giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại sở giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) các ngành, các lĩnh vực
trong nền kinh tế nước ta đều có những thay đổi. Ngân hàng Việt Nam nói chung cũng
như Sở giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phẩn Ngoại thương Việt Nam nói riêng
cũng có những thay đổi về quản lý, về điều hành chính sách tiền tệ, từng bước củng cố,
cải tiến và phát triển trong toàn hệ thống.
Thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng là một dịch vụ phong phú, đa
dạng và liên tục phát triển, đáp ứng được một phần lớn yêu cầu của nền kinh tế thị
trường linh hoạt và năng động. Thanh toán không dùng tiền mặt giúp việc tập trung và
phân phối vốn được nhanh chóng, an toàn, và hiệu quả, góp phần tích cực vào việc
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc phát triển hệ thống qua Ngân hàng không chỉ tạo
tiền đề, nền tảng cho sự phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mà còn giúp
Nhà nước quản lý vĩ mô một cách có hiệu quả, đặc biệt là trong quá trình hội nhập
kinh tế.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của hoạt động thanh toán không dùng tiền
mặt, và qua thời gian tìm hiểu tại Sở giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt Nam, em mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Giải pháp mở rộng hoạt động
thanh toán không dùng tiền mặt tại Sở giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngoại thương Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống lại những vấn đề cơ bản liên quan đến hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Sở giao dịch
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, từ đó tổng kết những thành
tựu đã đạt được, những mặt hạn chế và tìm ra nguyên nhân.
- Dựa trên quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển của Sở giao dịch Ngân

Sở giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam.

Thang Long University Library

1

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Những vấn đề chung về thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.1. Hình thức chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế
Quá trình tái sản xuất mở rộng được tiến hành trong điều kiện tồn tại nền sản
xuất hàng hóa và tiền tệ cho thấy sự hình thành và phát triển các hình thức chu chuyển
tiền tệ là một tất yếu khách quan.
Chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế hàng hóa được thực hiện dưới hình thức
thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt.
Giữa thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bằng tiền mặt có mối liên
hệ với nhau chặt chẽ và thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau. Mối quan hệ này bắt
nguồn từ chỗ: sự chu chuyển của sản phẩm hàng hóa đòi hỏi phải sử dụng tiền tệ trong
các chức năng để thực hiện các mối quan hệ kinh tế phát sinh thường xuyên hàng ngày
- đó là một tất yếu - thì mặt khác đòi hỏi con người và xã hội phải sử dụng tiền trong
các trường hợp thanh toán như thế nào cho hợp lý và tiện lợi. Nghĩa là việc sử dụng
tiền mặt hay không sử dụng tiền mặt để thực hiện các khoản thanh toán không phải do
ý muốn chủ quan của Nhà nước hay một cơ quan quản lý nào đó mà do yêu cầu khách
quan trong thanh toán đòi hỏi. Chẳng hạn, một khoản thanh toán giữa đơn vị A và B
trong trường hợp họ đều mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng thì tốt hơn hết là dùng
cách chuyển khoản bởi vì nó tiện lợi nhất, tiết kiệm lao động, chi phí ít hơn và an toàn
hơn dùng tiền mặt. Tuy vậy, cũng có trường hợp cần phải dùng tiền mặt chẳng hạn,
người dân cần tiền mặt trong quĩ tiêu dùng của mình để ra thị trường mua hàng hóa.
Như vậy, tùy theo yêu cầu khách quan của các khoản thanh toán trong nền kinh

