ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN BÙI THỊ THANH THU Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH ĐƠN GIẢN
TRỒNG NẤM MỠ BRASIL AGARICUS BRASILIENSIS VỚI
COMPOST TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM” Chuyên ngành: VI SINH
Mã số: 60 42 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC Cán bộ hướng dẫn : PGS-TS PHẠM THÀNH HỔ
TP. Hồ Chí Minh – 2010
1.1.1. Nấm và sinh học nấm lớn 2
1.1.1.1 Định nghĩa về nấm lớn 2
1.1.1.2. Một số đặc điểm sinh học 3
1.1.1.3. Định danh các nấm lớn 5
1.1.2. Giá trị dinh dưỡng và y dược của nấm tr
ồng 6
1.1.2.1. Giá trị dinh dưỡng 6
1.1.2.2. Giá trị y dược 8
1.1.2.3. Các bổ sung dinh dưỡng dược vào khẩu phần ăn 9
1.1.3. Tận dụng phế phụ phẩm cho sự phát triển nông nghiệp bền vững . 10
1.1.3.1. Sử dụng có hiệu quả sinh khối lignocellulose 10
1.1.3.2. Trồng nấm với phát triển nông nghiệp bền vững 11
1.2. SỰ PHÁT TRIỂN TRỒNG NẤM 12
1.2.1. Sơ lược lịch sử phát triển nghề trồ
ng nấm ăn và nấm dược liệu 12
1.2.2. Sự tăng vọt sản lượng nấm trồng trên thế giới 13
1.2.2.1. Tổng sản lượng chung tất cả các loài 13
1.2.2.2. Sự thay đổi cơ cấu sản lượng các loài nấm trồng 14
1.2.3. Sự phát triển trồng nấm ở Việt Nam 16
1.2.3.1. Các nghiên cứu về nấm ăn và nấm dược liệu ở Việt Nam 17
1.2.3.2. Hình thành nghề trồng nấm 18
- ii -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
1.3. CÔNG NGHỆ TRỒNG NẤM 18
1.3.1. Sơ đồ khái quát 18
1.3.2. Meo giống nấm 20
1.3.3. Chế biến nguyên liệu thành cơ chất trồng nấm 21
1.3.4. Gieo meo và ủ lan tơ 22
1.3.5. Chăm sóc (các yếu tố môi trường) và thu hái 24
2.1.5. Môi trường lớp (đất) phủ. 44
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.2.1. Phương pháp nhân giống sơ cấp và thứ cấp 45
2.2.2. Phương pháp xác định mức độ lan tơ nấm trên cơ chất meo 45
2.2.3. Phương pháp nuôi trồng. 46
2.3.3.1. Xác định mức độ lan tơ nấm trên cơ ch
ất trồng trong
bịch nhỏ. 46
2.2.3.2. Xác định lại mức độ lan tơ nấm trên cơ chất trồng trong bịch
lớn. 47
2.2.3.3. Thử nghiệm các loại lớp phủ và trồng ra quả thể. 48
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN. 50
3.1. Xác định mức độ lan tơ nấm trên cơ chất meo. 50
3.2. Xác định mức độ lan tơ nấm trên cơ chất trồng trong bịch nhỏ. 53
3.3. Xác định lạ
i mức độ lan tơ nấm trong cơ chất trồng trong bịch lớn. 60
3.4. Thử các loại lớp phủ và trồng ra quả thể . 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO. 73
PHỤ LỤC. PL1 - iv -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
Hình 3.10. Quả thể nấm Thái dương lô CCPB 2-1 với đấ
t phủ là than. 66
Hình 3.11. Quả thể nấm Thái dương lô CCPB 2-1 với đất phủ là phân trùn quế. . 66
Hình 3.12. Quả thể nấm lô CCPTQ 1-1 với lớp phủ là phân bò hoai. 67
- v -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
Hình 3.13. Quả thể nấm lô CCPTQ 1-1 với lớp phủ là đất rau mầm. 67
