Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
“ Muốn biết tinh thần Việt Nam chân chính, muốn tìm hiểu cái nguồn
sống chảy trong máu dân tộc, chúng ta phải tìm đến văn chương của dân
chúng tuy bình dị nhưng bộc lộ được hết những ý nghĩ tình cảm và hoạt động
của mọi người” (Nguyễn Đình Thi)
Ca dao trữ tình Việt Nam đã hấp dẫn người đọc qua bao thời đại, tìm về
với ca dao là tìm về cội nguồn dân tộc, tìm về kho nhân văn có mồ hôi, nước
mắt và nụ cười của bao thế hệ. Trong hành trình trở về với cội nguồn ấy,
không thể nào bỏ qua việc tìm hiểu nghệ thuật thơ ca dân gian.
“Văn học nhận thức thế giới qua hình tượng nghệ thuật”. Thế giới
nghệ thuật trong ca dao cũng phong phú nhờ thủ pháp ẩn dụ và xây dựng biểu
tượng nghệ thuật. Cũng với những thủ pháp nghệ thuật này, trường liên tưởng
ngữ nghĩa được mở rộng đem lại mầu sắc đa dạng trong những lời ca dao dân
ca. Đây cũng chính là thủ pháp nghệ thuật mang nét đặc trưng tiêu biểu của
thể loại thơ ca trữ tình dân gian. Một hệ thống những biểu tượng thiên nhiên
đã ra đời, trong các biểu tượng về các loài vật nổi bật lên hệ biểu tượng chim.
“Ngay từ buổi đầu dựng nước, con người đã luôn nuôi ước vọng được
vượt ra khỏi không gian quanh mình, được tung cánh lên bầu trời, được tự
do như loài chim trong không trung. Hình ảnh loài chim Lạc đã gắn bó với
người VN ngay từ thuở ban đầu ấy”. (Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
Phillipps, "Chim Việt Nam") Và hình ảnh những cánh chim trời tự do bay
trong không trung, hay cặm cụi kiếm mồi dưới mặt đất đã rất quen thuộc với
hình ảnh làng quê Việt Nam xưa, và rất tự nhiên,những cánh chim ấy bay vào
trong những câu ca dao trữ tình, thành những mô tip nghệ thuật đầy ý nghĩa.
Chọn phân tích hệ biểu tượng chim trong thơ ca dân gian, người viết muốn
bước đầu tìm hiểu đặc trưng nghệ thuật của thể loại ca dao trữ tình Việt Nam,
Ở mảng nghiên cứu văn hóa, PGS. TS Nguyễn Thị Bích Hà đã có bài
viết về Mã văn hóa, trong đó có lấy ví dụ về chim là một biểu tượng văn hóa.
Hay bài viết của quyển "Chim Việt Nam" của Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và
Karen Phillipps / Nhà xuất bản Lao Động - Xã Hội / 2000.
Những nghiên cứu trên đây đã có những đóng góp to lớn trong việc làm
rõ khái niệm, đặc điểm của biểu tượng trong ca dao, tuy nhiên xét về biểu
tượng chim thì chưa có một tác giả nào có sự thống kê, phân loại và phân tích
đầy đủ (chỉ đề cập đến “chim” với tư cách là một hình ảnh quen thuộc trong
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
ca dao). Chính vì vậy, qua quá trình nghiên cứu này, bài viết muốn bước đầu
hệ thống hóa biểu tượng chim trong ca dao, đi sâu vào tìm hiểu ý nghĩa phong
phú của hệ biểu tượng này.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Tìm hiểu số lượng biểu tượng và
khái quát hóa ý nghĩa hệ biểu tượng chim.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh việc sử dụng các biểu tượng
khác nhau và so sánh với văn học trung đại để hiểu sâu hơn về nguồn gốc và
đặc trưng của hệ biểu tượng này trong ca do
- Phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu: Để có sự tiếp thu , bổ sung
và phát triển những nghiên cứu đi trước, tìm ra hướng đi riêng cho mình.