gian và không gian. Thông thường, sự vận động của tiền trong thanh toán và sự vận
động của vật tư hàng hóa là không có sự ăn khớp với nhau.
Đây là đặc điểm lớn nhất, nổi bật nhất trong thanh toán không dùng tiền mặt,
cần phải nhận thức một cách đúng đắn.
Sự tách rời như vậy giữa tiền và hàng là không thể tránh khỏi. Điều đó chỉ ra
cho ta một phương án thanh toán - ở đó phải chấp nhận sự tách rời, nhưng không thể vì
sự tách rời mà gây ra chậm trễ, gian lận trong thanh toán nghĩa là hạn chế đến mức
thấp nhất mọi rắc rối có thể xảy ra trong thanh toán.
- Trong thanh toán qua Ngân hàng (NH), vật môi giới (tiền mặt) không xuất
hiện như trong thanh toán bằng tiền mặt (H - T - H) mà nó xuất hiện dưới hình thức
tiền tệ kế toán (tiền ghi sổ) và được ghi chép trên các chứng từ, sổ sách kế toán (gọi
chung là tiền chuyển khoản).
Đây là đặc điểm nổi bật, đặc điểm riêng của thanh toán qua Ngân hàng. Với
đặc điểm này thì mỗi bên tham gia thanh toán (mà chủ yếu là người mua) nhất định
phải mở tài khoản tại Ngân hàng và hơn nữa phải có tiền trên tài khoản đó nữa. Bởi
vì, nếu không như vậy thì việc thanh toán sẽ không thể tiến hành.
Thang Long University Library

3

Ngoài ra do phải mở tài khoản tại NH, nên vấn đề kiểm soát của NH trong việc
tổ chức thanh toán là cần thiết: kiểm soát tính đúng đắn của nội dung thanh toán, kiểm
soát tính hợp pháp của chứng từ.
- Trong thanh toán qua NH, vai trò của ngân hàng là rất to lớn. Vai trò của
người tổ chức và thực hiện các khoản thanh toán, kể cả Ngân hàng trương ương và
Ngân hàng thương mại (NHTM) đều rất to lớn trong việc phát triển hệ thống thanh
toán của một quốc gia.
Ngoài hai hoặc nhiều đơn vị mua bán tham gia thanh toán, thì NH được xem
như “ người thứ ba” không thể thiếu được trong thanh toán chuyển khoản. Bởi vì chỉ
có Ngân hàng - người quản lý tài khoản tiền gửi của các đơn vị mới được phép trích

100%. Quá trình thanh toán này nhanh hơn tiền mặt, giảm được rất nhiều chi phí liên
quan đến quá trình vận chuyển, kiểm đếm tiền mặt.
Mặt khác, cá nhân hay các tổ chức không phải đem theo một số lượng tiền mặt
để thanh toán cho các giao dịch phát sinh và không phải bận tâm đến những rủi ro bất
ngờ như trộm cắp, thiên tai, hỏa hoạn…
Ngoài ra, khi KH mở tài khoản tại NH và duy trì số tiền họ còn được hưởng lợi
ích khác như được trả lãi, được cung cấp dịch vụ NH với nhiều ưu đãi…
- Đối với Ngân hàng
Tài khoản tiền gửi giao dịch của KH tại NH là nguồn huy động vốn quan trọng
không thể thiếu được trong hoạt động của NHTM. Mặt khác, nguồn vốn này được NH
trả lãi thấp hoặc không trả lãi do đó khi dùng vốn để cho vay mức lợi nhuận thu được
tương đối cao. Tuy nhiên, mỗi NH sẽ có cách riêng của mình để sử dụng vốn huy động
từ tiền gửi thanh toán làm thế nào vừa đảm bảo tính thanh khoản mà vẫn thu được lợi
nhuận cao. Nhờ có nguồn vốn quan trọng nên các NH có điều kiện để mở rộng cung
ứng các dịch vụ cho KH, tạo điều kiện để tăng lợi nhuận, điều mà bất kỳ NH nào cũng
mong muốn trong quá trình kinh doanh.
- Đối với nền kinh tế
Thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông
từ đó giảm bớt một khoản chi phí rất lớn cho việc in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm
đếm.
Mặt khác, TTKDTM góp phần tăng cường hiệu lực quản lý của NH. Các
nghiệp vụ TTKDTM đều được lưu lại trên sổ sách kế toán tại NH nên thông qua đó có
thể kiểm soát hoạt động của các đơn vị thuộc nhiều thành phần kinh tế khác một cách
dễ dàng. TTKDTM còn góp phần chống thất thu thuế có hiệu quả.
Góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển, giảm
thiểu tới mức tối đa các chi phí giao dịch trong xã hội.
1.1.4. Những qui định chung
1.1.4.1. Đối tượng áp dụng
Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán gồm:
Thang Long University Library

