một số giải pháp đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương ở việt nam trong thời gian tới_5 - Pdf 25

1
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
CƠ SỞ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH MIỀN TRUNG
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÂN
CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC GIỮA TRUNG
ƯƠNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM TRONG
THỜI GIAN TỚI”
Giảng viên: TS. HOÀNG MAI
Học viên: Hoàng Thị Thu Hương
Lớp: HCC 16 M
Huế, tháng 4, năm 2013
MỤC LỤC
Mở đầu
Nội dung
I. Quan niệm về phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương:
II. Sự cần thiết phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương:
III. Mục đích, vai trò của phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa
phương:
IV. Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và địa phương ở
Việt Nam hiện nay:
1. Diễn biến về phân cấp quản lý nhà nước ở Việt nam:
2. Xu hướng phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương:
V. Giải pháp đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương
ở nước ta thời gian tới:
1. Về nhận thức của cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân:
2. Về xây dựng hệ thống thể chế đối với phân cấp:
3. Đổi mới tổ chức, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền các cấp, nhất
là chính quyền địa phương các cấp:
4. Tăng cường kiểm soát của trung ương đối với địa phương:

định do mình đang nắm giữ và thực hiện cho cấp dưới thực hiện một cách thường
xuyên, liên tục bằng phương thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc bằng
cách chuyển cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn bằng các quyết định cụ
thể.
Nội dung của phân cấp là giao cho các cấp chính quyền, các bộ phận trong
bộ máy nhà nước những nhiệm vụ, quyền hạn để thực hiện, giải quyết những công
việc nhất định của nhà nước. Những nhiệm vụ, quyền hạn được giao cho các cơ
quan nhà nước mỗi cấp được xác định sao cho hợp pháp và hợp lý, căn cứ vào vị
trí, tính chất và chức năng của chúng trong bộ máy nhà nước thể hiện dưới dạng
các quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước đó. Cụ thể là:
3
+ Quyền, trách nhiệm về các công việc quản lý hoặc quyền cung ứng các dịch vụ
công trong những lĩnh vực, với quy mô nhất định theo nguyên tắc các công việc
được trao trọn gói cho từng cấp quản lý, có nghĩa là, việc của cấp này sẽ không
thuộc việc của cấp khác.
+ Để thực hiện các quyền, các công việc tương ứng thì từng cấp được trao quyền
về ngân sách, tài chính độc lập với cấp khác.
+ Quyền về tổ chức nhân sự để đảm bảo việc thực hiện các nhiệm vụ, công việc
quản lý hoặc cung ứng các dịch vụ công do mình đảm nhiệm.
Phân cấp thực chất là trao cho từng cấp hành chính- lãnh thổ những quyền tự
quyết định, tự quản lý những công việc cụ thể nhất định trên các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Các cấp chính quyền có những nhiệm vụ, quyền hạn,
trách nhiệm và nguồn lực của mình tùy theo khả năng thực tế của địa phương để
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được trao. Nhiệm vụ, quyền hạn tự quyết đó được
thực hiện thông qua các pháp nhân công quyền như cơ quan đại điện, cơ quan hành
chính… Chẳng hạn như ở nước ta là Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các
cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên hoạt động của các cơ quan
chính quyền địa phương vẫn phải luôn đặt dưới sự kiểm tra, giám sát cần thiết của
các cơ quan chính quyền trung ương.
Phân cấp thường được thực hiện ở các phương diện cơ bản như: Phân cấp về