- Phương pháp liên ngành: Biêlinxki khẳng định: Thơ văn là loại hình
nghệ thuật cao cấp nhất…do vậy thơ ca mang trong mình tất cả những yếu tố
của những nghệ thuật khác” Việc nghiên cứu biểu tượng chim trong văn hóa
dân gian vì thế mà góp phần vào việc hình thành một cái nhìn nhiều chiều,
sâu sắc về đối tượng nghiên cứu.
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
(nghệ thuật), biểu tượng ngôn từ nghệ thuật.
1.1.1.Biểu tượng văn hóa:
Biểu tượng văn hoá là những khái niệm nằm trong lĩnh vực rộng hơn là
môi trường văn hoá. Khi tìm hiểu vấn đề trên ta không thể không liên hệ tới
khái niệm văn hoá. Văn hoá là phức thể các giá trị vật chất, tinh thần do con
người tác động đến tự nhiên, xã hội và bản thân trong quá trình lịch sử dài lâu
mà tạo nên. Nó tích tụ và thể hiện diện mạo, bản sắc của cộng đồng.
Do khái niệm và nội hàm văn hoá rất rộng nên không ai có thể nói rằng
mình đã tìm hiểu đến tận cùng một nền văn hoá. Vì vậy, việc nghiên cứu biểu
tượng văn hóa cũng là một cách chạm đến các yếu tố văn hoá cụ thể để tìm
hiểu tổng thể. Hàng loạt biểu tượng văn hoá đã hoà nhập cùng tín ngưỡng,
hiển hiện ở phong tục, náu mình trong thần tích, kí thác ở tâm linh, ẩn tàng
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
trong văn hoá dân gian, trong nghệ thuật truyền thống mà lí giải được nó sẽ
tạo ra sự hấp dẫn vô cùng, với những giá trị khoa học và nhân văn to lớn mà
nó đem lại. “ Biểu tượng luôn rộng lớn hơn ý nghĩa được gắn cho nó một
cách nhân tạo, nó có một sức nặng cốt yếu và tự sinh. Nó không dừng lại ở
chỗ chỉ tạo nên những cộng hưởng mà còn giục gọi một sự biến đổi theo
chiều sâu” J.Chevalier đặc biệt đề cao vai trò của biểu tượng trong đời sống
văn hóa con người. Biểu tượng văn hóa mang chiều sâu cảm xúc, tính dân
tộc, tính thời đại, gắn liền với “Bè đệm hiện sinh” – môi trường mà biểu
tượng thật sự sống.
Biểu tượng văn hoá: nghĩa gốc là một vật được chia làm hai nửa, mỗi
bên giữ một nửa, khi khớp lại sẽ nhận ra mối quan hệ. Biểu tượng văn hoá là
một loại tín hiệu riêng, có chiều sâu và phong phú hơn tín hiệu văn hoá. Biểu
tượng được hình thành trong một quá trình lâu dài, có tính ước lệ và bền
vững, là cảm quan, nhận thức được lắng đọng, kết tinh, chắt lọc trải qua bao
biến cố thăng trầm vẫn không bị phai mờ mà ngược lại càng khắc sâu hơn vào
tâm khảm con người. Biểu tượng được hiểu như là những hình ảnh tượng
phong tục tập quán, văn học nghệ thuật dân gian Cụ thể như tín ngưỡng
phồn thực cũng là một mã văn hoá thể hiện tính bản địa của các nước nông
nghiệp. Phồn: cơ tốt, nhiều; thực: sinh nở con cái, sinh sôi nẩy nở. Tín
ngưỡng này thể hiện ra trong các hoạt động văn hoá theo hai phương thức:
nghi lễ thờ cúng sinh thực khí nam nữ và tôn sùng hoạt động tính giao. Tín
ngưỡng đó thể hiện trong Mã (tín hiệu, biểu tượng) qua các hình thức: tròn –
vuông; âm – dương; chẵn – lẻ; bánh chưng (tét) – bánh giày Nó đi vào nghệ
thuật bằng hình chạm khắc các ngẫu tượng bằng đá hay bằng gỗ; các trò chơi
như trò trám, rước nõ nường, đánh phết; đi vào văn học dân gian với thần
thoại về các đôi nam nữ thần như Nữ Oa – Tứ Tượng, Ông Đùng – Bà Đà,
Ông Thu Tha – Bà Thu Thiên, Ông Đực – Mụ Cái mà các sinh thực khí của
họ được đặc tả và phóng đại về kích thước.(trích theo PGS. TS Nguyễn Thị
Bích Hà, tạp chí văn học số 6/2005)
1.1.2. Biểu tượng văn học:
Biểu tượng văn học là một biến thể loại hình của biểu tượng văn hóa.