Hình 3.14. Quả thể nấm lô CCPTQ 1-1 với đất phủ là xơ dừa 67
Hình 3.15. Quả thể nấm lô CCPTQ 1-1 với đất phủ là than. 67
Hình 3.16. Quả thể nấm lô CCPTQ 1-1 với đất phủ là đất canh tác. 68
Hình 3.17. Quả thể nấm lô CCPTQ 1-1 với đất phủ là phân trùn quế. 68
Hình 3.18 : Sơ đồ qui trình trồng nấm mỡ Brasil 70
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 3.1. Độ dài lan tơ nấm trung bình (mm/ngày) trên cơ chất meo. 51
Biểu đồ 3.2. Độ dài lan tơ nấm trung bình (mm/ngày) trên CCPG 54
Biểu đồ 3.3. Độ dài lan tơ nấm trung bình (mm/ngày) trên CCPB 56
Biểu đồ 3.4. Độ dài lan tơ nấm trung bình (mm/ngày) trên CCPTQ 57
Biểu đồ 3.5. Độ dài lan tơ nấm trung bình (mm/ngày) trên cơ chất phối trộn 58
Biểu đồ 3.6. Độ dài lan tơ nấm trung bình (mm/ngày) trong bịch nhỏ và lớn 62
- vii -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
Biểu đồ 3.7. Năng suất nấm (%) trong bịch và trong khay. 64
Biểu đồ 3.8. Năng suất nấm (%) lô (10) CCPB 2-1 đối với các loại đất phủ 65
Biểu đồ 3.9. Năng suất nấm (%) lô (7) CCPTQ 1-1 đối với các loại đất phủ 66
Biểu đồ 3.10. Năng suất nấm (%) đối với các loại đất phủ . 68
MỞ ĐẦU
Trồng nấm có lịch sử lâu đời. Trên thế giới, từ những năm 1960 đến nay nghề trồng
nấm ăn và nấm dược liệu đã phát triển mạnh và nhanh một cách toàn diện về nhiều
mặt nhờ nhiều ưu thế: (1) Nấm là thực phẩm có giá trị kinh tế cao từ phế phụ phẩm
nông lâm nghiệp; (2) giảm ô nhiễm môi trường bằng phân rã sinh học; (3) Nấm là
thực phẩm chức năng (health foods); (4) Nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất;
Đặc biệt là trong thời gian qua, ngoài 10 loài nấm trồng phổ biến trên thế giới, 60
chủng loại mới được thuần hóa từ nấm thiên nhiên đưa vào nuôi trồng.
Ở Việt Nam, trồng nấm cũng được phát triển liên tục từ những năm 1980 đến nay.
Nhiều loài nấm mới được nuôi trồng phổ
biến rộng hoặc đã thử nghiệm thành công
với các điều kiện nước ta. Do vậy, việc nghiên cứu du nhập các loài nấm mới và
phổ biến rộng là cần thiết.
Nấm mỡ Brasil (Agaricus brasilensis/A. blazei), còn gọi à nấm “thái dương” (Sun
agaricus), là một loài nấm ăn quý, thực phẩm chức năng: có mùi vị thơm ngon và
đặc biệt phòng chống một số bệnh và kích thích hệ miễn dịch. Nó được đặc bi
ệt
quan tâm và trồng ở nhiều nước như Braxin, Trung Quốc, Mỹ, Nhật.
Điều đặc biệt quan trọng, nó là loài nấm mỡ chịu nhiệt, nó có thể trồng quanh năm ở
nước ta. Chủng nấm A. brasiliensis đã được du nhập vào nước ta ít nhất ở ba cơ
quan. Ở TPHCM, Th.S. Cổ Đức Trọng trồng thành công trên cơ chất mùn cưa. Ở
Nam Bộ chưa có loài Agaricus nào được trồng trên cơ
chất compost. Đề tài nhằm:
Mục tiêu : (1) Thử nghiệm trồng nấm mỡ chịu nhiệt Agaricus brasiliensis trên
compost (phân bò hoai). (2) Xây dựng quy trình cụ thể dựa trên các khảo sát về meo
giống, phối trộn nguyên liệu, lớp đất phủ và các yếu tố môi trường.