Tài khoản thanh toán là tài khoản (TK) do người sử dụng dịch vụ thanh toán
mở tại các NH cung ứng dịch vụ thanh toán để thực hiện các giao dịch thanh toán
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Về mở tài khoản:
Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán (khách hàng) có
quyền lựa chọn tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để mở tài khoản thanh toán, giao

6

dịch. Việc mở tài khoản của khách hàng tùy thuộc vào khách hàng thể nhân hay pháp
nhân.
Nếu khách hàng (KH) là pháp nhân khi mở tài khoản tại tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán cần phải có quyết định bổ nhiệm của các cấp có thẩm quyền đối với chủ
TK và kế toán trưởng (nếu có); bản sao quyết định thành lập doanh nghiệp hoặc giấy
phép kinh doanh do cấp có thẩm quyền cấp, mẫu dấu, chữ ký.
Nếu là thể nhân chỉ cần ghi đầy đủ các thông tin vào giấy đăng ký mở tài
khoản, ký tên, chứng minh thư nhân dân.
Khi quyết định mở TK tiền gửi thanh toán tại NH, KH thường quan tâm đến các
yếu tố:
+ Thuận tiện trong giao dịch, tốc độ nhanh.
+ Đảm bảo an toàn tài sản.
+ Chi phí giao dịch hợp lý.
Khách hàng có thể mở nhiều TK khác như như TK tiền gửi thanh toán, tài
khoản tiền gửi chuyên dùng và có thể mở một số TK cùng loại tại các NH khác với
các điều kiện TK mở ra phải có tiền gửi ký gửi theo qui định của NH cung ứng dịch
vụ thanh toán.
Để mở TK giao dịch, khách hàng cần có những giấy tờ sau:
+ Giấy đăng ký mở TK do chủ TK ký và đóng dấu, lập theo mẫu in sẵn của NH.
Mẫu này được niêm yết tại các phòng kế toán của chi nhánh NH.
+ Bản quyết định bổ nhiệm của cấp có thẩm quyền đối với chủ TK (đã được

- Đối với chứng từ giấy
Khách hàng cần chú ý đến tính chính xác đầy đủ và rõ ràng các nội dung trên
chứng từ. Trong một bộ chứng từ thanh toán, các nội dung phải được phản ánh thống
nhất, không mâu thuẫn với nhau. Các chứng từ phải được lập đủ liên, viết rõ ràng,
không được tẩy xóa.
Trên chứng từ (bản chính) phải có chữ ký của chủ TK, kế toán trưởng, và đóng
dấu đơn vị, mẫu chữ ký và mẫu dấu của KH phải được đăng ký trước tại NH nơi KH
giao dịch.
- Đối với chứng từ điện tử
Chứng từ điện tử: Là chứng từ mà các yếu tố của nó được thể hiện dưới dạng
dữ liệu điện tử đã được mã hóa mà không có sự thay đổi trong quá trình truyền qua
mạng máy tính hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ…
+ Các dữ liệu thông tin trên chứng từ điện tử phải phản ánh rõ ràng, trung thực
và thực hiện mã hóa, chữ ký điện tử được xác lập riêng cho từng cá nhân để xác định
quyền hạn và trách nhiệm của người lập và những người liên quan chịu trách nhiệm về
tính an toàn và chính xác của chứng từ điện tử.
+ Chữ ký trên chứng từ điện tử có giá trị như chữ ký trên chứng từ giấy.
+ Khách hàng phải nộp chứng từ vào NH theo đúng thời gian qui định.