trường, hạn chế hoặc loại bỏ cơ chế tập trung bao cấp.
Phân quyền giữa trung ương và địa phương (phân quyền theo chiều dọc) là
phân chia quyền lực nhà nước giữa các cấp chính quyền, mỗi cấp có nhiệm vụ,
quyền hạn riêng của mình, các cấp hạn chế việc can thiệp vào nhiệm vụ, quyền hạn
của nhau, nhưng cấp trên có thể kiểm tra, thanh tra cấp dưới theo quy định của
pháp luật. Phân quyền theo chiều dọc cũng có nghĩa là sự phân công trong mỗi loại
cơ quan nhà nước khi cùng thực hiện một loại quyền lực. Chẳng hạn, thực hiện
quyền hành pháp cần có sự phân công giữa Chính phủ với các cơ quan hành chính
nhà nước ở các địa phương; sự phân công giữa các cơ quan tư pháp trong việc thực
hiện quyền tư pháp (giữa công an, viện kiểm sát, toà án); sự phân công giữa các cơ
quan toà án với nhau về thẩm quyền xét xử, giải quyết các vụ việc (giữa Toà án
nhân dân tối cao, toà án nhân dân cấp tỉnh và toà án nhân dân cấp huyện); sự phân
công giữa các toà trong cùng một toà án (giữa toà hình sự, toà dân sự, toà kinh tế,
toà hành chính ). Như vậy, phân quyền theo chiều dọc cũng thể hiện sự phân cấp
giữa trung ương và địa phương, giữa cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà
nước cấp dưới.
Việc phân quyền nhà nước một cách rõ ràng sẽ tránh được tình trạng đùn
đẩy không muốn thực hiện hoặc tranh nhau thực hiện đối với một số công việc
nhất định của nhà nước. Sự phân công không rõ ràng, quy định nhiệm vụ, quyền
hạn của các cơ quan nhà nước không chặt chẽ thường dẫn đến hiện tượng không
quy kết được trách nhiệm cho các cơ quan, hoặc gặp khó khăn trong việc phối hợp
công việc giữa các cơ quan. Trên cơ sở sự phân công hợp lí về nhiệm vụ, quyền
hạn của các cơ quan nhà nước trong pháp luật, sẽ là tiêu chí để đánh giá tính hợp
pháp, trách nhiệm, hiệu quả trong hoạt động của mỗi cơ quan nhà nước trên thực
tế.
II. Sự cần thiết phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương:
Phân cấp, phân quyền giữa trung ương và các địa phương thường diễn ra với
hai lý do cơ bản: một là, khả năng hạn chế của chính quyền trung ương trong việc
quản lý, điều hành các công việc của đất nước ở các địa phương, nhất là ở những
vùng sâu, vùng xa, ở tầm vi mô; hai là, một số địa phương nhờ có những ưu thế

sử dụng quỹ đất ở Việt Nam thời gian qua đã dẫn đến nhiều địa phương cấp phép
sử dụng đất không hợp lý hoặc khai thác khoáng sản không đúng, ảnh hưởng đến
lợi ích quốc gia và sự phát triển cân đối, bền vững của đất nước. Do vậy, việc phân
cấp, phân quyền còn là giải quyết mối quan hệ giữa trung ương và địa phương một
cách phù hợp nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển của cả đất nước cũng như mỗi
địa phương. Việc phân cấp, phân quyền cho các địa phương là vấn đề tất yếu của
các nhà nước, nó phụ thuộc vào khả năng của chính quyền địa phương mỗi giai
đoạn phát triển, nếu phân cấp, giao nhiều quyền quá có thể dẫn đến chính quyền
địa phương sẽ quá tải, không thể thực hiện hết được, nếu phân cấp, giao ít quyền
quá thì hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương sẽ không cao. Xu hướng
chung hiện nay trong các nhà nước dân chủ là khi xã hội phát triển cao thì việc
phân cấp, phân quyền diễn ra nhiều hơn, chính quyền các địa phương được trao
cho nhiều nhiệm vụ, quyền hạn hơn.
III. Mục đích, vai trò của phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa
phương:
Việc phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương: Một mặt, nhằm
phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính
quyền địa phương trên cơ sở phân định rõ, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền nhà nước; mặt khác, bảo đảm sự
6
quản lý tập trung, thống nhất và thông suốt của chính quyền trung ương, tăng
cường kỷ luật, kỷ cương để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước phục vụ
tốt hơn nhu cầu và lợi ích của nhân dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội ở từng địa
phương phát triển, trên cơ sở phát huy thế mạnh của mỗi địa phương trong một nhà
nước thống nhất. Do vậy, việc phân cấp, phân quyền hợp lý, chính xác sẽ có những
tác dụng tích cực như sau:
- Thúc đẩy sự phát triển dân chủ thông qua việc cung cấp những cơ hội tốt hơn để
người dân tham gia tích cực và trực tiếp hơn vào các quá trình ra quyết định của
các cơ quan nhà nước các cấp.
-Tăng cường hiệu quả của việc cung cấp các dịch vụ công cho nhân dân thông qua