Trong văn học, nói đến biểu tượng, người ta chú ý đến hai dấu hiệu nhận biết.
Thứ nhất, biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan. Thứ 2,
biểu tượng không chỉ mang nghĩa biểu vật mà nói đến biểu tượng còn là nói
đến hiện tượng chuyển nghĩa, nghĩa bóng, nghĩa biểu cảm.
Tuy nhiên, biểu tượng có những đặc điểm ý nghĩa khác với những hình
ảnh khác có nội hàm gần gũi là ẩn dụ và hình tượng:
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
1.1.2.1.Phân biệt biểu tượng và ẩn dụ:
Việc xác định ranh giới giữa biểu tượng và ẩn dụ được xem là vấn đề
có tính chất tương đối. Nếu theo hai dấu hiệu nhận biết của biểu tượng trên
đây thì biểu tượng không khác gì ẩn dụ. Do đó, muốn phân biệt rõ biểu tượng
và ẩn dụ trước tiên phải xác định đối tượng. Theo nhà văn Nga V.I. Eremina:
“ Ẩn dụ thơ ca được sinh ra nhất thời và mất đi khá nhanh. Biểu tượng được
hình thành trong quá trình dài và sau đó sống hang trăm năm, ẩn dụ là yếu
Hình tượng bao giờ cũng tách riêng hoặc có xu hướng tách riêng ra
khỏi một hệ thống nào đó để phù hợp với yêu cầu: tự do, hoàn thiện, độc đáo
và khác biệt. Trong khi đó biểu tượng bao giờ cũng nằm trong một hệ thống
nhất định, không thể tách ra đứng độc lập trong nhận thức của con người.
Điểm khác nhau rõ nét nhất là biểu tượng có phạm vi lớn hơn hình
tượng rất nhiều.Với tư cách là khách thể tính thể chứ không phải khách thể
thực tại, hình tượng có một số đặc tính của biểu tượng. Chính yếu tố này
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
khiến cho biểu tượng trong văn học dân gian có khi chỉ là một nhưng lại có
thể diễn tả được nhiều hình tượng. Từ một biểu tượng chim, chúng ta có thể
thấy được một số hình tượng gửi gắm vào đó. Những hình tượng ấy đều có
một số nét liên hệ và phụ thuộc vào biểu tượng. Chính mối dây liên hệ khiến
cho những hình tượng đưa ra có sức sống lâu bền và cũng góp phần làm biểu
tượng sống mãi trong lòng người đọc.
Mặc dù có sự so sánh ẩn dụ, hình tượng, và biểu tượng song những
thuật ngữ trên có mối liên hệ mật thiết với nhau. Không thể tách rời biểu
tượng ra một cách độc lập. Chính vì thế khi nhắc đến ẩn dụ nghệ thuật người
ta cũng nhắc đến ẩn dụ và hình tượng, hình ảnh.
1.1.3. Biểu tượng ngôn từ nghệ thuật:
Các biểu tượng ngôn từ nghệ thuật được cấu tạo lại thông qua tín hiệu
ngôn ngữ trong văn học. Trong phạm vi ngôn từ nghệ thuật, các biểu tượng
triết học, phân tâm, văn hóa, văn học đều được chuyển thành các từ - biểu
tượng (word – symbols).