8

1.4.5. Quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán và khách
hàng sử dụng dịch vụ thanh toán
- Quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng:
Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán có quyền qui định phí dịch vụ thanh
toán, mức thấu chi đối với khách hàng, yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin liên
quan đến sử dụng dịch vụ thanh toán hoặc phạm vi các qui định về thanh toán, từ chối
các giao dịch thanh toán có bằng chứng bất hợp pháp.
Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán có nghĩa vụ thực hiện các giao dịch
thanh toán nhanh, đầy đủ, chính xác và an toàn theo yêu cầu của khách hàng. Niêm

hay cho người cầm séc.
Séc là một phương tiện thanh toán được sử dụng rộng rãi cho mọi khách hàng.
Trên thế giới đã có luật séc áp dụng cho nhiều nước và từng nước có qui định riêng. Ở
Việt Nam văn bản pháp lý cao nhất chi phối thanh toán séc là Nghị định 159/2003/NĐ
– CP của Chính phủ ban hành ngày 10/12/2003 về “Quy chế phát hành và sử dụng
séc” thì một số qui định về sử dụng séc như sau :
- Người ký phát: Là người lập và ký tên trên séc để lệnh cho người thực hiện
thanh toán thay mặt mình trả số tiền ghi trên séc.
- Người được trả tiền: Là người mà người ký phát chỉ định có quyền hưởng
hoặc chuyển nhượng quyền đối với số tiền ghi trên tờ séc.
- Người thụ hưởng: Là người cầm tờ séc đó mà người cầm tờ séc đó có ghi tên
người được trả tiền chính là mình hoặc không ghi tên người được trả tiền hoặc ghi cụm
từ “trả cho người cầm séc” hoặc đã chuyển nhượng bằng ký hậu cho mình thông qua
dãy chữ ký chuyển nhượng liên tục.
- Người thực hiện thanh toán: Là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi
người ký phát được sử dụng tài khoản thanh toán với một số tiền để ký phát séc theo
thỏa thuận giữa người ký phát với tổ chức cung ứng dịch vụ.
- Người thu hộ: Là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán làm dịch vụ thu hộ
séc.
+ Thời hạn xuất trình séc: Là khoảng thời gian tính từ ngày ký phát ghi trên tờ
séc đến ngày tờ séc được thanh toán không điều kiện khi xuất trình. Thời hạn xuất
trình của tờ séc là 30 ngày kể từ ngày ký phát, trường hợp bất khả kháng thì thời hạn
xuất trình được kéo dài cho tới khi sự kiện bất khả kháng chấm dứt, nhưng tối đa
không quá 6 tháng kể từ ngày ký phát.
Thời hạn xuất trình, thời hạn gửi thông báo, truy đòi bao gồm cả ngày nghỉ,
nếu ngày kết thúc của thời hạn là ngày nghỉ thì được lùi thời đến ngày làm việc tiếp
theo ngay sau ngày nghỉ.
+ Địa điểm thanh toán: Trong thời hạn qui định, tờ séc phải được xuất trình để
thanh toán tại địa điểm thanh toán ghi trên tờ séc; hoặc nếu tờ séc đó không ghi địa
điểm thanh toán thì tờ séc đó phải được xuất trình để thanh toán tại địa chỉ người thực

Là loại séc dùng để rút tiền mặt tại nơi khách hàng mở tài khoản.
- Thủ tục phát hành séc lĩnh tiền mặt:
Người phát hành phải ghi rõ tên của pháp nhân (hay cá nhân) địa chỉ, số hiệu tài
khoản, tên tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán giữa tài khoản của người thụ hưởng
vào vị trí qui định trên tờ séc, đồng thời nộp cho nơi mở tài khoản.