7
- Chất lượng của những dịch vụ công được cung cấp cho người dân bị ảnh hưởng
vì chính quyền địa phương thiếu năng lực hoặc những nguồn lực cần thiết để đảm
bảo việc cung cấp những dịch vụ đó.
- Làm tăng nguy cơ tham nhũng trong bộ máy nhà nước ở các địa phương và khả
năng phát triển bất bình đẳng giữa các vùng miền, khu vực khác nhau của đất
nước, có thể gây ra những mâu thuẫn giữa các địa phương với nhau hoặc giữa địa
phương với trung ương.
- Có nguy cơ khiến các cơ quan ở các cấp chính quyền địa phương bị quá tải vì
phải thực hiện quá nhiều công việc khi nguồn nhân lực không đáp ứng được. Hoặc
làm cho đội ngũ cán bộ, công chức của bộ máy chính quyền địa phương tăng lên
quá nhiều dẫn đến lãng phí nguồn nhân lực của bộ máy nhà nước.
- Tạo ra những kình địch, cạnh tranh mới, hoặc kích thích những sự kình địch,
cạnh tranh tiềm tàng giữa các địa phương khác nhau trong đất nước về các vấn đề
khác nhau của đời sống xã hội. Thậm chí việc phân cấp, phân quyền còn có nguy
cơ làm suy yếu quốc gia vì có thể dẫn đến gia tăng sự bất bình đẳng giữa các khu
vực hoặc chủ nghĩa ly khai, hoặc làm suy yếu hoạt động quản lý tài chính của quốc
gia.
- Làm giảm tính sáng tạo trong quản lý nhà nước do việc trao quyền cho những
người cầm quyền bảo thủ ở một số địa phương.
Theo các nhà khoa học thì hiện nay trên thế giới có 4 mô hình phân cấp, phân
quyền giữa trung ương và địa phương cơ bản là mô hình Anh - phân cấp cho chính
quyền địa phương theo chức năng; mô hình Pháp - song trùng giám sát; mô hình
Đức - phụ trợ lãnh thổ; mô hình xô viết - song trùng trực thuộc. Như vậy, mỗi quốc
gia có cách thức phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương khác nhau
và mỗi cách thức đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định.
IV. Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và địa phương ở
Việt Nam hiện nay:
1. Diễn biến về phân cấp quản lý nhà nước ở Việt nam:
Vấn đề phân cấp, phân quyền ở Việt Nam đã được đặt ra ngay từ những ngày

ương chia thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố
thuộc tỉnh chia thành phường, xã; quận chia thành phường. Ở tất cả các đơn vị
hành chính nói trên đều thành lập HĐND và UBND.
Có thể nói, việc phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương ở Việt Nam
thời gian qua đã tạo ra bộ máy nhà nước khá thống nhất từ trung ương đến địa
phương, ở một mức độ nào đó là phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta những
năm vừa qua. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì vấn đề phân cấp,
phân quyền ở nước ta cũng còn những hạn chế nhất định. Đó là:
- Những năm trước đây do ảnh hưởng của cơ chế tập trung cao độ dẫn đến quyền
lực nhà nước tập trung vào các cơ quan trung ương quá nhiều nên nhiều cấp, nhiều
bộ phận có biểu hiện quan liêu, không sát thực tế, thực hiện các công việc kém
hiệu quả. Quá trình thực hiện phân cấp, phân quyền còn chậm và thiếu kiên quyết,
nhiều bộ, ngành còn do dự, chưa thực sự mạnh dạn phân cấp, vẫn không muốn
phân cấp, phân quyền cho địa phương vì sợ mất quyền lực và lợi ích.
- Hệ thống chính sách, pháp luật và quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
quốc gia và mô hình tổ chức chính quyền địa phương thiếu đồng bộ và chưa rõ
ràng. Điều này dẫn đến chính quyền địa phương ở các cấp chưa phát huy được thế
mạnh của mỗi địa phương, hạn chế tính đa dạng trong sự phát triển của các địa
phương. Mối quan hệ giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ cũng chưa được quy
định rành mạch, cụ thể.
- Thẩm quyền, trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương được phân định
không rõ, quyền lực không đủ mạnh, các điều kiện về tổ chức cán bộ, tài chính,
ngân sách, cơ sở vật chất để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp của
chính quyền địa phương chưa bảo đảm. Các cơ quan chính quyền địa phương, nhất
là Hội đồng nhân dân một số cấp hoạt động mang nặng tính hình thức, hiệu quả
9
thấp. Nhiều cơ quan chính quyền địa phương thiếu năng động, thiếu chủ động,
thiếu sáng tạo trong công việc. Nhiều công việc cơ quan chính quyền địa phương
có khả năng giải quyết nhưng không có quyền giải quyết, các cơ quan cấp trên
không có khả năng giải quyết hiệu quả nhưng lại có quyền giải quyết, dẫn đến

