bài giảng giải phẫu so sánh động vật không xương sống - Pdf 25

PHẦN MỞ ĐẦU
I. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA GIẢI PHẪU SO SÁNH
ĐỘNG VẬT
Động vật là một thành viên quan trọng của quả đất do hoạt động sống
thường xuyên và tích cực của nó để sống và phát triển. Do đó con người trong
đấu tranh với thiên nhiên đã thường xuyên va chạm với thế giới động vật bao
quanh. Những hiểu biết về thế giới động vật được tích luỹ và ngày càng được
hoàn thiện bằng các môn học khác nhau, trong đó có giải phẫu so sánh động
vật. Bởi vậy, giải phẫu là một môn sinh học gắn liền với các môn sinh học
khác. Nó nghiên cứu tính đa dạng trong cấu trúc cơ thể và cơ quan động vật,
nghiên cứu những biến đổi trong cấu trúc cơ thể và cơ quan của giới động vật
trong quá trình tiến hoá. Trên cơ sở đó tìm ra các quy luật hình thành và giải
thích các nguồn gốc hình thành của cấu trúc cơ thể và cơ quan động vật, các
lập mối quan hệ chủng loại phát sinh của giới động vật và mối quan hệ chủng
loại phát sinh giữa các nhóm động vật với nhau.
II. CÁC BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA GIỚI ĐỘNG VẬT
1. Động vật đơn bào (Protozoa)
Sau khi sự sống đã xuất hiện trên trái đất, thế giới hữu cơ tiếp tục phát
triển mạnh mẽ, vươn tới những bước đường mới. Và bước quan trọng đầu tiên
là sự hình thành các cấu trúc tế bào. Đứng riêng về giới động vật mà xét, sự
hình thành tế bào đã dẫn đến hình thành một loại động vật ở bậc đơn giản
nhất của giới động vật là các động vật đơn bào (động vật nguyên sinh).
Phần lớn động vật nguyên sinh là những sinh vật đơn bào, nhưng có một
số đại diện của ngành có dạng tập đoàn được cấu tạo từ một hay nhiều tế bào.
Các tập đoàn động vật nguyên sinh chỉ là 1 tập hợp tế bào, chưa có sự hình
thành các mô, nên chưa thể coi là các động vật đa bào. Các tập đoàn động vật
nguyên sinh chỉ là các dẫn liệu vạch lại con đường hình thành động vật đa
bào. Từ đó tới các động vật đa bào nguyên thuỷ còn cả một bước nữa. Động
1
vật nguyên sinh là động vật ở bậc thấp nhất trong giới động vật. Bậc tiến hoá
tiếp theo là động vật đa bào.

Đây là bước hoàn chỉnh cấu tạo thứ nhất của động vật. Khác với Hải
miên, ở Sứa với đối xứng toả tròn, thực ra vẫn chưa phân biệt được đầu,
đuôi, phải trái, vì mọi cơ quan xếp đồng đều, quay tròn xung quanh cán dù.
Nhưng tối thiểu ở đây đã có thể phân biệt được hướng trên dưới. Bao giờ con
vật cũng quay mặy lưng lên trên, mặt miệng xuống phía dưới.
3
Kênh dẫn ngoài
Tế bào bao
Gai xương
Osculum
Tế bào cổ áo
Lỗ thoát nước nhỏ
Gai xương
Tế bào lỗ
Xoang giả
Lông nhọn
Osculum
Kênh phóng xạ
Kênh trong
Lỗ sơ cấp
Lỗ lưng
Lỗ thoát nhỏ
Osculum
Phòng
tiêm
mao
Kênh
trong
Lỗ thoát nhỏ
Hình 2. Sơ đồ các kiểu cấu tạo cơ thể của Thân lỗ (theo Hickman)