Thang Long University Library

11

- Cách thức thanh toán:
Khi lĩnh tiền, người lĩnh tiền phải nộp tờ séc lĩnh tiền mặt vào NH nơi người
phát hành séc mở TK. Khi nhận được séc lĩnh tiền mặt hoặc giấy ủy quyền (nếu có)
NH thanh toán thực hiện việc chi trả theo qui định hiện hành.
1.2.2.2. Séc chuyển khoản
Séc chuyển khoản hay còn gọi là séc trả tiền vào TK : Là loại séc chỉ được
thanh toán bằng cách trích chuyển TK giữa các chủ thể tham gia mà không được rút
tiền mặt tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Phạm vi áp dụng : Séc trả tiền vào tài khoản dùng để thanh toán giữa các khách
hàng mở tài khoản tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Nếu khách hàng dùng
séc thanh toán khác tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (không cùng một tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán) thì các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đó phải
tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố.
Sơ đồ 1.1: Qui trình thanh toán séc chuyển khoản giữa các khách hàng mở tài
khoản tại cùng một Ngân hàng (1) Người trả tiền phát hành séc giao cho người thụ hưởng.
(2) Người thụ hưởng nộp séc và bảng kê nộp séc vào tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán nhờ thu hộ tiền.
(3) Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (thu hộ) kiểm tra chứng từ, chuyển tờ
séc, bảng kê cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (trả tiền).
(4) Tổ chức thực hiện thanh toán ghi Nợ tài khoản thanh toán số tiền trên séc và
báo Nợ cho người trả tiền.
(5) Tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán thực hiện thanh toán lập chứng từ
thanh toán bù trừ và chuyển cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thu hộ để thanh
toán cho người thụ hưởng.
(6) Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thu hộ ghi Có TK tiền gửi thanh toán
số tiền trên séc và báo Có cho người thụ hưởng.
1.3.1.2 Séc bảo chi
Séc bảo chi: Là loại séc thanh toán được ngân hàng đảm bảo chi trả bằng cách
trích trước số tiền ghi trên tờ séc phát hành từ tài khoản tiền gửi của người trả sang
TK đảm bảo khả năng thanh toán séc.
Phạm vi áp dụng: Thanh toán giữa các KH có mở TK tại cùng một chi nhánh
NH hoặc khác NH có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố hoặc
thanh toán giữa các KH có mở TK tại các chi nhánh NH cùng hệ thống trong phạm vi
cả nước.
Người trả tiền



(1) Người trả tiền làm thủ tục bảo chi séc: Lập 2 liên giấy yêu cầu bảo chi séc
theo tờ séc đã ghi đủ các yếu tố nộp vào tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để xin
bảo chi séc. NH đối chiếu giấy yêu cầu bảo chi séc và tờ séc, số dư TK của người
phát hành nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tiền từ TK tiền gửi chuyển vào TK đảm
bảo thanh toán séc. Sau đó đóng dấu “bảo chi” lên tờ séc và giao séc cho KH.
(2) Người trả tiền giao séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hóa, dịch vụ.
(3) Người thụ hưởng lập bảng kê nộp séc kèm tờ nộp vào NH phục vụ mình,
xin thanh toán.
(4) Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (NH) thu hộ kiểm tra các yếu tố, ký
hiệu mật sau đó ghi Có vào TK tiền gửi và báo Có cho người thụ hưởng. Đồng thời
thực hiện tất toán TK đảm bảo thanh toán séc.
Sơ đồ 1.4: Qui trình thanh toán séc bảo chi giữa các khách hàng mở tài khoản
không cùng một Ngân hàng (1) Người trả tiền làm thủ tục bảo chi séc.
(2) Người trả tiền giao séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hóa,dịch vụ.
(3) Người thụ hưởng kiểm tra séc bảo chi, lập bảng kê kèm tờ séc nộp vào tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán nhờ thu hộ.
Người trả tiền Người thụ hưởng

Tổ chức cung ứng dịch
v

(4) Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thu hộ kiểm tra,ghi Có vào TK tiền
gửi thanh toán và báo Có cho người thụ hưởng.
(5) Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thu hộ chuyển các chứng từ sang tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán thực hiện thanh toán, ngân hàng thực hiện thanh
toán tất toán.
1.2.2. Thanh toán ủy nhiệm chi
Ủy nhiệm chi (UNC) hoặc lệnh chi là lệnh thanh toán của người trả tiền (lập
theo mẫu do NH qui định) gửi cho NH nơi mình mở TK yêu cầu trích một số tiền nhất
định trên TK của mình để trả cho người thụ hưởng.
Ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi được áp dụng trong thanh toán tiền hàng hóa dịch
vụ hoặc chuyển đổi của người sử dụng dịch vụ thanh toán trong cùng một NH hay giữa
các NH cùng hoặc khác hệ thống trong phạm vi cả nước.
Điều kiện, thủ tục thanh toán, thời hạn thực hiện UNC do NH thỏa thuận với
người sử dụng dịch vụ thanh toán phù hợp với qui định của NHNN. Trong thời gian
không quá một ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được UNC do NH phục vụ người
trả tiền gửi đến, NH phục vụ phải ghi Có vào TK của người thụ hưởng theo yêu cầu
của UNC đó.
Sơ đồ 1.5: Qui trình thanh toán ủy nhiệm chi giữa các khách hàng mở tài khoản
tại một chi nhánh Ngân hàng