Nội dung thực hiện : (1) Khảo sát các loại cơ chất làm meo giống thích hợp với
Agaricus brasiliensis. (2) Phối trộn nguyên liệu (phân bò hoai) với các chất phụ gia
dưỡng bằng hấp thụ qua bề mặt tế bào, khác với thực vật là tự dưỡng và động vật là
nội tiêu hoá qua ống tiêu hoá.
- Nấ
m lớn theo nghĩa hẹp, mà mọi người dễ nhận thấy ngoài thiên nhiên hay được
nuôi trồng, tiếng Anh là mushroom. Trên thế giới, mushroom có thể được hiểu khác
nhau tùy đất nước và dân tộc [25].
Hiện nay, có thể tạm chấp nhận một định nghĩa : “nấm theo nghĩa hẹp là nấm lớn
(macrofungi) với quả thể (fruiting body) phân biệt rõ, mà nó có thể mọc trên mặt
Tổng quan tài liệu - 3 -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
đất hay dưới mặt đất và đủ to để thấy được bằng mắt thường và thu hái bằng tay”
(Chang and Miles, 1992 theo [25]). Nấm lớn thuộc về giới nấm, với những đặc
điểm của giới nấm. Các nấm ăn thuộc ngành phụ Nấm túi hay nấm nang
(Ascomycotina) và ngành phụ Nấm đảm (Basidiomycotina), và không nhất thiết ăn
được. Tuy định nghĩa trên không hoàn chỉnh lắm, nhưng có thể dùng để đánh giá số
lượng các loài nấm lớn trên thế giới (Hawksworth, 2001 theo [25]).
1.1.1.2. Một số đặc điểm sinh học
Hình thái : Nấm ăn có cấu tạo căn bản gồm hai phần: hệ sợi tơ nấm và quả thể.
Phần nhiều quả thể các nấm lớn rất đa dạng: hình dù với mũ nấm và cuống nấm
(hình 1.1), có bao ngoài (hình 1.2), giống vỏ sò như nấm sò, hình cúp uốn nh
ăn,
dạng cầu, dùi cui nhỏ (hình 1.3), dạng giống lỗ tai như nấm tai mèo. Trên thực tế,
khó mà kể hết các hình dạng của các nấm lớn.
Hình 1.1. Nấm hương
(hình dù)
Hình 1.2. Nấm rơm
(có bao ngoài)
trong một số năm có thể mất hẵn sự tạo thành tai nấm [25]. Trong trồng nấm, nhiều
khi thất bại do không thu được quả thể.
Phân nhóm nấm theo giá trị sử dụng: Căn cứ theo giá trị sử dụng, có thể chia nấm
lớn thành 4 loại: (1) Nấm ăn (ví dụ, nấm hương L. edodes, nấm rơm V. volvacea, ;
(2) Nấm y dược (như nấm linh chi Ganoderma lucidum); (3) Nấm độc (như nấm
Amanita phalloides); (4) Nhóm nấm hổn hợp hay“các nấm khác” số lượng lớn các
nấm còn lại chưa xác định rỡ được giá trị sử dụng. Dĩ nhiên, kiểu phân loại này chỉ
có giá trị tương đối. Nhiều loại nấm lớn tuy không ăn được, nhưng chúng có giá trị
t
ăng lực và y học [25].
Phân nhóm nấm theo môi sinh: Nấm là những sinh vật không thể thiếu cho sự
sống trên trái đất, chúng phân huỷ những chất bã hữu cơ, và là một mắt xích quan
trọng trong lưới thức ăn tự nhiên, tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất. Phân
nhóm nấm theo môi sinh thì có thể chia thành 3 loại: (1) Hoại sinh: thu nhận dinh
dưỡng từ vật liệu hữu cơ chết. (2) Ký sinh: sinh vật ký sinh lấy chất dinh dưỡng từ
thực v
ật và động vật sống, gây bất lợi cho vật chủ. Chỉ có vài nấm trồng là ký sinh.