Các hình thức vật chất cụ thể (sự vật, trạng thái, hành động…) và các ý
niệm trừu tượng trong đời sống tinh thần con người tín hiệu hóa thông qua hệ
thống ngôn từ. Và hệ thống ngôn từ đó còn mở ra cho các biểu tượng những mối
quan hệ mới, hiện thực hóa và phát triển ý nghĩa biểu tượng trong một năng lực
biểu hiện to lớn. Từ đó nảy sinh nhiều biến thể khác nhau. Mối quan hệ giữa các
biến thể và mối quan hệ tương tác ngữ nghĩa trong ngữ đoạn, mối quan hệ với
gương mờ là những biểu tượng quen thuộc trong ca dao. Qua thực tế khảo
sát, có thể tập hợp biểu tượng thành những nhóm khác nhau, mỗi nhóm bao
gồm các biểu tượng có liên hệ gần gũi với nhau (do được tạo thành từ cùng
một loại sự vật, hiện tượng). Các biểu tượng cùng nhóm được phân biệt bằng
những khía cạnh, sắc thái, quan hệ khác nhau ở cái biểu đạt, dẫn đến sự khác
nhau trong cái được biểu đạt, hoặc được phân biệt bởi những kết cấu sóng
hợp không giống nhau từ một sự vật, hiện tượng trung tâm.
1.2.2. Mô tip biểu tượng nghệ thuật trong ca dao:
Ca dao dân ca sử dụng một số các hình tượng ẩn dụ quen thuộc của
thiên nhiên đời sống hàng ngày như được khái quát hoá, trở thành các hình
tượng nghệ thuật được thể hiện linh hoạt trong nhiều trường hợp, tạo ra các
ẩn dụ mang nghĩa khác nhau, trong đó có thể phân chia thành biểu tượng đơn
và biểu tượng sóng đôi.
Ths Đặng Diệu Trang (tạp chí văn hóa dân gian số 1, 2006) đã nhận xét:
“ Trong ca dao dân ca, một số các hình tượng ẩn dụ đơn được sử dụng thường
xuyên như: chim, cá, sông, trăng, cau, hoa, bèo, đào và các cặp sóng đôi
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
như rồng - mây, loan - phượng, mận - đào, trúc - mai, bướm - hoa, quế - hồi,
trầu - cau, lan - huệ, cá - nước là những hình tượng có quá trình hình thành
lâu dài, tồn tại độc lập, bền vững, được sử dụng rộng rãi trong nhiều trường
hợp nên đã vượt qua giới hạn của khái niệm ẩn dụ và trở thành biểu tượng” và
cũng có ví dụ cụ thể về biểu tương đơn và biểu tượng sóng đôi trong phạm vi
nghiên cứu về các biểu tượng thiên nhiên trong ca dao như sau:
VD: Biểu tượng đơn - biểu tượng hoa:
Có thể nói, trong ca dao dân ca nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung
một trong những ý nghĩa cơ bản của hoa là biểu tượng cho cái đẹp, cho thân
phận người phụ nữ. Từ ý nghĩa sinh học đa dạng của loài hoa, trường liên
tưởng nghệ thuật của con người được mở rộng trong sự gắn kết giữa vẻ đẹp
của thiên nhiên và con người, tạo nên những sáng tạo nghệ thuật mang ý
Cho hoa rữa cánh phai màu chàng ơi.
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
- Nói đến người phụ nữ, người ta nói đến cái “số hoa đào” với biết bao
sự ràng buộc:
Ai ơi cái số hoa đào
Cởi ra thì khó buộc vào như không.
Biểu tượng sóng đôi: Những cặp sóng đôi được tạo nên trong sự kết
hợp bền vững của những sự vật hiện tượng thiên nhiên tương đồng với nhau
về phẩm chất, thuộc tính vì vậy trong ca dao dân ca nó là những hình tượng
thích hợp biểu trưng cho sự hoà hợp giữa nam và nữ:
Bướm - hoa có “bướm say hoa", “bướm gần hoa", “bướm lượn vành
bén hoa", “bướm chiều hoa", “hoa bướm tìm nhau", “bướm đậu vườn hoa",
"bướm lượn cành phù du". Rồng - mây có “rồng tìm mây" ,“rồng gặp mây",
"rồng tơ tưởng vì mây". Trúc - mai có “sum họp trúc mai", "lan huệ sánh
trúc mai", "trúc với mai", “trúc nhớ mai", “miếng trầu nên trúc nên mai",
“gió trúc mưa mai". Quế – hồi: “quế sánh với hồi", “quế tơ tưởng vì hồi".
