Hoàn thiện chính sách việc làm đối với lao động nữ ở việt nam hiện nay - Pdf 25

MỤC LỤC
trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Chương 1 11
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG NỮ VÀ 11
CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 11
Chương 2 48
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM 48
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 48
Chương 3 85
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM 85
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. CEDAW: Công ước xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
2. CMKT: Chuyên môn kỹ thuật
3. CNKT: Công nhân kỹ thuật
4. CP: Cổ phần
5. GTVL: Giới thiệu việc làm
6. ILO: Tổ chức lao động thế giới
7. OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
8. TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
9. TP: Thành phố
10. ThS: Thạc sĩ
11. TS: Tiến sĩ
DANH MỤC CÁC BẢNG

2011 có 25,76% đại biểu nữ trong Quốc hội – xếp thứ hai khu vực châu Á và
là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới, số
phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20%. Chính nhờ Đảng có sự
lựa chọn đường lối đúng đắn cho sự phát triển của đất nước mà vai trò của
người phụ nữ trong xã hội Việt Nam không ngừng được nâng cao.
Tuy nhiên, đó cũng chỉ mới là những bước khởi đầu thuận lợi. Hiện thời
chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế cần phải được khắc phục trong vấn đề bình
đẳng giới, nhất là về mặt tư tưởng, quan điểm của con người trong xã hội, kể
cả nam giới và nữ giới. Không chỉ có nam giới chưa nhận thức hoặc có thái
độ không chấp nhận vai trò, vị trí của phụ nữ mà ngay chính bản thân nhiều
phụ nữ cũng hiểu biết mơ hồ, từ đó có những thái độ lệch lạc và không thể có
cách giải quyết đúng đắn các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống có liên quan
đến vai trò, vị trí về giới của mình. Điều này gây ra sự bất bình đẳng giữa lao
động nam và lao động nữ, chẳng hạn như: học vấn, việc làm, cơ hội thăng
tiến, trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ trong gia đình… Những vấn đề tự
nhiên cũng như các vấn đề xã hội phần nào đã hạn chế quyền tự do độc lập, tự
do lao động, cơ hội thăng tiến mà lao động nữ thường chịu thiệt thòi hơn lao
động nam trong quan hệ lao động. Vì thế khi tham gia quan hệ lao động, lao
động nữ phải chịu áp lực tâm lý từ nhiều phía, từ công việc ở doanh nghiệp,
công sở đến công việc gia đình.
Xuất phát từ đặc điểm của phụ nữ ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ
lao động còn phải đảm nhận thiên chức làm mẹ, làm vợ, làm dâu, chính sách
việc làm đối với lao động nữ luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước.
Bộ luật Lao động đã dành một chương riêng (Chương X) đối với lao động nữ
nhằm đảm bảo các quyền làm việc của phụ nữ được bình đẳng về mọi mặt với
nam giới. Không thể phủ nhận, việc thực hiện những chính sách việc làm đối
với lao động nữ đã góp phần phát huy quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh
vực lao động việc làm, góp phần khẳng định vị thế của họ trong xã hội. Tuy
nhiên, tại nhiều đơn vị, quyền lợi của người lao động nữ vẫn chưa được thực
hiện nghiêm túc đúng quy định. Thể hiện giữa chính sách và thực tế còn nhiều