Tuy nhiên, một số nấm trồng như nấm mèo hay mộc nhĩ Auricularia auricular/
polytricha , nấm linh chi Ganoderma lucidum có thể mọc trên cây còn tươi sống
Tổng quan tài liệu - 5 -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
hay đã khô mục. Chúng có thể gọi là bán ký sinh. (3) Nấm cộng sinh thường gọi là
rễ-nấm hay khuẩn căn: rễ-nấm có quan hệ sinh lý chặt chẻ hai bên đều có lợi với rễ
thực vật sống chủ: nấm thu nhận dinh dưỡng từ thực vật đồng thời làm cây tăng
trưởng tốt hơn. Một số nấm ăn nổi tiếng thuộc loại này nh
ư: Amanita ceseareus là
nấm mang tên hoàng đế Cesear do ông thích ăn loại nấm này; nấm truffle đen
(Tuber melanosporum) ra quả thể dưới mặt đất, mà việc dò tìm phải nhờ heo hoặc
chó đã được huấn luyện quen mùi; nấm Cep Bordeaux (gọi theo tiếng Pháp)
Boletus, thường cộng sinh với rễ cây sồi Quercus; nấm matsutake (tiếng Nhật)
khoảng 10% tổng số các loài nấm lớn dự kiến có trên Trái đất (Hawksworth, 2001
theo [24]). Trong số đó khoảng 2000 loài đã được dùng làm thức ăn, khoảng 200
loài được dùng làm dượ
c liệu ở vùng Viễn đông. Riêng ở Trung Quốc, ước tính có
khoảng 1500–2000 loài nấm ăn và dược liệu với 981 loài được định danh (Shu-Ting
Chang, 2008). Cần biết rằng, 1% các nấm lớn ghi nhận trên thế giới là nguy hiểm
nếu ăn, thậm chí một số gây độc chết người. Đến năm 2002, 92 chủng loại nấm lớn
đã được thuần hóa, mà 60 trong số này được nuôi trồng để bán ra thị trường (Mau et
al., 2004 theo [25]).
1.1.2. Giá trị
dinh dưỡng và y dược của nấm trồng
1.1.2.1. Giá trị dinh dưỡng
Nấm ăn là một món ăn quí không chỉ vì thơm ngon mà còn vì có giá trị dinh dưỡng
cao. Khó khăn lớn nhất trong dinh dưỡng nuôi người là cung cấp đủ số lượng và
chất lượng protein. Ba loại chất dinh dưỡng khác là nguồn năng lượng
(carbohydrate và mỡ); các yếu tố bổ sung thực phẩm (các vitamin); các hợp chất vô
cơ là không thể thiếu được cho sức khỏe tốt.
Độ ẩm cố định của nấm tươi dao động trong khoảng 70–95%, còn nấm khô thì ở
mức 10–13%. Hàm lượng protein của nấm trồng ở mức từ 1.75 to 5.9% trọng lượng
tươi, có thể lấy giá trị trung bình đại diện khoảng 3.5–4.0%; nói chung gấp 2 lần củ
hành (1.4%) và cải bắp (1.4%). Có thể so sánh với hàm lượng protein thịt nói chung
như sau: thịt heo, 9–16%; thịt bò, 12–20%; thịt gà, 18–20%; cá, 18–20%; và sữa,
2.9–3.3%. Xét về trọng lượng khô, nấm ăn thường ch
ứa 19–35% protein, so với
7.3% ở gạo, 12.7% ở lúa mì, 38.1% trong đậu nành, và 9.4% ở ngô. Như vậy,
protein thô nấm ăn thấp hơn các thịt động vật, nhưng cao hơn phần lớn thực phẩm
khác, kể cả sữa. Hơn nữa, protein của nấm ăn chứa đủ 9 loại acid amin không thay
thế [25]
Tổng quan tài liệu - 7 -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
đôi khi có thể kích thích khẩu vị. Thêm vào giá trị dinh
dưỡng, các nấm ăn có một số màu sắc, mùi vị độc đáo, và các đặc tính kết cấu hấp
dẫn người ăn [25].
Tổng quan tài liệu - 8 -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
1.1.2.2. Giá trị y dược
Từ lâu, các tính chấy y dược của nấm đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu.
Trong số 14,000–15,000 nấm lớn trên thế giới, khoảng 400 có các tính chất y dược
biết được, nhưng dự kiến khoảng 1800 loài có tiềm năng về các tính chất y dược.