Trầu - cau: “trầu bám cau", “giầu tơ tưởng vì cau", “có trầu có cau", “liền
giầu với một chẽ cau". Mận - đào: “mận hỏi đào”, “mận sánh với đào", “mận
mận đào đào bên nhau". Cá - nước: "cá lên khỏi nước chịu khô", “nước lên
cá đối ăn theo".
Cũng khảo sát trong ca dao. Nguyễn Xuân Kính đã ghi nhận 7 nhóm
biểu tượng:
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
1. Trăng, sao, mây, gió (hiện tượng tự nhiên)
2. Có cây, hoa lá (thế giới thực vật)
3. Rồng phượng, chim muông (thế giới động vật)
4. Áo, khăn, gương, lược, mũ, giày (các đồ dùng cá nhân)
5. Chăn, chiếu, giường, mâm, bát… (các dụng cụ sinh hoạt gia đình)
Số lượng khảo sát 1350 câu 100%
Số câu xuất hiện biểu
tượng chim
(hơn) 100 câu 7,40 %
Số lần xuất hiện: khoảng 180 lần
Kiểu loài: hơn 20 loại chim các loại
Điều đó cho thấy biểu tượng chim xuất hiện trong ca dao với một tần số
cao. Cùng với các biểu tượng khác trong ca dao, nhóm biểu tượng chim cũng
mang giá trị thẩm mỹ rõ rệt. Bên cạnh những lần xuất hiện với lớp nghĩa đen
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
thuần túy, trong nhiều trường hợp, các loài chim còn được dân gian khoác
cho lớp nghĩa biểu tượng.
2.1.2 .Phân loại:
Biểu tượng là hình thức nhận thức cảm tính nên khó có thể có một cách
phân loại biểu tượng khoa học và tuyệt đối. Xét một cách tương đối, biểu
tượng chim có thể được phân loại một cách cụ thể theo những cách sau:
Theo hình thức biểu tượng và kiểu loài:
Biểu tượng đơn Biểu tượng sóng đôi
Cò, nhạn, cuốc, quyên, vạc, hạc,
công, quạ, sáo, đa đa, én, bồ câu
(chim cu), oanh, chiền chiện, chèo
bẻo, phượng hoàng, chim Việt…
Cuốc – quyên
Loan – phượng
…
Theo màu sắc:
Nhiều nhất là hình ảnh chim xanh, ngoài ra còn nhiều hình ảnh chim
hồng, chim trắng.
Theo đặc điểm hoạt động và sinh sống:
dao không chỉ xuất hiện với số lượng khá lớn mà còn có ý nghĩa rất đa dạng
phong phú. Để lý giải điều này có thể xuất phát từ đặc trưng đối tượng của
nghệ thuật, đồng thời trên cơ sở mối liên hệ với lối tư duy, tín ngưỡng, tôn
giáo (đời sống văn hóa nói chung) của người xưa.
2.2.1. Biểu tượng chim đã xuất hiện từ rất lâu đời trong ca dao với tư
cách là sản phẩm của tín ngưỡng, quan niệm, tư duy người Việt cổ.
“Thực tiễn sản xuất, sinh hoạt và chiến đấu của nhân dân ta thời
nguyên thủy đã được phản ánh vào lĩnh vực tinh thần theo một thế giới quan
đậm màu sắc linh luận. Và tôtem giáo đã nảy sinh từ đấy” (văn học dân gian
Việt Nam – Đinh Gia Khánh).
Trước các hiện tượng tự nhiên vĩ đại và bí hiểm, người dân thời nguyên
thủy rất tôn sùng thiên nhiên, họ thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên, có
xu hướng muốn gần gũi, tạo mối quan hệ ruột rà giữa con người với tự nhiên.