quan tâm đến lao động nữ , đặc biệt là các chính sách việc làm đối với họ.
Các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (World Bank), tổ chức Alive &
Thrive và UNICEFT luôn theo dõi, khuyến khích và tài trợ cho các chính
sách bình đẳng giới nói chung và chính sách việc làm đối với lao động nữ nói
riêng.
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về phụ nữ cũng như lao
động nữ. Công trình nghiên cứu về phụ nữ đầu tiên xuất bản được phát hành
rộng rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng là cuốn “Phụ nữ Việt Nam qua các thời
đại” của Lê Thị Nhâm Tuyết (1973, 1975). Nhìn từ góc độ nhân học xã hội,
tác giả đã phân tích trong cuốn sách những nét cơ bản về các truyền thống của
phụ nữ Việt Nam trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Một phần tư thế kỷ sau,
Lê Thị Nhâm Tuyết lại cho xuất bản cuốn “Hình ảnh Phụ nữ Việt Nam trước
thềm thế kỷ XXI”. Cuốn sách này đã thu thập những ý kiến khác nhau xung
quanh những vấn đề lớn của người phụ nữ Việt Nam và đặc biệt là giới thiệu
các kết quả thu được qua các cuộc điều tra khoa học. Cuốn sách tập trung vào
những đặc trưng của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử, trong lao động
nghề nghiệp, trong gia đình, trong quản lý xã hội.
Trong những năm gần đây, có rất nhiều bài viết đăng tải trên các báo,
tạp chí đề cập đến vấn đề nguồn lực phụ nữ như: “Quan tâm bồi dưỡng
nguồn nhân lực nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
của PGS. Bùi Thị Kim Quỳ (Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 2, 1996); “Phụ
nữ - Giới và Phát triển” của TS. Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (2000);
“Cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định nghề đào tạo dự phòng cho phụ
nữ“ của TS. Nguyễn Tín Nhiệm và TS. Phan Thị Thanh (Tạp chí Khoa học
về phụ nữ, số 4, 2002) …
Tập trung nghiên cứu về vấn đề việc làm của lao động nữ, đáng chú ý
có các công trình nghiên cứu sau đây:“Tác động của quá trình đổi mới tới lao
động nữ Việt Nam” của Trần Thị Tuyết Mai (1997); “Việc làm, đời sống phụ
nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam” của Lê Thi (1999); “Việc làm của
nữ thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” của

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là người
lao động nữ và người sử dụng lao động nữ thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ
luật Lao động. Bên cạnh đó là hệ thống chính sách việc làm hiện hành áp
dụng đối với lao động nữ ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình thực
thi chính sách việc làm đối với lao động nữ có quan hệ lao động (có thực hiện
giao kết hợp đồng lao động) được quy định tại Bộ luật Lao động Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp
luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; vận dụng quan
điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác
phụ nữ và bình đẳng giới trong lao động và việc làm.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn kết hợp sử dụng các phương
pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu tài liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại, khái
quát, hệ thống các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài luận văn;
+ Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu;
+ Tham khảo ý kiến chuyên gia;
+ Truy cập các nguồn tư liệu mở qua Internet.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm đối
với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay nhằm tạo điều kiện tốt nhất, môi trường
tốt nhất cho việc mở rộng cơ hội phấn đấu của lao động nữ, đồng thời góp
phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lao động – việc làm
và bình đẳng giới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đóng góp về lý luận:
+ Hệ thống hoá chính sách việc làm đối với lao động nữ ở Việt Nam.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân hạn chế về việc thực

chủ nghĩa Việt Nam đã nêu rõ: “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của
con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao
động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát
triển của đất nước” [11], [33], [45].
Pháp luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động
làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên
quan trực tiếp với quan hệ lao động. Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật Lao
động: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và
có giao kết hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có
thuê mướn, sử dụng và trả công lao động” [11], [33], [45]. Quan hệ lao động
giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua
thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn
trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã
cam kết.
Căn cứ Điều 1 Nghị định số 23/CP ngày 18/4/1996 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về
những quy định riêng đối với lao động nữ thì người lao động nữ được xác
định là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động thực hiện giao kết hợp
đồng lao động, bao gồm:
- Người lao động nữ làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế, các hình thức sở hữu;
- Người lao động nữ làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp
Nhà nước mà không phải là công chức, viên chức Nhà nước; nếu là công
chức, viên chức Nhà nước thì phải là những người được làm những công việc
mà quy chế công chức không cấm;
- Người lao động nữ làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân, nhưng
không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan và chiến sĩ;
- Người lao động nữ làm việc trong các đoàn thể nhân dân, các tổ chức
chính trị, xã hội khác mà không phải là cán bộ chuyên trách của đoàn thể, tổ