Nhiều công trình nghiên cứu và các bài báo đã nêu các tính chất y dược này của
nấm, ví dụ, như các hiệu quả đối với áp huyết cao và thận (Yip et al., 1987), điều
biến miễn d
ịch và các hoạt tính chống khối u của các phức hợp protein-
polysaccharide từ nuôi cấy hệ sợi tơ nấm (Liu et al., 1995, 1996; Wang et al.,
1995a, 1996b, c (theo [25], điều biến miễn dịch và các hoạt tính chống khối u của
các lectin từ nấm ăn (Wang et al., 1995b, 1996a, 1997 [theo 24]), phân lập và xác
định các đặc tính của kiểu I protein bất hoạt ribosome từ nấm rơm Volvariella
volvacea (Yao et al., 1998 [theo [25]), các hiệu quả của nấm linh chi Ganoderma
lucidum [25].
Có thể kể ra một số tác dụng y dược của nhiều loại nấm trồng.
- Nấm mỡ Agaricus bisporus có chứa hợp chất ngăn cản enzyme aromatas làm tăng
trưởng khối u, dùng điều trị và ngăn ngừa được ung thư vú. [7]
- Nấm kim châm Flammulina velutipes có chứa Flammulin, có tác dụng hiệu quả từ
80-100% trên u báng (sarcoma 180) và ung thư biểu bì. Các nhà trồng nấm kim
châm ở tỉnh Nagano có tỉ lệ ung thư rất thấp so với cộng đồng. [16]
- Nấm hương Lentinula edodes từ lâu được coi có tác dụng làm tăng lực, có chất
Lentinan làm giảm cholesterol máu và phòng chống ung thư [15]. Một
polysaccharide khác (KS-2) (Fujii và cộng sự (1978)) cũng chống lại sarcoma 180
và ung thư biểu bì. Chất aritadenin làm giảm cholesterol máu.[7]
- Nấm bào ngư xám Pleurotus ostreatus chứa Lovastatin (3-hydroxy-3-
học nấm đang mở rộng [25].
Cả quả thể và hệ sợi tơ nấm đều sản sinh ra các chất y dược hoặ
c dinh dưỡng dược
(tăng cường miễn dịch tổng quát - general immune-enhancing), mà chủ yếu là
polysaccharide, triterpene, các protein điều biến miễn dịch. Mặc dù hầu như tất cả
các loài nấm và thực phẩm có polysaccharide trong vách tế bào, nhưng một số chứa
các polysaccharide cho hiệu quả đặc biệt trong làm chậm sự tiến triển khối u và
nhiều bệnh khác, giảm bớt hiệu quả phụ của phóng xạ và hóa trị liệu. Nhiề
u nghiên
cứu ở châu Á, đặc biệt ở Trung Quốc và Nhật Bản, ghi nhận sự kéo dài cuộc sống
Tổng quan tài liệu - 10 -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
của các bệnh nhân bị ung thư chịu các trị liệu nói trên kèm uống hay tiêm chiết suất
nấm (Mizuno et al., 1995; Liu, 1999 theo [25]). Ngoài ra, nhờ tăng cường hệ miễn
dịch, nó còn giúp giảm bị nhiễm các bệnh khác.
Khoảng 80 - 85% của tất cả các sản phẩm y dược nấm bắt nguồn từ các quả thể do
các trang trại nuôi trồng hay thu hái từ thiên nhiên, ví dụ, Lentinan, chất phân tử lớn
(1! 3)-þ-D-glucan, từ nấm hương Lentinula edodes và các sản phẩm khác nhau t
ừ
nấm linh chi Ganoderma lucidum. Chỉ khoảng 15% của tất cả sản phẩm được chiết
ra từ hệ sợi tơ. Các ví dụ đáng kể là PSK (tên thương mại Krestin) là polysaccharide
peptide và PSP (polysaccharide-gắn peptide) chiết từ Coriolus versicolor. Một
phần nhỏ sản phẩm nấm nhận được từ dịch lọc nuôi cấy, ví dụ, schizophyllan, (1 !
