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta là: Giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã
hội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí,
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta, cũng như diễn biến của tình hình
thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng ta có quan hệ. Hội
nghị cũng đề ra 4 phương châm để vận dụng xử lý các mối quan hệ quốc tế:
Một là, bảo đảm lợi Ých dân téc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ
nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Hai là, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng
hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại.
Ba là, nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế.
Bốn là, tham gia hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất
cả các nước.
Với ASEAN, Hội nghị đã đánh giá: Đông Nam Á liên quan mật thiết
tới yêu cầu tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho an ninh và phát triển của
Việt Nam. Các nước ASEAN phát triển kinh tế khá nhanh, đang đi tới quá
trình nhất thế hoá về kinh tế với việc lập khối mậu dịch tự do AFTA. Vì lợi
Ých an ninh và phát triển của Việt Nam, Hội nghị đề ra: Tiếp tục cải thiện
và mở rộng quan hệ với từng nước và với cả nhóm nước ASEAN trên cơ sở
bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình. Chú ý mở rộng hợp tác về kinh
tế, thương mại, khoa học công nghệ trên các lĩnh vực mà ASEAN có trình
độ cao, từng bước tham gia hợp tác khu vực với khẩu hiệu biến Đông Nam á
cho Ngoại trưởng Bruney, Chủ tịch đương nhiệm Uỷ ban Thường trực
ASEAN (ASC) chính thức đặt vấn đề Việt Nam xin gia nhập ASEAN. Tháng
2/1995 các nước ASEAN nhất trí sẽ tổ chức kết nạp Việt Nam vào ASEAN
trước phiên họp của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN lần thứ
28 tại Bruney. Ngày 28/7/1995 tại Bruney, lễ kết nạp Việt Nam vào ASEAN
được tổ chức.
Phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm tại lễ kết nạp
Việt Nam vào ASEAN đã nêu rõ:
Đây là sự kiện quan trọng có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ giữa
Việt Nam và các nước ASEAN, một mốc mới đánh dấu sự thay đổi
cục diện ở Đông Nam á sau 50 năm kể từ khi chiến tranh thế giới lần
thứ II kết thúc. Đây cũng là một nhân tố mới góp phần đẩy mạnh sự
hợp tác kinh tế - thương mại trong khu vực vì sự phồn vinh của mỗi
nước và của cả Đông Nam á. Sự kiện này đồng thời là bằng chứng
hùng hồn nói về xu hướng khu vực hoá đang phát triển mạnh mẽ
cùng với xu thế quốc tế hoá ngày càng gia tăng trong một thế giới tuỳ
thuộc lẫn nhau ngày càng rõ nét [21, tr. 415 - 416].
2.2.Chủ trương của Đảng tăng cường quan hệ Việt Nam - ASEAN
Trước tình hình thế giới diễn biến phức tạp, Đại hội VIII Đảng ta đã đề ra:
Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường
hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh
phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực
vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình độc
lập dân téc dân chủ và tiến bộ xã hội [46, tr.120].
Về đường lối đối ngoại, Đại hội VIII khẳng định:
Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng
mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh
thần Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nước trong cộng đồng
thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển. Hợp tác nhiều
cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng
cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thế giới… Có kế hoạch cụ thể
chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA” [48, tr. 60]. Hội
nghị đề ra nhiệm vụ “Xây dựng lé trình giảm dần thuế nhập khẩu theo Hiệp
định ưu đãi thuế quan (CEPT) áp dụng trong các nước ASEAN và các cam
kết quốc tế khác” [48, tr.76 - 77].
Gia nhập ASEAN được 5 năm, Việt Nam đã tham gia đầy đủ và tích
cực vào các hoạt động của Hiệp hội. Quá trình hội nhập nhanh chóng và
đóng góp tích cực của Việt Nam được các thành viên trong Hiệp hội đánh
giá cao. Để phát huy những kết quả của công tác đối ngoại nói chung và
quan hệ Việt Nam - ASEAN nói riêng, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ
quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng
đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [50, tr.119].