và không bị pháp luật cấm, đều được thừa nhận là việc làm” [11], [33],[45].
Theo quy định này, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:
- Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần, không bị
pháp luật cấm, được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật;
- Những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu
nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả
công bằng tiền hoặc hiện vật.
Khái niệm việc làm theo Bộ luật Lao động bao gồm một phạm vi rất
rộng: từ những công việc được thực hiện trong các nhà máy, công sở, đến các
hoạt động lao động hợp pháp tại khu vực phi chính thức đều được coi là việc
làm.
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với
mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao
động lớn như nước ta. Đây được xem là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố
con người, ổn định và phát triển kinh tế, góp phần xây dựng xã hội “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
1.1.2. Khái niệm về chính sách và chính sách việc làm
● Khái niệm về chính sách
Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách hay
chính sách công vẫn là một chủ đề khó đạt được sự nhất trí rộng rãi. Từ thực
tế chính sách của các ngành, các địa phương và các quốc gia, cũng như qua
những cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách, nhiều nhà
nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm khác nhau về chính sách.
Theo Peter Aucoin (1971):"Chính sách công bao gồm các hoạt động
thực tế do Chính phủ tiến hành" [7, tr.14];
William Jenkin (1978): “Chính sách công là một tập hợp các quyết
định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị
gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục
tiêu đó” [7, tr.14];
Guy Peter (1990): "Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà

một hoặc một số vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội.
Thứ năm, xét theo nghĩa rộng, chính sách công bao gồm những việc
Nhà nước định làm và không định làm.
Thứ sáu, chính sách công tác động đến các đối tượng của chính sách.
Đối tượng chính sách là những người chịu sự tác động hay điều tiết của chính
sách. Phạm vi điều tiết của chính sách có thể rộng hay hẹp tùy theo nội dung
của từng chính sách.
Thứ bảy, chính sách công được Nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích
chung của cộng đồng hoặc của quốc gia.
Những đặc trưng nói trên cho phép chúng ta có một cái nhìn tổng thể
về chính sách công. Bản chất của chính sách là công cụ định hướng của Nhà
nước cho mọi hành vi xã hội đối với các quá trình phát triển. Điều kiện tồn tại
của một chính sách là tổng hòa những hành động tích cực theo định hướng
chính trị của Nhà nước nhằm tác động, giải quyết những vấn đề nảy sinh
trong từng giai đoạn phát triển.
Một tiến trình chính sách có thể quy về 3 giai đoạn cơ bản là: hoạch định
chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách.
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình chính sách
Các giai đoạn này có liên hệ chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc: giai
đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn tiếp theo và kết quả của giai đoạn trước
là thông tin cần và đủ cho giai đoạn tiếp theo. Về thực chất, khó có thể mô tả
tiến trình chính sách một cách đơn giản và rõ ràng, vì nó vừa có tính liên tục,
vừa có tính biến động. Thực tế cho thấy rất khó xác định một chính sách nào
đó hoàn toàn ổn định trong một thời gian dài vì chúng thay đổi thường xuyên
và cần được điểu chỉnh, bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện. Điển hình
như chính sách việc làm dành cho lao động nữ ở Việt Nam.
● Khái niệm về chính sách việc làm
Đến nay, khái niệm chính sách việc làm vẫn chưa được chuẩn hoá,
chưa có một nhà khoa học hay tổ chức lý luận nào đưa ra khái niệm chuẩn
mực. Từ cơ sở lý luận về chính sách, chính sách việc làm có thể được hiểu