3),(1 ! 6)-þ-D-glucan, lấy từ Schizophyllum commune Fr., và PSPC từ Tricholoma
lobayense Hein. Tuy nhiên, do đòi hỏi chất lượng tă
ng và cần sản xuất quanh năm,
sản phẩm từ tơ nấm sẽ tăng đột biến trong tương lai [25].
Doanh số thị trường nấm y dược và các dẫn suất bổ sung vào thức ăn của chúng trên
toàn thế giới khoảng 1,2 tỉ U.S.$ năm 1991 và 3,6 tỉ U.S.$ năm 1994 (Chang, 1996
theo [25]). Năm 1999, ước tính 6,0 tỉ U.S.$. Doanh số thị trường chỉ riêng các sản
khổng lồ tạo ra hàng năm thông qua các biện pháp nông lâm nghiệp và công nghiệp
thực phẩm. Nhưng biện pháp có giá trị hơn cả là trồng nấm ăn, vì nó có nhiều loại
enzyme phân rã lignocellulose nên tạo ra nấm có giá trị kinh tế cao từ phế phụ
phẩ
m, lại giảm ô nhiễm môi trường. Hơn thế nữa, gần đây sản xuất nấm y dược và
các chất có hoạt tính sinh học làm giá bán nấm tăng cao đáng kể.
Sự phân rã sinh học của nấm nhờ các enzyme không những làm các phế liệu được
phân rã nhanh giảm ô nhiễm môi trường, mà còn có tác động bồi hoàn sinh học
(bioremediation). Bã cơ chất sau trồng nấm làm giàu chất hữu cơ cho đất, thậm chí
phân bón hữu cơ sạ
ch cho cây trồng, nên có ý nghĩa bảo vệ môi trường.
1.1.4.2. Trồng nấm với phát triển nông nghiệp bền vững
Cuộc sống con người tác động rất lớn đến môi trường sống và thường xuyên gây ô
nhiễm môi trường. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào vẫn sản xuất được lương
thực, thực phẩm mà không gây nguy hại cho môi trường. Giới chuyên môn gọi vấn
đề này là phát triển nông nghiệp bền vững (sustainable agriculture). Nông nghiệp
bền vững là một hệ thống trong đó con người tồn tại và sử dụ
ng những nguồn năng
lượng không độc hại, tiết kiệm và tái sinh năng lượng, sử dụng nguồn tài nguyên
phong phú của thiên nhiên mà không phá hoại những nguồn tài nguyên đó. Nó góp
phần tích cực vào bồi hoàn sinh học (bioremediation) những hệ sinh thái đã bị suy
thoái [7]. Việc tận dụng những phế phụ liệu của nông nghiệp để sản xuất ra thực
phẩm sẽ góp phần đáng kể vào phát triển nông nghiệp bề
n vững. Nguồn phế thải
của nông nghiệp rất lớn (rơm rạ, thân, lõi bắp, thân cây đậu phộng, bã mía…), nếu
biết tận dụng làm nguyên liệu trồng nấm, sau khi thu hoạch nấm, ủ chúng để làm
phân vi sinh thì sẽ được nhiều lợi ích. Thứ nhất, có sản phẩm giá trị cao để thu
Tổng quan tài liệu - 12 -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
hoạch. Thứ hai, không gây ô nhiễm môi trường. Thứ ba, bã sau khi trồng nấm lại có
thực phẩm Từ năm 800 Trung Quốc
Lentinula edodes (nấm
hương)
thực phẩm, dược liệu Từ năm 1000 Trung quốc
Poria cocos (nấm phục
linh)
dược liệu Từ năm 1232 Trung quốc
Agaricus bisporus (nấm
mỡ)
thực phẩm, dược liệu Từ năm 1600 Pháp
Ganoderma spp. (linh
chi)
dược liệu Từ năm 1621 Trung Quốc
Volvariella volvacea
(nấm rơm)