4
Hình 3. Sứa ống Physalia phisalis
lên nước ngọt, lên cạn, lên không trung, để tranh thủ chiếm lĩnh nơi ở, các
nguồn thức ăn còn bỏ trống.
Chính từ những yêu cầu bức thiết này của môi trường sống, qua chọn lọc
tự nhiên đã hình thành nên những động vật có đời sống di động tích cực, chủ
động đi tìm mồi và di cư sang môi trường sống mới. Một khi con vật chuyển
sang lối sống di động, nhất định tư thế của con vật trong không gian phải khác
đi, cụ thể là một đầu phải luôn luôn hướng về phía trước, một đầu hướng về
phía sau. Đầu hướng về phía trước nhất định là nơi va chạm nhiều hơn cả. Do
đó, cấu tạo của đầu này cũng phải biến đổi để thích ứng với nhiệm vụ của nó,
tập trung các cơ quan cảm giác, phát triển hạch não về phía đầu, toàn bộ hình
dạng ngoài cũng biến đổi. Mặt khác, lỗ miệng cũng dần dần dịch chuyển về
phía đầu để đón lấy thức ăn trên con đường di động. Như vậy, ở động vật đã
phát sinh đầu – đuôi rõ ràng.
Một biến đổi nữa trong cấu trúc cơ thể do đời sống di động của động vật
là: trong khi di động như vậy, nhất định một mặt phải áp xuống đáy, lên vách
tựa, mặt này dần dần dẹp hẳn xuống và trở thành mặt bụng của động vật, còn
mặt đối diện là mặt lưng. Nhưng ở động vật đã phân biệt mặt lưng, mặt bụng,
phía đầu, phía đuôi thì cũng đồng thời xác định được bên phải, bên trái. Động
vật bây giờ đã chuyển sang một cấu trúc mới đó là đối xứng hai bên. Cấu trúc
đối xứng hai bên là cấu trúc có ở đa số động vật đa bào cao, còn sống hiện
nay. Cấu trúc đối xứng hai bên có liên hệ với sự kiện của động vật, từ bỏ lối
sống đứng im chuyển sang lối sống di động tích cực bò dưới đáy. Và một khi
đã hình thành, nó ngày càng tỏ ra thích ứng và thận lợi cho sự di động của
động vật; sự sắp xếp đều đặn, cân bằng các cơ quan, lại càng giúp cho sự di
động của động vật được dễ dàng hơn. Chính vì vậy, cấu trúc đối xứng hai bên
cho đến nay vẫn là cấu trúc chiếm ưu thế trong toàn thể động vật đa bào.
Sau này còn có một bọn động vật đa bào trở lại cấu trúc đối xứng toả
tròn, đó là nhóm động vật da gai, như cầu gai, sao biển. Đối xứng toả tròn này

6
dẫn đến hiện tượng phân đốt cơ thể động vật. Hiện tượng giải phẫu phân đốt
cũng chỉ là bước phát triển, trong hướng tiến hoá chung của động vật là
không ngừng đạt tới khả năng sống cao nhất: cấu
trúc cơ thể từ vô hướng, đến đối xứng toả tròn, đối
xứng hai bên rồi đến phân đốt.
Hiện tượng phân đốt, trước hết giúp cho
con vật vận chuyển linh hoạt. Nhưng hiện
tượng phân đốt có thể không chỉ có ý nghĩa
như vậy. Đi sâu vào cấu tạo cơ thể của nhóm
động vật phân đốt ta thấy mỗi đốt có đầy đủ cả một
hệ thống cơ quan: một đôi hạch thần kinh, một đôi thận, một phần tim, một hệ
thống cơ, một phần thể xoang cơ thể… có đầy đủ khả năng độc lập thích ứng
với môi trường xung quanh như một cơ thể riêng biệt. Cơ thể phân đốt vừa là
một (toàn bộ cơ thể) lại vừa là nhiều (các đốt).
Ở Giun dẹp, Giun tròn, chưa phân đốt chỉ có hiện tượng một cơ thể toàn
bộ thích ứng và biến đổi theo một hướng nhất định. Nhưng ở động vật phân
đốt, ngoài hiện tượng thích ứng và biến đổi của toàn bộ cơ thể, còn có hiện
tượng thích ứng và biến đổi của từng phần cơ thể, của các đốt; sự biến đổi của
từng phần cơ thể này nhiều khi lại theo chiều hướng khác nhau, dẫn tới sự
hình thành các phần khác nhau trên cơ thể như đầu, ngực, bụng….
Hoạt động sống của động vật phân đốt linh hoạt và phức tạp hơn nhiều.
Hiện tượng phân đốt đã cung cấp thêm cho động vật nhiều khả năng thích ứng
mới, là cơ sở cho chiều hướng phát triển sau này của động vật.
Cùng với hiện tượng phân đốt cơ thể, là hiện tượng chi bên, cơ quan vận
chuyển chính thức của động vật. Sự phát triển chi bên (chân) cũng là một
bước phát triển mới mẻ ở động vật, đáp ứng yêu cầu của môi trường sống đòi
hỏi động vật trong điều kiện sống ngày càng khó khăn, phải tận dụng hơn nữa
môi trường sống, không phải chỉ hoạt động trong nước mà còn ở dưới đáy và
7