như để lại hậu quả to lớn. Chính sách việc làm vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế,
vừa có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội. Thực hiện tốt chính sách việc làm,
nguồn nhân lực được sử dụng có hiệu quả thì hiện tượng thất nghiệp sẽ giảm
đi, như vậy chính sách bảo hiểm xã hội sẽ giảm được chi phí cho các trợ cấp
thất nghiệp. Ngược lại, khi chính sách việc làm chưa được giải quyết tốt, nhất
là vào thời kỳ kinh tế suy thoái, nạn thất nghiệp sẽ tăng lên, và cùng với nó là
tình trạng đói nghèo, các tệ nạn xã hội sẽ dễ dàng phát sinh. Khi đó gánh nặng
đối với các chính sách về bảo trợ xã hội, an sinh xã hội sẽ tăng lên, thậm chí
còn có thể gây ra bất ổn định về chính trị, xã hội.
1.2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG NỮ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH
SÁCH VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ
1.2.1. Giới tính và Giới
Giữa nam giới và nữ giới có những sự giống và khác, sự đối lập và
bổ sung cho nhau. Đó là những khác biệt về thuộc tính sinh học và thuộc
tính xã hội. Chương trình Bình đẳng giới khu vực Đông Nam Á (SEAGEP)
đã đưa ra định nghĩa về giới và giới tính như sau:
Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ không
thể thay đổi được. Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò của nam và nữ về
mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính. Ví dụ như việc mang thai, sinh nở
và sự khác biệt về sinh lý có thể là do các đặc điểm giới tính.
Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò,
thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị. Vai trò giới được biết đến thông qua
quá trình học tập và khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, do vậy
giới có thể thay đổi được. Ví dụ: nữ thường để tóc dài, nam thường để tóc
ngắn…
Khác với vấn đề giới tính vốn chỉ đề cập tới sự khác biệt sinh học giữa
nam giới và phụ nữ, khái niệm giới đề cập đến những khác biệt về mặt xã hội
do các nhóm xã hội con người tạo ra. Cả nam giới và phụ nữ đóng nhiều vai
trò trong xã hội và các vai trò này là khác nhau theo giới. Các vai trò giới là
tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở phụ nữ và nam giới liên

“công việc của nam giới”.
Trình độ văn minh của nhân loại ở mỗi thời kỳ lịch sử đã để lại những
dấu ấn rõ rệt trong cách ứng xử, đối xử về giới. Tuy nhiên, xét về mặt xã hội,
rõ ràng giới nữ đã chịu nhiều thiệt thòi và bất công. Ví dụ như người phụ nữ
ở Việt Nam thời phong kiến không được phép đi học, đến thời Pháp thuộc,
bên cạnh vô vàn tội ác của thực dân, cũng đã có một số chuyển biến theo
hướng hiện đại như sử dụng lao động nữ làm phu đồn điền, công nhân nhà
máy…, tuy bị bóc lột nặng nề, song họ bước đầu biết thế nào là sự tự chủ
kinh tế vì đi làm có lương. Trường học mở ra cũng tạo điều kiện cho nhiều
trẻ em và thanh niên trai gái tiếp thu tri thức mới. Lần đầu tiên nữ học sinh
đến lớp, đến trường. Tuy nhiên, phụ nữ đi học cũng chỉ được làm một số
nghề, không được cử làm quan cai trị dân, điều đó chỉ dành cho nam giới.
Qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, vai trò của phụ nữ dần dần được nâng
lên. Và đến nay, phụ nữ đã được đi học trong và ngoài nước, làm tất cả
những công việc theo năng lực và nhu cầu, đạt đến học hàm Giáo sư, Tiến
sỹ, tham gia chính quyền, là đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân các cấp… Có được điều này một phần là do sự quan tâm sâu sắc và
đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước ta, và hơn hết là do tinh
thần ham học hỏi, không ngừng rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu đóng góp hết
mình của phụ nữ Việt Nam vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ
gìn các giá trị văn hoá truyền thống và vẫn “đảm việc nước, đảm việc nhà”.
Như vậy, giới là một khái niệm bao hàm một nội dung khá đa dạng thể
hiện sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò, thái độ,
quan niệm, sự phân công lao động, sức khỏe. Vai trò của cả nam và nữ là
khác nhau nên cả hai có những vị trí xã hội không giống nhau. Tuy nhiên,
không thể dựa vào những khác biệt này để tạo sự phân biệt đối xử không bình
đẳng về giới mà những khác biệt giữa phụ nữ và nam giới phải được công
nhận và đánh giá một cách bình đẳng. Vai trò, vị thế và quyền lợi pháp lý của
phụ nữ phải được tôn trọng và bảo đảm.
Với những khác biệt về giới, trong công tác phát triển cần có sự quan