thực phẩm Từ năm 1700 Trung Quốc
Tremella fuciformis
(nấm ngân nhĩ)
thực phẩm, dược liệu Từ năm 1894 Trung Quốc
Pleurotus ostreatus (bào
ngư xám)
thực phẩm, dược liệu Từ năm 1900 Đức
Pleurotus ferulea
(một loại nấmbào ngư)
thực phẩm Từ năm 1958 Pháp
Pleurotus eryngii
(bào ngư–nấmđùi gà)
thực phẩm Từ năm 1977 Pháp
Tổng quan tài liệu - 13 -
HVCH: Bùi Thị Thanh Thu
Bảng 1.2. Tổng sản lượng nấm trồng trên thế giới từ năm 1960 đến 2002
Năm Sản lượng (tấn tươi) Năm Sản lượng (tấn tươi)
1960
1965
1970
1975
1978
1981
170.000
301.000
484.000
922.000
1.060.000
1.257.000
1983
1986
1990
1994
1997
2002
1.453.000
2.182.000
3.763.000
4.909.000
6.158.000
12.250.000
Sản lượng nấm trên toàn thế giới tăng liên tục từ năm 1960 đến nay, đặc biệt tăng
vọt: năm 1981 là 1.257.200 tấn, đến năm 1997 tăng thành 6.158.400 tấn, gấp hơn
4,5 lần trong 16 năm; gấp đôi trong 5 năm 1997 – 2002 từ 6,158 triệu tấn lên 12,250
Nấm mỡ Agaricus
bisporus/bitorquis
900,0
(71,6)
1.227,0
(56,2)
1.420,0
(37,8)
1.846,0
(37,6)
1.955,9
(31,8)
Nấm hương
Lentinula edodes
180,0
(14,3)
314,0
(14,4)
393,0
(10,4)
826,2
(16,8)
1.564,4
(25,4)
Nấm bào ngư
Pleurotus spp.
35,0
(2,8)
169,0
(7,7)
Nấm kim châm
Flammulina
velutipes
60,0
(4,8)
100,0
(4,6)
143,0
(3,8)
229,8
(4,7)
284,7
(4,6)
Ngân nhĩ
Tremella spp.
40,0
(1,8%)
105,0
(2,8)
156,2
(3,2)
130,5
(2,1)
Nấm ngọc trâm
Hypisizygus spp.
22,6
(0,6)
54,8
(8,4)
Tổng sản lượng
1.357,2
(100,0)
2.182,0
(100,0)
3.763,0
(100,0)
4.909,3
(100,0)
6.158,4
(100,0)
% gia tăng 73,6 72,5 30,5 25,4
Theo “World Production of Cultivated Edible and Medicinal Mushrooms in
Different Years” (Chang, 1999).
Các loài nấm khác như nấm hương Lentinula edodes, nấm bào ngư Pleurotus spp có
sản lượng tăng vọt. Năm 1981, nấm tuyết nhĩ Tremella, nấm ngọc trâm (ở các chợ
Việt Nam còn gọi là “nấm hải sản”) Hypisizygus, Grifola chưa được trồng,. Nhưng
từ 1986, Tremella có mặt trên thị trường, năm 1990, Hypisizygus và Grifola cũng
có mặt. Năm 1981, sản lượng các loại nấm khác (ngoài 10 loài đã phổ biến rộng
Agaricus, Lentinus, Pleurotus, Auricularia, Volvariella, Tremella, Hypisizygus,
Grifola , Pholiota, Flammulina) chiếm 0,1%, đến 1997 là 8,4%. [22].
Đặc biệt, bảng 1.4 cho thấy sự phát triển trồng nấm nhảy vọt của Trung Quốc làm
thay đổi căn bản cơ cấu sản lượng các loài nấm trồng trên thế giới. Vị trí số một
thuộc về nấm bào ngư Pleurotus spp. với nhiều loài khác nhau. Vị trí thứ hai là nấm
hương Lentinula edodes. Nấm mỡ rơi xuống v
ị trí thứ ba. Trồng nấm phát triển theo
hướng ngày càng tăng nhanh hơn về sản lượng và đa dạng về chủng loại các nấm
trồng là thực phẩm chức năng và y dược [22]. Nói chung đến năm 1997, Châu Á
197.400
557.700
183.300
30.500
5.210
>200.000
110.185
84.356
25.068
45.805
29.882
1.821
1.803
3.428
383.636
2,3
2,2
22,7
0,9
42,5