(1) Người trả tiền nộp ủy nhiệm chi vào NH yêu cầu trích tài khoản tiền gửi của
mình chuyển trả người thụ hưởng.
(2) NH kiểm tra ủy nhiệm chi, số dư tài khoản người trả tiền, trích tài khoản và
báo Nợ cho người trả tiền.

người trả tiền.
(2b) NH phục vụ người trả tiền, chuyển tiền cho NH phục vụ người thụ hưởng.
(3) NH phục vụ người thụ hưởng ghi Có TK tiền gửi và báo Có cho người thụ
hưởng.
Hiện nay, thanh toán bằng ủy nhiệm chi ở Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt (chiếm trên 70%) vì đơn giản, thuận
lợi, chi phí thấp, nhanh chóng, phạm vi rộng rãi. Tuy nhiên xu hướng chung là giảm
dần tỉ lệ thanh toán thông qua ủy nhiệm chi và chuyển sang sử dụng hình thức ủy
nhiệm thu, thẻ, séc.
1.2.3. Thanh toán bằng ủy nhiệm thu
Ủy nhiệm thu (UNT) hoặc nhờ thu là giấy ủy nhiệm do người thụ hưởng lập
nhờ Ngân hàng thu hộ trên cơ sở hàng hóa đã giao cho người mua hoặc dịch vụ cung
ứng đã hoàn thành.
Điều kiện, thủ tục thanh toán, thời hạn thực hiện UNT hoặc nhờ thu do Ngân
hàng thỏa thuận với người sử dụng dịch vụ thanh toán phù hợp với qui định của
NHNN. Trong thời hạn không quá 1 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được UNT do
NH phục vụ người thụ hưởng gửi đến, NH cung ứng dịch vụ thanh toán, người trả tiền
phải hoàn tất việc trích TK của người trả tiền. Người thụ hưởng

Người trả tiền

Tổ chức cung ứng dịch
v
ụ thực hiện thanh toán

(3)
(1)
(1) Người thụ hưởng giao hàng hoặc hoàn thành cung ứng dịch vụ.
(2) Người thụ hưởng lập ủy nhiệm thu kèm hóa đơn, chứng từ gửi ngân hàng
phục vụ mình nhờ thu hộ.
(1)
Ngân hàng

(1)

(2)

(3a)

Người trả tiền

Người thụ hưởng

(3b)Giao hàng Người thụ hưởng

Người trả tiền

Thư tín dụng (hay gọi là L/C – letter of credit) là một tờ lệnh của NH phục vụ
bên mua (theo đề nghị của người mua) đối với NH phục vụ bên bán để tiến hành trả
tiền cho người bán theo các chứng từ của người bán xuất trình về hàng hóa đã giao,
dịch vụ đã được cung ứng cho bên mua, phù hợp với các khoản đã ghi trong thư tín
dụng.
b) Một số qui định cụ thể
- Thư tín dụng được dùng để thanh toán giữa các bên mua và bán khác địa
phương trong hệ thống NH trong trường hợp bên bán đòi hỏi bên mua phải đảm bảo
vốn để chi trả ngay sau khi giao hàng hóa, dịch vụ.
- Mỗi thư tín dụng chỉ được dùng để thanh toán với một người bán duy nhất
(tức là với một người thụ hưởng).
- Mức tiền tối thiểu của một thư tín dụng là 10,000,000 VND.
- Thời hạn hiệu lực của một thư tín dụng là 3 tháng kể từ ngày NH bên mua
nhận mở thư tín dụng.