học tạo nên trong lĩnh vực lao động và việc làm. Cụ thể là, cần phá vỡ sự
phân công lao động cứng nhắc theo giới, khuyến khích phụ nữ tham gia vào
những lĩnh vực mà trước đây phần lớn do nam giới đảm nhiệm, đồng thời
khuyến khích nam giới chia sẻ trách nhiệm trong lĩnh vực mà phụ nữ vẫn đảm
nhiệm chính.
Ba là, kiên quyết loại bỏ sự phân biệt đối xử theo giới trong lĩnh vực lao
động và việc làm, có nghĩa là xóa bỏ mọi rào cản để nữ giới và nam giới phát
huy được tiềm năng của mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và trong lĩnh
vực lao động, việc làm.
1.2.2. Sức khỏe
Sự khác biệt sức khỏe giữa nam giới và phụ nữ không chỉ do môi trường,
nuôi dưỡng và tập quán xã hội, mà còn do bẩm sinh, di truyền…
Xét về về đặc điểm sức khỏe sinh lý, phụ nữ thường hạn chế về thể lực so
với nam giới, nên không thích hợp với công việc nặng nhọc, những công việc
trên độ cao lớn, những nghề làm việc dưới nước, những công việc tiếp xúc
với hóa chất, hay những công việc đòi hỏi cường độ lao động cao. Như vậy,
do đặc điểm sức khỏe sinh lý mà phạm vi lựa chọn công việc của phụ nữ vô
hình trung đã bị thu hẹp so với nam giới.
Mặt khác, về phương diện giới, phụ nữ có thiên chức mang thai, sinh
con và nuôi con. Người phụ nữ mất ít nhất hai năm để tập trung cho quá trình
mang thai, sinh và nuôi con nhỏ. Nếu sinh hai con, người phụ nữ mất đi ít
nhất là 4 năm so với nam giới. Ở giai đoạn phụ nữ sinh và nuôi con, nam giới
tiếp tục học tập và phát triển, vì vậy, sau thời gian này nhìn chung phụ nữ
“tụt hậu” hơn so với nam giới. Ngoài sự mất mát về thời gian, sức khoẻ của
phụ nữ cũng bị suy yếu. Trong xã hội hiện đại, người phụ nữ vừa phải làm
kinh tế vừa phải cáng đáng công việc chăm sóc cho gia đình, ít có thời gian để
học tập, giải trí, nâng cao sức khỏe và trí tuệ để tham gia vào quá trình lao
động. Trong điều kiện kinh tế thị trường, vấn đề thai sản luôn được coi là
"hạn chế của phụ nữ" với tư cách người đi tìm việc. Thực tế, do nhiều vấn đề
phức tạp khác chi phối, làm cho các chủ sử dụng lao động phải cân nhắc, lựa

