Phân tích thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đầu tư - Pdf 25

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
1
Lời mở đầu
Ngày nay, nền kinh tế thế giới đang phát triển với trình độ ngày càng cao thì
nền kinh tế Việt Nam cũng đang dần phát triển theo xu hướng hội nhập với nền kinh
tế khu vực và quốc tế.
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng đa dạng và ngày càng
phong phú, sôi động hơn. Nên đòi hỏi môi doanh nghiệp phải tự vận động và tồn tại
bằng chính thực lực của mình để có thể cạnh tranh trên thị trường.
Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố
định còn phải có các tài sản lưu động tùy theo loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu của
tài sản lưu động khác nhau
Vốn là một yếu tố quan trọng và rất cần phải quan tâm đối với bất kỳ doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh nào. Bởi lẽ muốn đứng vững trên thị trường có sự cạnh
tranh gay gắt giữa nhiều thành phần kinh tế, đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có một số
vốn đủ mạnh để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đồng thời cũng mở
rộng quy mô sản xuất. Do đó việc quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả
hay không ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh. Đặc biệt là vốn lưu động, vì
thế vấn đề vốn là vấn đề không thể không đề cập đến.
Mặt khác trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Nam
Phong tôi nhận thấy công ty Nam Phong là một công ty tư nhân ra đời cách đây 8
năm, trong những năm gần đây khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, quá
trình kinh doanh ngày càng mở rộng, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi công ty
phải năng động, sáng tạo trong quá trình kinh doanh cũng như việc sử dụng và khai
thác tối ưu các nguồn vốn lưu động phục vụ cho quá trình kinh doanh của mình.
Trong khi đó, việc quản lý và sử dụng vốn lưu động của công ty trong những năm
trước đó chưa thực sự tốt nên quyết định liên quan đến việc đầu tư vốn phải được cân
nhắc thận trọng. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để nâng cao được hiệu quả sử dụng
vốn lưu động.
Qua tìm hiểu những vấn đề trên nên tôi chọn đề tài: “ Phân tích thực trạng và

Vốn là một phạm trù kinh tế cơ bản, vốn gắn kết với nền tảng sản xuất hàng hoá.
Vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và quá trình tiếp theo cho hoạt động sản xuất
kinh doanh.Từ đó có thể hiểu: “Vốn là một phạm trù kinh tế. Vốn là biểu hiện bằng
tiền của tất cả các giá trị tài sản được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, là giá trị ban đầu ứng ra cho quá trình sản xuất tiếp theo của các
doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lời”.
Căn cứ vào công dụng kinh tế và đặc điểm chu chuyển giá trị thì vốn kinh
doanh được chia làm hai thành phần: Vốn cố định và vốn lưu động.
Cả hai loại vốn trên đều là nguồn vốn quan trọng, bên cạnh sự cần thiết và
quan trọng của vốn cố định được biểu hiện bằng tiền của những tài sản cố định hữu
hình và vô hình. Thì vốn lưu động cũng đóng một vai trò rất quan trọng ảnh hưởng
trực tiếp tới quá trình sản xuất và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất, là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ giá trị tài sản lưu động và vốn lưu thông để đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.
Vốn lưu động biểu hiện bằng tài sản lưu động các doanh nghiệp phục vụ cho
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản
lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được diễn ra
thường xuyên, liên tục. Đó là số vốn doanh nghiệp đầu tư để dự trữ vật tư, để chi phí
cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chi phí cho hoạt động quản lý doanh
nghiệp. Vốn lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình sản xuất kinh doanh, chuyển
qua nhiều hình thái giá trị khác nhau như: tiền tệ, đối tượng lao động, sản phẩm dở
dang, bán thành phẩm, thành phẩm. Giá trị vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ
một lần vào giá trị sản phẩm. Vốn lưu động được biểu hiện dưới hai hình thái:
- Hình thái hiện vật: toàn bộ hàng nhập kho, hàng trong kho, hàng tồn kho,
hàng xuất kho.
- Hình thái giá trị: toàn bộ giá trị bằng tiền của nguyên vật liệu, bán thành
phẩm, thành phẩm, giá trị tăng lên do việc sử dụng lao động trong quá trình sản xuất
và những chi phí bằng tiền trong lĩnh vực lưu thông. Sự lưu thông về mặt hiện vật và