2. Tiến hoá thoái bộ
Tiến hoá thoái bộ còn gọi là thoái bộ hình thái sinh lý toàn năng. Xảy ra
khi động vật chuyển sang đời sống kí sinh hoặc định cư. Đời sống này ít vậ
động, do đó một số cơ quan tiêu giảm,: như cơ quan vận động, giác quan…
đồng thời phát triên các đặc điểm khác, như: vỏ cuticun, giác bám… kết quả
là xuất hiện hàng loạt nhóm Giun Sán kí sinh.
3. Thích nghi hẹp
Hướng tiến hóa này cũng có sự biến đổi cấu tạo cơ thể, nhưng chỉ giúp
cho cơ thể thích ứng với một môi trường nhất định. Nếu động vật càng thích
ứng với môi trường sống cố định của mình thì càng bó hẹp mình vào 1 con
đường riêng biệt và ngày càng cách xa con đường tiến hoá chung của sinh giới.
Thích nghi hẹp chỉ làm cho con động vật biến đổi khác đi chứ không
nâng cao về tổ chức và cấu tạo và không tạo cho cơ thể những khả năng để
sẵn sàng thích ứng với môi trường mới. Xét cho cùng, thích nghi hẹp lại ngăn
chặn khả năng tiến hoá của động vật. Động vật thích nghi hẹp chỉ biến đổi
trong cấp độ của mình.
4. Mối quan hệ giữa các quy luật trong sự tiến hoá của động vật
Trong lịch sử tiến hoá của động vật, cả 3 hướng tiến hoá này đan xen với
nhau. Ngay từ những nhóm động vật đơn giản cũng có sự tiến hoá tiến bộ hoặc
tiến hoá thoái bộ để tạo nên những bậc động vật tiến bộ hơn hoặc thoái bộ hơn.
9
Sau này, ngay trong cùng một bậc cũng có thể xảy ra 2 hiện tượng đồng
thời. Hoặc tiếp tục đạt tới nhũng tiến bộ hình thái mới để tạo ra những bậc
động vật mới. Hoặc đi vào thích nghi hẹp tạo thành một dòng khác cùng song
song biến đổi và tồn tạo cho đến ngày nay.
IV. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI ĐỘNG VẬT
Từ khi ra đời tới nay, động vật đã trải qua nhiều bậc tiến hoá, cứ mỗi bậc
lại có những biến đổi thích nghi với các điều kiện sống khác nhau. Nhờ đó mà
dần dần hình thành nên toàn bộ các loài động vật đông đảo, đa dạng, muôn
hình muôn vẻ ngày nay.

Động vật cận đa bào (parazoa)
Ngành thân lỗ hoặc Hải miên (porifera hoặc spongia)
Động vật đa bào (eumetazoa)
Động vật có đối xứng toả tròn (radiata)
Ngành Ruột khoang (coeleterata)
Ngành sưứa lược (ctenophora)
Động vật có đối xứng hai bên (bilateria)
Động vật chưa có thể xoang (acoelomata)
Ngành Giun dẹp (plathelminthes)
Ngành Giun vòi (nemertini)
Động vật có thể xoang giả (pseudocoelomata)
Ngành Giun tròn (nematoda)
Ngành Giun cước (nematomorpha)
Ngành Giun bụng lông (gastrotricha)
Ngành kinorhyucha
Ngành priapulida
Ngành loricifera
Ngành trùng bánh xe (rotatoria)
Ngành Giun đầu gai (acanthocephala)
Động vật có thể xoang (coelomata)
Động vật có miệng nguyên sinh (protostomia)
Ngành thân mềm (mollusca)
Ngành Giun đốt (annelida)
Ngành có móc (onychophora)
Ngành Chân khớp (arthopoda)
Ngành động vật hình rêu (bryozoa)
Ngành động vật tay cuốn (brachiopoda)
Động vật có miệng thứ sinh (duterostomia)
11
Ngành da gai (echinodermata)