18

c) Thủ tục lập chứng từ, luân chuyển chứng từ và thanh toán
Sơ đồ 1.9: Qui trình thanh toán thư tín dụng
(1) Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết với bên bán, bên mua lập giấy xin
mở thư tín dụng (lập 6 liên, hoặc 3 liên nếu mở bằng điện, theo mẫu qui định thống

NH bên bán
(NH thanh toán)
(3)

(2)
Hợp đồng kinh tế
(4)

(7)
(5)

(6b)

Thang Long University Library

19

(6) Nhận được bộ chứng từ thanh toán, NH bên bán kiểm tra ngay nếu có gì sai
sót không phù hợp với thư tín dụng thì từ chối thanh toán hoặc đề nghị bên bán bổ
sung cho đầy đủ. Chỉ khi nào đã xác định tính hợp lệ và đúng đắn thì tiến hành trả tiền
ngay cho bên bán (ghi Có vào TK của bên bán) rồi gửi một liên bảng kê chứng từ làm
giấy bảo Có cho bên bán.
Sau đó, NH bán lập giấy báo Nợ liên hàng (3 liên) kèm theo 2 bảng kê chứng từ
và các chứng từ hóa đơn liên quan gửi ngay cho NH phục vụ người mua.
(7) Nhận được giấy báo Nợ, bảng kê và các chứng từ nói trên, NH mở thư tín
dụng sẽ trích tiền gửi từ TK tiền gửi Thư tín dụng (ghi Nợ) và ghi Có vào TK thích
hợp thanh toán thư tín dụng. Sau đó, gửi 1 liên bảng kê chứng từ và các chứng từ hóa
đơn, vận đơn cho bên mua để hoàn tất quá trình thanh toán.
1.2.5. Thẻ ngân hàng
a) Khái niệm

- Thẻ thanh toán: Được phát hành trên cơ sở số dư tiền gửi của chủ thẻ. Mỗi
lần sử dụng thẻ dịch vụ hoặc các khoản khác thì NH phát hành tự động trích số tiền
tương ứng ghi trên TK của chủ thẻ, chuyển vào TK của người bán. Loại thẻ này có ưu
điểm thanh toán tức thời, nhưng đòi hỏi chủ thẻ phải có tiền gửi tại NH.
- Thẻ ghi nợ (Debit Card): Với đặc tính thuận tiện, thẻ ATM đã nhanh chóng
trở thành sản phẩm rất phổ biến, đặc biệt có tốc độ tăng trưởng từng ngày. Tuy nhiên,
sử dụng ATM chủ thẻ chỉ có thể tiếp cận với TK của mình từ máy ATM. Điều này hạn
chế việc sự dụng TK thanh toán trong việc thanh toán hàng hóa dịch vụ tại các đơn vị
nhận thẻ, chính vì lý do này thẻ ghi nợ ra đời.
Thẻ ghi nợ có tính chất tương tự như thẻ tín dụng, do các cửa hàng phát hành,
và được sử dụng mua hàng trong phạm vi hệ thống cửa hàng đó. Những cửa hàng phát
hành thẻ ghi nợ là nhằm thực hiện chiến lược Marketing. KH mua hàng bằng thẻ do
cửa hàng phát hành sẽ được giảm giá, nhưng bù lại là lãi suất của khoản nợ thường cao
hơn thẻ tín dụng.
Thẻ ghi nợ cũng là phương tiện TTKDTM. Bất cứ KH nào có TK mở tại NH
đều có thể phát hành thẻ ghi nợ. Thẻ ghi nợ cho phép KH tiếp cận với tiền gửi trong
TK thanh toán của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hóa, dịch
vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc thực hiện các giao dịch liên quan đến TK tại máy
ATM. Như vậy, chủ thẻ được chi tiêu trên số dư TK của mình tại NH. NH giữ vai trò
cho chủ thẻ và thu phí dịch vụ.
- Thẻ tín dụng: Dùng để chi trả hoặc rút tiền mặt tại NH phát hành thẻ. NH
phát hành thẻ thỏa thuận với chủ thẻ là cấp 1 hạn mức tín dụng nhất định, chủ thẻ chỉ
được phép sử dụng trong hạn mức tín dụng đó. Khi có nhu cầu thanh toán, chủ thẻ đến
cơ sở chấp nhận thẻ thực hiện lệnh thanh toán, lúc đó chủ thẻ mới chính thức nhận nợ
với NH. Đến thời hạn thỏa thuận, chủ thẻ có nghĩa vụ trả đầy đủ bản gốc và lãi cho
NH phát hành thẻ. Như vậy, việc sử dụng thẻ tín dụng chính là hình thức vay tiền NH
theo hạn mức đã thỏa thuận để thanh toán.
Thang Long University Library