doanh này có thể gắn liền với việc chuyển giao công nghệ, thiết bị giữa các bên tham
gia, nhằm đổi mới sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp cũng có thể tiếp nhận máy móc, thiết bị nếu hợp đồng kinh doanh quy định
góp vốn bằng máy móc thiết bị.
Nguồn vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay từ các tổ chức chính phủ và phi chính
phủ được hoàn lại.
Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, tín dụng
thương mại, tín dụng ngân hàng, vốn huy động qua thị trường chứng khoán, tín dụng
thuê mua.
+ Tín dụng thương mại: Là loại tín dụng thường được các doanh nghiệp sử
dụng, coi đó như một nguồn vốn ngắn hạn. Tín dụng thương mại chính là quan hệ
mua bán chịu giữa các doanh nghiệp, mua bán trả chậm hay trả góp. Tín dụng
thươmg mại luôn gắn với một luồng hàng hoá dịch vụ cụ thể, gắn với một quan hệ
thanh toán cụ thể nên nó chịu sự tác động của cơ chế thanh toán. Tín dụng thương
mại không những là phương thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinh doanh mà nó
còn tạo khả năng mở rộng hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Tuy nhiên do đặc
3
điểm của khoản tín dụng thương mại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu doanh
nghiệp biết quản lý một cách khoa học, nó có thể đáp ứng phần nào vốn lưu động của
doanh nghiệp. Mặt khác, do là nguồn vốn ngắn hạn nên sử dụng qua nhiều loại hình
này dễ gặp phải các rủi ro như rủi ro về lãi suất, rủi ro về thanh toán. Trên thực tế
chiếm dụng đến một mức độ nào đó có thể coi là tín dụng thương mại.
+ Tín dụng thuê mua: Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, vốn
tín dụng thuê mua là một phương thức giúp cho các doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có
được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đây là
hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tài sản, máy móc thiết bị. Tín dụng thuê
mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và thuê tài chính. Ngoài
ra còn có các loại nguồn vốn khác như huy động vốn điều lệ cho các công ty cổ phần
đang trong quá trình thành lập mới hoàn toàn, hay tăng vốn điều lệ cho các công ty
cổ phần.

theo như: Chi phí tìm hiểu thị trường, chi phí maketing, chi phí bán hàng…
Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá
trình hoạt động kinh doanh của các bộ phận được liên tục hợp lý.
+ Vốn sản phẩm hàng nhập kho: Là biều hiện bằng tiền các chi phí sản xuất
kinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm như chi phí hàng nhập kho.
+ Vốn bán thành phẩm tự chế: Đây là phần vốn lưu động phản ánh giá trị
các chi phí sản xuất kinh doanh bỏ ra khi sản xuất sản phẩm đã trải qua những công
đoạn sản xuất nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm cuối cùng (thành phẩm).
* Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông:
+ Vốn tiền tệ: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.
Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển đổi thành các
loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định.
+ Vốn sản phẩm hàng hoá: Là giá trị những sản phẩm hàng hoá đã đạt tiêu chuẩn
kỹ thuật và đã được nhập kho.
+ Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn
hạn… Đây là những khoản đầu tư nhằm một mặt đảm bảo khả năng thanh toán, mặt
khác tận dụng khả năng sinh lời của các tài sản tài chính ngắn hạn nhằm nâng cao
hiêu quả sử dụng vốn lưu động.
5
+ Các khoản vốn trong thanh toán: Các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…
Chủ yếu trong khoản mục vốn này là các khoản phải thu của các khách hàng, thể
hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hoá,
dịch vụ dưới hình thức bán trả trước, trả sau. Khoản mục này liên quan chặt chẽ đến
chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp, một trong những chiến lược quan
trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, trong một số trường
hợp mua sắm vật tư, hàng hoá doanh nghiệp còn phải ứng tiền trước cho người cung
cấp từ đó hình thành khoản tạm ứng.
Loại vốn này dùng để dự trữ sản phẩm, bảo đảm cho tiêu thụ thường xuyên,
đều đặn theo nhu cầu của khách hàng.

hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác.
1.1.2.4 Phân loại theo hình thái biểu hiện
- Vốn vật tư hàng hoá: Là khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện cụ thể
nguyên nhiên vật liệu sản phẩm trong kho, hàng xuất kho.
- Vốn bằng tiền: Tiền mặt, tiền quỹ, vốn, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn
trong thanh toán, đầu tư ngắn hạn.
1.1.3 Vai trò của vốn lưu động
+ Vốn lưu động là một điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá trình
tái sản xuất. Trong cùng một lúc vốn lưu động của doanh nghiệp được phân bổ ở các
giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Đồng thời vốn lưu
động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục và hoàn
thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Do đó muốn cho quá trình tái sản
xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đầy đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình
thái khác nhau. Như vậy sẽ tạo cho việc chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình
luân chuyển được thuận lợi. Ngược lại doanh nghiệp không có đủ vốn thì việc tổ
chức sử dụng vốn sẽ gặp khó khăn và quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn.
+ Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh gía quá trình vận động của vật
tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm dự trữ sản xuất, tiêu thụ của doanh
nghiệp. Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn là sự phản ánh số lượng vật tư
hàng hoá dự trữ ở các khâu nhiều hay ít. Nhưng mặt khác vốn lưu động luân chuyển
nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không. Do vậy
thông qua quá trình luân chuyển vốn lưu động còn có thể đánh giá kịp thời đối với
việc mua sẳm dự trữ, sản xuất tiêu thụ của doanh nghiệp.
7
Có thể nói vốn lưu động đóng vai trò trong quá trình tạo tiền đề cho sản xuất
như: Mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác doanh nghiệp muốn tái
sản xuất đơn giản và mở rộng thì doanh nghiệp càng không thể thiếu vốn lưu động.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Điểm xuất phát để tiến hành sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là phải có

khai thác, sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp về lao động, vật tư, tiền vốn
làm cho nguồn vốn sinh lợi tối đa, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Hiệu quả =
Kết quả
Chi phí
Nói đến hiệu quả có nghĩa là đề cập đến mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi
phí bỏ ra, nó bao gồm hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả của xã hội.
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã
hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Nếu
xét về tổng lượng người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kết quả lớn
hơn chi phí, chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả kinh tế
càng cao và ngược lại
- Hiệu quả xã hội: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng
nỗ lực, trình độ quản lý ở mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống công việc và sự
gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu
cầu và mục tiêu chính trị xã hội
* Chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động:cho biết cứ sau mỗi vòng quay thì vốn
lưu động lại tiếp tục tham gia vào một chu kì sản xuất tiếp theo, lại tạo ra được một lợi
nhuận mới.
Số vòng quay VLĐ =
DTT
Vốn LĐ bình quân
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
* Kỳ thu tiền bình quân: chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để thu được các
khoản phải thu.
9
Kỳ thu tiền bình quân = Tổng số ngày trong một kỳ
Vòng quay khoản phải thu
Vòng quay khoản phải thu trong kỳ =
Doanh thu trong kỳ


* Khả năng thanh toán lãi vay ( số lần có thể trả lãi vay ): cho biết mức độ
lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi vay hàng năm như thế nào. Việc không trả được
các khoản nợ này có thể làm cho doanh ngiệp bị phá sản.
Số lần có thể trả lãi vay =
EBIT
Lãi vay
* Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động: chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời
của tài sản lưu động. Chỉ tỉêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản lưu động có trong kì
đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế.
Hiệu quả sử dụng TSLĐ trong kỳ =
LNST
TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.

* Chỉ tiêu mức doanh lợi vốn lưu động: Cho ta biết hiệu quả sử dụng vốn lưu động
trong công ty.
Doanh lợi vốn cố định =
LNTT
VLĐ bình quân
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
11
* Sức sinh lời của vốn lưu động:
Sức sinh lời của vốn lưu động = Lợi nhuận
VLĐ bình quân
Trong đó:
VLĐ bình quân =
VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ
2
Chỉ tiêu này cho biết:

- Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện rõ nét thông qua khả năng
thanh toán, đó là khả năng mà doanh nghiệp trả được các khoản nợ phải trả khi nợ
đến hạn thanh toán.
- Hệ số cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
là cao hay thấp, nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có dư khả năng
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính của doanh nghiệp là bình
thường hoặc khả quan.
13
* Tỉ suất thanh toán tức thời:
Tỉ suất thanh toán tức thời = Tổng số vốn bằng tiền
Tổng số nợ ngắn hạn
- Nếu tỉ suất lớn hơn 0.5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan.
- Nếu tỉ suất nhỏ hơn 0.5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh
toán công nợ và do đó có thể phải bán gấp hàng hoá, sản phẩm để trả nợ vì không dư
tiền thanh toán.
* Số vòng quay các khoản phải thu:
Số vòng quay các khoản phải thu = Tổng số doanh thu bán chịu
Bình quân các khoản phải thu
- Chỉ tiêu cho biết mức hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của
việc đi thu hồi nợ. Nếu các khoản phải thu được thu hồi nhanh thì số vòng
luân chuyển của các khoản phải thu sẽ nâng cao và vốn của công ty ít bị
chiếm dụng.
- Nếu số vòng luân chuyển các khoản phải thu quá cao sẽ không tốt vì có thể
ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ.
* Thời gian một vòng quay các khoản thu:
Thời gian một vòng quay = Thời gian kỳ phân tích
Số vòng quay các khoản phải thu
- Chỉ tiêu này cho thấy để thu hồi các khoản phải thu cần một thời gian là bao
nhiêu.
- Nếu số ngày này mà lớn hơn thời gian bán chịu quy định cho khách hàng thì

dàng thấy qua các chỉ tiêu như: Doanh thu thuần, hao mòn vô hình, rủi ro, vốn lưu
động bình quân trong kỳ. Khi xem xét ảnh hưởng của các nhân tố này tới hiệu quả sử
dụng vốn lưu động, chúng ta giả sử các nhân tố này ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng
vốn lưu động chúng ta giả sử các nhân tố khác không thay đổi.
Để làm giảm tác động của các nhân tố này, đòi hỏi các nhà quản trị tài chính
doanh nghiệp quản lý vốn lưu động một cách có hiệu quả. Vì vốn lưu động có ba
15
thành phần chính là: Tiền mặt, dự trữ, các khoản phải thu nên phương pháp này tập
trung vào quản lý các khoản trên.
- Quản lý tiền mặt: Đề cập đến việc quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng. Việc
quản lý tiền mặt có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý chứng khoán thanh khoản cao
bởi vì việc chuyển từ tiền mặt sang chứng khoán và ngược lại là một việc dễ dàng
nhanh chóng, tốn ít chi phí.
Doanh nghiệp không nên giữ nhiều tiền mặt tại quỹ tài chính, vì vậy khi có nhu
cầu đột xuất về tiền mặt thì doanh nghiệp có thể đi vay ngắn hạn tại các ngân hàng,
việc này tốt hơn so với bán chứng khoán vì nếu cần tiền bán chứng khoán trong thời
gian ngắn thì không có lợi, trong trường hợp này thì doanh nghiệp nên tối đa hoá
doanh lợi dự kiến, doanh nghiệp nên điều chỉnh việc giữ tiền cho đến khi:
LS chứng khoán
=
CP của việc giữ tiền mặt
Chi phí vay tiền Lãi suất vay
Tóm lại việc quản lý tiền mặt như thế nào còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ
quản lý, xem xét thưc trạng hoạt động của doanh nghiệp của các nhà quản trị tài
chính.
- Quản lý dự trữ: Dự trữ là một bộ phận quan trọng của vốn lưu động, là nhân tố
đầu tiên, quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, vì thế việc quản lý dự trữ
có hiệu quả là góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Mức dự trữ vật tư
hợp lý sẽ quyết định mức dự trữ tiền mặt hợp lý. Nếu doanh nghiệp dự trữ quá lớn sẽ
tốn kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh

hoạt động của doanh nghiệp, thị trường và sự tăng trưởng của kinh tế. Các nhân tố
này có một ảnh hưởng nhất định tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
chẳng hạn như với chính sách tài chính kinh tế của nhà nước có sự tác động trực tiếp
với vai trò tạo hành lang an toàn để các doanh nghiệp hoạt động và đảm bảo sự phát
triển cân đối giữa các ngành kinh tế của cả nước. Nhà nước có thể khuyến khích,
thúc đẩy kìm hãm sự phát triển của các ngành kinh doanh bằng những công cụ kinh
tế của mình. Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố nằm trong nội bộ doanh nghiệp, nó tác động
trực tiếp đến việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và
17
vốn kinh doanh nói chung. Các nhân tố đó là trình độ quản lý vốn kinh doanh của
những nhà điều hành doanh nghiệp, trình độ tổ chức, trình độ quản lý nhân sự và
trình độ tổ chức quá trình luân chuyển hàng hoá. Đó là các nhân tố quan trọng nhất
đối với doanh nghiệp. Nhà quản trị tài chính doanh nghiệp phải biết cách tổ chức, sắp
xếp mọi thứ một cách hợp lý, chặt chẽ và khoa học để mọi công việc diễn ra một
cách nhịp nhàng ăn khớp và tránh được sự lãng phí. Có như vậy mới đảm bảo được
hiêụ quả sử dụng vốn lưu động.
Từ việc nghiên cứu tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu
động của doanh nghiệp, chúng ta có một cái nhìn khái quát hơn để đưa ra những biện
pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
18
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NAM PHONG
2.1 Khái quát về Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Nam Phong
2.1.1 Quá hình thành và phát triển của công ty
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, công tác kinh doanh buôn bán cạnh
tranh ngày càng khắc nghiệt. Công nghệ thông tin càng được đánh giá cao và có giá
trị làm tăng năng suất, tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp. Công ty cổ phần đầu tư

động, an toàn lao động và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững,
thực hiện đúng những tiêu chuẩn kỹ thuật mà công ty áp dụng cũng như quy định
liên quan đến hoạt động của công ty.
Để tăng tính chủ động trong hoạt động kinh doanh, công ty có những quyền
hạn sau:
Tham gia các hoat động nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh như: quảng cáo,
triển lãm, trưng bày sản phẩm…
Được chủ động đàm phán ký kết hợp đồng kinh doanh. Giám đốc công ty là
người đại diện cho công ty về quyền lợi, nghĩa vụ sản xuất kinh doanh của công ty
theo quy định của pháp luật hiện hành.
Hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính, có tư
cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng tại ngân hàng…
Là một đơn vị có quy mô nhỏ, công ty cổ phần đầu tư và phát triển Nam
Phong có tổ chức bộ máy gọn nhẹ linh hoạt. Được mô tả qua sơ đồ sau:
20
Sơ đồ : Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển
Nam Phong
Chức năng nhiệm vụ và mối liên hệ giữa các phòng giữa các phòng
* Đại hội đồng cổ đông :
- Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty gồm tất cả các
cổ đông có quyền biểu quyết, họp ít nhất mỗi năm một lần.
- Đại hội đồng cổ đông quyết định những vấn đề được Luật pháp và Điều lệ Công
ty quy định.
- Đại hội đông cổ đông thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của Công ty và
ngân sách tài chính cho năm tiếp theo, bầu miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội
đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát của Công ty
* Hội đồng quản trị :
- Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị Công ty, có toàn quyền nhân danh Công
ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công ty không thuộc thẩm
quyền của đại hội đồng cổ đông.

- Quyết định lương thưởng của nhân viên trong công ty…
* Phó Giám đốc:
- Phó Giám đốc tham gia điều hành hoạt động của công ty.
- Ký kết các hợp đồng kinh tế theo luật định, tham mưu cho giám đốc về bảo toàn tài
chính và phương án kinh doanh và kế hoạch kinh doanh của công ty.
- Cấp các báo cáo cho giám đốc.
* Phòng Hành chính
- Có nhiệm vụ tập hợp, lưu trữ, quản lý, chuyển thông tin văn bản pháp lý
hành chính trong và ngoài công ty, truyền đạt ý kiến, chỉ thị của ban giám đốc các cá
nhân trong đơn vị.
22

Trích đoạn Tăng cường quản lý hàng tồn kho Tăng cường tiện ích cho khách hàng đồng thời quản lý tốt khoảnphải thu. Tổ chức công tác phân tích tài chính. Chú trọng phát huy nhân tố con người, đào tạo bồi dưỡng cán bộ Nhà nước cần nhanh chóng xây dựng một thị trường tài chính hoàn chỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status