nguồn gốc phát sinh. Và cùng có một ý nghĩa hình thái học. Như các phần
phụ ở Giun đốt và phần phụ của Chân khớp. Đa số các cơ quan tương đồng
đều có chức phận khác nhau. Còn các cơ quan tương tự là những cơ quan
cùng làm một chức phận nhưng có cấu tạo khác nhau. Như mắt của Côn trùng
13
và mắt của chim. Những cơ quan tương tự có được trong thiên nhiên là do
hiện tương thích ứng hẹp của các động vật khác nhau với môi trường.
2. Sự tiến hoá của hệ thống cơ quan
Tổ chức cơ thể của động vật đa bào đi từ tế bào, mô, cơ quan và hệ cơ
quan. Ở động vật đa bào bậc thấp, một cơ quan giữ nhiều chức phận khác
nhau. Ở động vật đa bào bậc cao, các cơ quan có chức phận riêng biệt. Cơ
quan làm nhiệm vụ thống nhất các hoạt động của cơ thể đó là hệ thần kinh và
cảm giác. Cơ quan giữ chức năng nâng đỡ là hệ cơ, xương. Cơ quan làm
nhiệm vụ sinh sản là hệ sinh dục.
Cấu trúc cơ thể của động vật hiện nay là kết quả của cả một quá trình tiến
hoá lâu dài, bắt đầu bằng sự phân chia cơ quan và chức phận. Con đường tiến
hoá của các cơ quan là sự phân chia. Song sự phân chia lại phụ thuộc vào cơ
quan khác. Ví dụ như sự phân chia của các phần ruột phụ thuộc vào sự phát
triển của mạch máu. Song song với quá trình phân chia có quá trình tổng hợp,
vì thế đã hình thành nên hệ thần kinh chỉ huy chung.
Cấu tạo của các cơ quan liên hệ với các chức phận. Có những chức phận
chính dần mất đi và phát triển chức phận phụ. Do hoàn cảnh sống thay đổi,
một chức phận vốn là thứ yếu đã trở thành chủ yếu, làm cho cấu tạo cơ quan
biến đổi. Nhiều động vật có vú ở cạn có thể bơi lội trong các trường hợp cần
thiết, nghĩa là chân có chức năng chính là đi, còn chức năng phụ là bơi. Tuy
nhiên những động vật có vú thích nghi với đời sống ở nước như cá voi, chó
biển, báo biển có chi trước biến đổi thành tay chèo, do đó chúng bò trên cạn
rất khó. Cơ quan ngày càng phức tạp và hoàn thành nhiệm vụ tích cực hơn
khối lương công việc vao hơn mà đỡ tốn năng lượng hơn. Đó là sự tiến hoá
của các hệ cơ quan.

Sự phát triển các thể ở động vật đa bào có nét đặc biệt là liên tục phân
hoá, nghĩa là dận dà tăng cường sự đa dạng về cấu trdúc và chức năng trong
quá trình phát triển. Sự phân hoá này diễn ra chủ yếu trong thời kỳ phôi.
15
Trong khi đó, ở thực vật, sự phân hoá lại diễn ra chủ yếu ở giai đoạn hậu
phôi. Nhờ sự phân hoá về cấu trúc, chức năng mà cơ thể ở rộng khả năng
phản ứng truớc môi trường. Và trong quá trình phát triển cá thể thì đặc điểm
khác nhau càng về sau càng rõ.
Theo quy luật Hécken thì quá trình phát triển cá thể lặp lại một cách ngắn
ngủi quá trình phát sinh chủng loại. Tuy nhiên không nên hiểu là sự phát triển
các thể lặp lại đúng trình tự của các giai đọn trong lịch sử phát sinh chủng loại
một cách cứng nhắc.
Hécken cho rằng có hai quá trình là quá trình lặp lại các đặc điểm của tổ tiên
và quá trình phát triển xa tổ tiên do sự thích nghi của phôi với điều kiện sống.
Tóm lại, sự phát sinh chủng loại có liên quan đến sự phát triển cá thể và
ngược lại, quá trình phát triển các thể quyết định quá trình phát sinh chủng loại.
********************
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
1. Đối tượng, nhiệm vụ và nội dung môn giải phẫu so sánh động vật học là gì?
2. Các bước phát triển của giới và đã diễn ra như thế nào?
3. Trình bày những quy luật tiến hoá chung của giới động vật.
4. Trình bày mối quan hệ giữa phát triển cá thể và phát sinh chủng loại.
16
CHƯƠNG II VỎ DA
Da là lớp bọc ngoài cơ thể động vật, giới hạn cơ thể với môi trường và có
chức năng liên hệ giữa cơ thể với môi trường. Chức năng chủ yếu của da là
che chở và bảo vệ. Đồng thời da cũng có chức năng hô hấp và vận động.
Ngoài ra da còn tham gia bài tiết, điều hoà thân nhiệt.
Da có hai lớp: biểu bì ở ngoài và bì ở trong
I. Biểu bì (Epidermis)