21

dùng tiền mặt được mở rộng sẽ mang lại lợi ích cho khách hàng, ngân hàng, và cả cho
nền kinh tế.
Chủ thẻ
Cơ sở chấp nhận thẻ
NH phát hành thẻ
(1a)

(4)
NH đại lý thanh toán thẻ
(5)
(6)

(3)
(1b)
(2)22

Việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt có những nội dung cơ bản:
- Đa dạng hóa hình thức thanh toán không dùng tiền mặt: Là yếu tố quan
trọng để mở rộng TTKDTM phù hợp với xu thế phát triển kinh tế. Danh mục các hình
thức TTKDTM càng đa dạng thì càng đáp ứng được nhiều đối tượng thành phần kinh
tế khác nhau trên nhiều lĩnh vực. Ngân hàng phải tìm cách đáp ứng tốt với khách hàng
truyền thống, và đa dạng để tìm kiếm khách hàng tiềm năng trong tương lai.
- Gia tăng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt: Đây là một chỉ tiêu để
đánh giá mức ra tăng hàng năm của TTKDTM. Ngân hàng có thể ra tăng bằng cách
thu hút nhiều doanh nghiệp, khách hàng thanh toán, hoặc có thể thanh toán các hợp
đồng có giá trị lớn, mức độ rủi ro thấp. NH cũng cần phải chú ý đến việc mở rộng
TTKDTM phải phù hợp với khả năng kiểm soát, trình độ, qui mô của NH.

đến thanh toán mà còn thu hút được khách hàng sử dụng các hoạt động khác của NH.
+ Cơ sở hạ tầng hiện đại, an toàn làm tăng tốc độ giao dịch giữa các tài khoản
với nhau, đảm bảo an toàn cho các chủ tài khoản. Các giao dịch thanh toán diễn ra
nhanh chóng, thuận tiện, chính xác làm khách hàng ngày càng yêu thích, tin dùng hoạt
động thanh toán không dùng tiền mặt.
+ Phần lớn KH tìm đến NH để thanh toán bằng VND. Tuy nhiên, trong nền
kinh tế hội nhập thì việc thanh toán không chỉ giới hạn trong nước mà còn đòi hỏi
thanh toán quốc tế. Vì thế, NH cần chú trọng nhiều hơn việc thực hiện thanh toán bằng
các ngoại tệ khác như USD, EUR,GBP, NDT…Với việc phát triển thanh toán bằng
nhiều ngoại tệ trên nhiều nước sẽ giúp NH tăng khả năng thanh toán, đáp ứng tốt hơn
nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ của KH. Từ đó, tăng khả năng cạnh tranh với các NH
khác trên thị trường NH.
- Uy tín của Ngân hàng: Một NH tạo dựng niềm tin, hình ảnh, sự nhận biết của
KH trải qua trong suốt quá trình hình thành và phát triển. Khách hàng thường có xu
hướng tìm đến NH có uy tín để thực hiện thanh toán. Uy tín của NH là giá trị hữu hình
khó định giá được nhưng là một tiền đề quan trọng để NH phát triển, mở rộng việc
TTKDTM.
1.3.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
Đánh giá việc mở rộng TTKDTM không chỉ sử dụng các chỉ tiêu định tính mà
còn sử dụng các chỉ tiêu định lượng. Có như vậy, việc đánh giá mới thực sự khách
quan, chính xác, phản ánh đúng thực trạng. Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá việc
TTKDTM như:
- Doanh số thanh toán không dùng tiền mặt: Là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh
tổng số tiền NH thanh toán bằng cách trích chuyển tài khoản giữa các KH (bao gồm
các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, cá nhân) trong thời gian nhất định. Đây là chỉ tiêu
phản ánh khả năng mở rộng TTKDTM qua các năm. Đồng thời, cũng phản ánh tốc độ
tăng trưởng TTKDTM:
Tổng doanh số thanh toán KDTM
Tỷ trọng TTKDTM (%) =


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status