Vì thế mà nảy sinh quan niệm về “ Vật tổ”.Người Việt có câu: Nhất điểu, nhị
xà, tam ngư, tứ tượng. Chim, rắn, cá sấu là những loài vật phổ biến nhất trong
vùng sông nước nên được sùng bái hàng đầu. Theo truyền thuyết thì tổ tiên
người Việt thuộc họ “ Hồng Bàng” và là “ giống Rồng Tiên” (Thành ngữ “
con Hồng cháu Lạc, con Rồng cháu Tiên) . Hồng Bàng nghĩa là loài chim
nước lớn (chữ hồng ghép với chữ giang là sông nước, và chữ điểu là chim,
bang là lớn). Tiên Rồng là một cặp đôi vật tổ theo lối triết lí âm dương, trong
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
đó Tiên được trừu tượng hóa bằng giống chim, cho nên mới có truyền thuyết
mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng.
Nếu người Kinh cho rằng quả trứng là kết quả của cuộc hôn phối cạn –
nước (chim – rắn) thì trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước, người Mường
quan niệm Trứng Điếng là trứng giống, trứng nòi, trứng đẻ ra con người, là
một trong hàng trăm nghìn trứng do chim Ây cái Ứa đẻ ra, cách đẻ ấy cũng
mang tầm vũ trụ thần thiêng đặc biệt:
Cà rầm Trứng Điếng đẻ Đá Cài
tượng chim đã xuất hiện từ rất lâu đời trong ca dao, phản ánh con người và
thế giới tự nhiên xã hội bên ngoài con người: chim được nhân cách hoá để thể
hiện mọi mặt của cuộc sống, từ cái thiện đến cái ác, từ phản diện đến chính
diện (những con chim tốt giúp người như trong chuyện "Cây khế", "Tấm
Cám" đến chim độc ác hại người trong chuyện"Thạch Sanh" ) Người Việt
xưa có óc quan sát rất tinh tế nên trong kho tàng truyện cổ tích VN đã có
Tiểu luận cuối kỳ Trịnh Mai Phương - K55A Việt
Nam học
nhiều lời giải thích dí dỏm về nguồn gốc và tập tính của các loài chim như"sự
tích chim tu hú", "sự tích chim bắt cô trói cột", "sự tích chim thù thì", "gà
mượn mào vịt"…
Trong văn học dân gian của các dân tộc thiểu số, hình ảnh chim cũng
xuất hiển rất nhiều. Người Thái triết lý:"Đời người như ngựa chạy, làm ăn
như én bay". Trong dân ca của các dân tộc Tây Nguyên, điển hình là trường
ca Đan Sam nổi tiếng ta có thể gặp hình ảnh cánh chim được lặp đi lặp lại
như biểu tượng của lòng dũng cảm, tính trung thực và của tự do
Hơn nữa, trong thực tế, nhân dân ta xưa chịu ảnh hưởng của quan
niệm‘Vạn vật hữu linh”. Chính vì thế mà hình ảnh chim trong ca cao trở nên
rất sinh động và có hồn. Chúng được miêu tả trong sự vận động, đối xứng với
sự vận động của con người. Trong mỗi câu ca dao, chim luôn nằm trong mối
quan hệ thẩm mĩ với con người, làm tăng thêm sự biểu đạt cảm xúc của chủ
thể. Quan trọng, chủ thể ở đây không phải là cái riêng, cái đơn nhất mà là
tiếng chung cho cả cộng đồng, thể hiện tình cảm, tâm trạng, thế giới tinh thần
của nhân dân, dân tộc.
2.2.2. Biểu tượng chim là sự biểu hiện sinh động hình ảnh cuộc sống
đời thường của người dân lao động:
Điều làm nên sức sống của văn học dân gian là ở chỗ văn học dân gian
nẩy mầm phát triển giữa cuộc sống hàng ngày: “ Nghệ thuật là cuộc sống”
và “ cuộc sống cũng là nghệ thuật”. Tính chất của hình ảnh chim trong thực