quanh làm tăng diện tích tiếp xúc của vỏ với mặt nước.
2. Hải miên (bọt biển)
Biểu bì nguyên thuỷ là một lớp ngoại sinh chất rất mỏng ngăn cách môi
trường ngoài với trung chất.
3. Ruột khoang và Sứa lược
Đã bắt đầu có môm biểu bì gồm một lớp tế bào có tơ, ngoài có vỏ
cuticun. Tầng bì mang tơ, thoái hoá đần và chức phận vận động chuyển dần
cho yếu tố cơ bì.
4. Các ngành Giun
Biểu bì có cấu tạo khá phức tạp. Giun dẹp, biểu bì còn tơ (lông bơi), tiêu
giảm khi chuyển sang đời sống kí sinh. Dưới biểu bì có tầng cơ phát triển.
Biểu bì của chúng gắn chặt với tầng cơ ở phía dưới. Ở Giun tròn và Giun đốt
lớp biểu bì đã tách rời hoàn toàn lớp cơ, tạo thành nghững túi cơ da, làm
nhiệm vụ vận động.
Giun dẹp sống kí sinh, ngoài cùng có lớp cuticun mỏng. Giun tròn có lớp
cuticun dày, có rác dụng chống lại các tác dụng cơ học và dịch tiêu hoá của
vật chủ. Sự hình thành lớp vỏ cuticun dày đã ảnh
hưởng đến cách di chuyển của Giun tròn và
chúng lớn lên phải qua các lần lột xác.
Ở Giun đốt, biểu bì có tơ rung động chỉ gặp
ở những nhóm thấp. Tế bào biểu bì ở Giun đốt
còn tiết ra một lớp cuticun mỏng trong suốt để
bảo vệ cho cơ thể khỏi bị khô.
18
Hình 7. Cắt ngang phần thân của
giun ít tơ (theo Hickman)
Cuticul
Lông
Biểu bì
Cơ vòng

Lớp cơ bản
Lớp màng đáy
Lớp biểu bì
Tuyến vỏ
Màng đáy
Hình 9. Ve sầu lột xác
6. Thân mềm
Biểu bì thân mềm là vỏ có nhiều lớp, bọc toàn thân hay một phần thân để
bảo vệ. Vỏ này lớn lên cùng với sự lớn của cơ thể. Vỏ được hình thành do lớp
phía trên màng áo tiết ra.
Hầu hết vỏ Chân bụng xoắn ốc (chỉ đặc biệt có ở một ít loài hai mảnh,
như vỏ trai). Vỏ ốc thực là một ống rỗng hình chóp nón dài, cuộn tròn lại
quanh một trục tạo nên các vòng xoắn vỏ. Miệng vỏ có thể hở hoặc có nắp
đậy. Hình dáng, màu sắc, kích thước của vỏ rất khác nhau.
Cấu tạo của vỏ gồm hai đến ba lớp. Ngoài cùng là lớp sừng
(periostracum), giữa là lớp lăng trụ canxi, trong cùng là lớp xà cừ.
7. Da gai
Biểu bì của da gai có những tế bào xương thấm đá vôi làm thành vỏ bao
xung quanh. Da gai sống di động, lớp xương không phát triển, biểu bì hình thành
cơ quan vận chuyển. Da gai sống định cư, biểu bì làm thành vỏ để bảo vệ.
Cấu tạo biểu bị của động vật thay đổi theo chức phận và tiến hoá theo con
đường phân hoá, từ chưa có cấu trúc tế bào, đến có cấu trúc tế bào và mô.
II. Bì (Chorion)
Bì là lớp biểu mô liên kết của da, có nguồn gốc từ lá phôi giữa
(mesoderm). Động vật không xương sống có tầng bì không phát triển.
III. Các sản phẩm của vỏ da
Sản phẩm của vỏ da động vật không xương sống gồm có tuyến da, tế bào
tuyến, tế bào gai, lông, tơ, gai và các loại vảy.
Tuyến da của động vật khá phát triển.
Ở Giun đốt, biều bì có nhiều tuyến chất nhờ để Giun thích nghi với đời