Năm Tổng số Phân theo giới tính Phân theo khu vực
Nam Nữ Thành thị Nông thôn
2000 10.3 11.8 8.6 24.2 5.3
2001 10.7 12.3 9.0 24.9 5.9
2002 11.1 12.9 9.5 25.6 6.4
2003 11.5 13.2 9.7 26.0 7.0
2004 12.0 13.8 10.2 26.5 7.3
2005 12.5 14.3 10.6 27.2 7.6
2006 13.1 14.9 11.2 28.4 8.1
2007 13.6 15.6 11.6 29.7 8.3
2008 14.3 16.3 12.2 31.5 8.3
2009 14.8 16.7 12.8 32.0 8.7
Sơ bộ 2010 14.6 16.2 12.8 30.6 8.5
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2000 – 2010).
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là một trong những tiêu chí quan trọng để
đánh giá chất lượng của lực lượng lao động. Lao động có chuyên môn kỹ
thuật tức là những lao động đã qua đào tạo ở các cơ sở, trung tâm, lớp học để
học nghề, và những người học đại học hoặc cao đẳng. Lao động không có
chuyên môn kỹ thuật là những người chưa qua đào tạo tại các cơ sở, trung
tâm, lớp học hay còn gọi là lao động phổ thông. Theo Báo cáo điều tra lao
động – việc làm 6 tháng đầu năm 2011 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ lao động
nữ không có chuyên môn kỹ thuật và nữ công nhân kỹ thuật không bằng
chiếm 86.5%, trong khi tỷ lệ này ở lao động nam chỉ ở mức 82.9%. Báo cáo
cũng cho thấy tỷ lệ lao động nữ đã qua sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng
nghề và đại học thấp hơn hẳn so với nam. Sự hạn chế về trình độ chuyên môn
kỹ thuật đã và đang là những tác nhân quan trọng kìm hãm việc phát huy vai
trò và tiềm năng của lao động nữ (xem Bảng 1.3).
Bảng 1.3: Lực lượng lao động phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
và giới tính 2011.
Đơn vị: %

họ thường phải đảm nhận những công việc, vị trí kém cạnh tranh hơn. Theo
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ở khu vực kinh tế chính thức, phụ nữ
chỉ chiếm 40% số việc làm được trả lương và chiếm tỷ lệ thấp trong nhóm
ngành nghề bậc cao (quản lý, chuyên môn kỹ thuật…) đồng thời chiếm tỷ lệ
cao ở nhóm nghề bậc trung, nghề có kỹ năng thấp (trong nhóm người làm
công việc không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật, trên 50% là nữ).
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẤN ĐỀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.3.1. Điều kiện tự nhiên và tư liệu sản xuất
Điều kiện tự nhiên là điều kiện đầu tiên, quan trọng, có khả năng tạo
thuận lợi hoặc gây khó khăn cho hoạt động sản xuất. Chẳng hạn, độ mầu mỡ
tự nhiên của đất đai, diện tích canh tác bình quân đầu người, điều kiện khí
hậu, thủy văn thuận lợi hoặc bất lợi cho phát triển các loại cây trồng và con
vật nuôi; trữ lượng của hầm mỏ, tài nguyên rừng và biển Nhưng thực tế, sự
giàu có về tài nguyên không tỷ lệ thuận với khả năng phát triển ổn định của
đất nước, dự trữ kinh tế của quốc gia cũng như sự phát triển ở mức cao trên
mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị. Trong thực tế, có những nước rất
nghèo tài nguyên thiên nhiên như Nhật Bản, Singapore, nhưng với công nghệ
hiện đại, máy móc tiên tiến, và phương pháp quản lý khoa học đã tạo ra được
nhiều việc làm cho xã hội, trong đó có lao động nữ. Vì vậy, điều kiện tự nhiên
của mỗi nước chỉ là cơ sở quan trọng ban đầu cho phát triển sản xuất. Việc
tiếp theo của mỗi nước là phát huy mặt thuận, hạn chế mặt không thuận của
điều kiện tự nhiên chi phối nền sản xuất, trên cơ sở đó hoạch định chính sách
phát triển đúng đắn, bền vững nhằm mục tiêu quan trọng là phát triển con
người - chủ thể và động lực chủ yếu của nền sản xuất và mọi hoạt động xã
hội.
Ở nước ta hiện nay, nếu thuộc vùng đồng bằng, trung du thì hầu hết đều
trong tình trạng “đất chật, người đông”, diện tích đất canh tác tính theo đầu
người rất thấp. Còn vùng miền núi thì điều kiện giao thông khó khăn, đất đai
khô cằn, độ dốc cao, thiếu nước cho sản xuất Với điều kiện tự nhiên như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status