ương chức năng so sánh, tổng hợp, lưu trữ và phát thông tin cần thiết để chỉ
huy một cách có hiệu quả.
Những chức năng trên được thực hiện bởi hai hệ thốngcó tương quan
chặt chẽ với nhau – đó là hệ nội tiết và hệ thần kinh.
Hệ thần kinh phát triển từ lá phôi ngoài (ngoại bì), có liên hệ trực tiếp đối
với môi trường bên ngoài. Hệ thần kinh có chức năng thống nhất các hoạt
động của cơ thể.
Nguyên nhân tiến hoá của hệ thần kinh do nhiều yếu tố, chủ yếu là do
tính bắt mồi và tập tính sinh lý. Hoạt động bắt mồi đòi hỏi hệ thần kinh và các
cơ quan cảm giác phát triển. Bởi vậy, khi động vật chuyển từ đời sống bắt
mồi tích cực sang sống thụ động, hệ thần kinh có xu hướng thoái hoá. Tập
tính sinh lý bảo đảm đời sống con vật như bản năng sinh dục, xây tổ.
Những động vật đa bào thấp, sự tiến hoá của hệ thần kinh phụ thuộc vào
tập tính sinh lý. Sự tiến hoá có ý nghĩa to lớn.
Có năm giai đoạn cấu trúc hệ thần kinh đánh dấu các giai đoạn phát triển
khác nhau của giới động vật.
1. Dạng phân tán là kiểu thần kinh mạng lưới đặc trưng của Ruột khoang
và Sán tiêm mao không ruột (Giun dẹp)
2. Dạng dây thần kinh đặc trưng cho Ruột khoang cao, đa số Giun dẹp,
Giun tròn, Song kinh (thân mềm) và Da gai.
22
3. Dạng hạch thần kinh phân đốt đặc trưng cho thân mềm (trừ song kinh).
4. Dạng hạch thần kinh không phân đốt đặc trưng cho Giun đốt và Chân khớp.
5. Dạng thần kinh ống đặc trưng cho dây sống.
B. Hệ thần kinh của động vật không xương sống
1. Động vật nguyên sinh
Các động vật đơn bào như Amíp, Trùng tiêm mao không có hệ thần kinh,
bởi vì cơ thể của chúng được cấu tạo toàn bộ chỉ từ một tế bào. Amíp có đặc
điểm là không có các cơ quan phụ để di chuyển, còn Trùng tiêm mao có hàng
ngàn tiêm mao nhỏ bao phủ quanh mình, cần phải có một cơ chế nào đó để

kích thích mạnh hợn cả cơ thể và các
xúc tu sẽ cuộn thành một cục tròn.
4. Giun dẹp
Giun dẹp là ngành động vật còn ở mức độ tổ chức thấp trong giới động
vật có đối xứng hai bên, có ba lá phôi và chưa có thể xoang. Cơ thể có sự
phân hoá đầu, đuôi, lưng, bụng, di chuyển có định hướng.
Hệ thần kinh tập trung thành não trước với nhiều đôi dây thần kinh chạy
dọc, thường có 2 dây bên phát triển hơn. Như vậy trên nền đối xứng toả tròn,
hệ thần kinh chuyển dần sang đối xứng hai bên.
Sán tiêm mao (Turbellaria) thấp, hệ thần kinh vẫn ở mức độ phân tán (bộ
không ruột) như Ruột khoang. Các dạng cao hơn dã tập trung thần kinh, có
hạch não ở đầu và cả đám rối (ở bề mặt thân và ở sâu có dây dọc và dây
ngang nối với nhau).
Sán lá (Trematoda) liên hệ với đời sống ký sinh nên hệ thần kinh đơn
giản hoá chỉ có ở giác bám là phát triển ít nhiều. Ở chúng có một đôi hạch não
nằm ở trên hầu và thường từ đó phát ra ba đôi dây thần kinh. Đôi day thần
kinh bên là phát triển hơn cả.
24
Hình 10. Tế bào biểu mô cơ của Thuỷ
tức (Theo Hickman)
Hệ thần kinh của Sán dây (Cestoda) gần giống với Sán lá song chủ, gồm
một đôi hạch não và 10 – 12 đôi dây thần kinh chạy dọc cơ thể. Phát triển
nhất là đôi dây thần kinh bên. Ngoài hạch não và hạch ở giác bám, có các
hạch và dây thần kinh ở cơ quan sinh dục.
5. Giun vòi
Động vật hiện đang sống dơn giản nhất, mà lại minh hoạ được tổ chức
của cơ thể ở trình độ các cơ quan đã hình thành một hệ thống.
Thần kinh của Giun vòi rất phát triển. Có tất cả hai đôi hạch não, một đôi
nằm trên bao vòi và một đôi nằm dưới bao vòi, giữa mỗi đôi hạch não còn có
thêm cầu nối ngang. Từ hạch não có một đôi dây thần kinh lớn chạy dọc cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status