(về dân cư, địa lý, khí hậu…) trong phát triển.
- Bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành thống nhất và thông suốt của trung ương, đồng
thời phát huy quyền tự chủ, tính năng động sáng tạo của chính quyền địa phương
các cấp. Phân cấp nhưng phải luôn giữ cho chính quyền trung ương vững mạnh, đủ
khả năng để giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước. Khắc phục tình
trạng không hoặc khó kiểm soát được của chính quyền trung ương đối với chính
quyền địa phương.
10
- Việc phân cấp phải phù hợp với điều kiện, tiềm năng, khả năng của mỗi địa
phương, mỗi khu vực, mỗi vùng, nhưng cũng đồng thời phải tránh tình trạng phát
triển mất cân đối của cả đất nước do sự tùy tiện phát triển quá mức của mỗi địa
phương.
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong sử dụng tài chính, ngân sách, tài sản
công và bố trí nguồn nhân lực, tránh lãng phí, sử dụng kém hiệu quả hoặc để xảy ra
tình trạng tham nhũng.
Vấn đề phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương ở nước ta là
vấn đề không ngừng nghỉ, sự ổn định chỉ mang tính chất tương đối và phụ thuộc
vào tình hình phát triển của đất nước ở mỗi giai đoạn nhất định.
V. Giải pháp đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương
ở nước ta thời gian tới:
Để vấn đề phân cấp, phân quyền ở nước ta được tiến hành có hiệu quả cần
chú ý các giải pháp cụ thể sau:
1. Về nhận thức của cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân:
+ Cần tiếp tục nhận thức đúng đắn về phân cấp, phân quyền trong giai đoạn hiện
nay nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, phục vụ
tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của mỗi địa phương.
Theo xu hướng chung hiện nay thì cần nghiên cứu để tiếp tục phân quyền, phân
cấp nhiều hơn cho chính quyền địa phương, nhất là tăng cường tính tự quản cho
HĐND để phát huy khả năng sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi
cấp chính quyền. Tuy nhiên, không nên quan niệm tập trung là xấu, phân cấp là tốt

đến vấn đề phân cấp, phân quyền, đến mối quan hệ giữa trung ương và địa phương
thời gian qua. Chẳng hạn, Điều 2 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà
nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước(CQNN) trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp”. Tuy nhiên, tư tưởng chỉ đạo của quan điểm trên đã chưa được thể hiện một
cách đầy đủ và chính xác ở các quy định khác của Hiến pháp và các luật tổ chức bộ
máy nhà nước của nước ta. Điều 6 Hiến pháp 1992 đã quy định: “Nhân dân sử
dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND là các cơ quan đại diện
cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm
trước nhân dân”. Việc xác định các cơ quan nhà nước như trên là chưa thực sự
chính xác. Bởi bầu cử chỉ là một cách thức hình thành CQNN, CQNN có thể được
hình thành bằng nhiều cách thức khác nhau như thông qua bầu cử, bổ nhiệm và các
cách thức khác. Do vậy, bầu cử không phải là hành vi nhân dân (cử tri) trao quyền
lực của mình cho CQNN (Quốc hội và HĐND) mà việc trao quyền lực của nhân
dân cho CQNN là thông qua hành vi ban hành hiến pháp và các luật tổ chức bộ
máy nhà nước. Bằng việc ban hành Hiến pháp nhân dân đã trao quyền lực của
mình cho các CQNN, xác định thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ, Toà án, Viện
kiểm sát (Hiến pháp khi này gần giống như văn bản thoả thuận về việc quyền lực
nhà nước được nhân dân giao cho những cơ quan nào, đến đâu). Các cơ quan nhà
nước nhận quyền từ nhân dân thông qua Hiến pháp chứ không phải thông qua con
đường bầu cử của cử tri. Vì vậy, việc Hiến pháp quy định về Quốc hội và HĐND
như trên theo tôi là chưa phù hợp vì: Một là, quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân được nhân dân giao cho không chỉ Quốc hội và HĐND mà giao cho cả các cơ
quan khác của nhà nước như Toà án, Viện kiểm sát Tất cả đều nhận quyền lực
trực tiếp từ nhân dân và các cơ quan nói trên chỉ khác nhau ở cách thức thành lập
và quyền lực được giao; hai là,nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước không chỉ
thông qua Quốc hội và HĐND mà thông qua tất cả các CQNN. Các CQNN đều

+ Bổ sung thêm các quy định pháp luật liên quan đến việc bảo đảm các điều kiện
về chuyên môn nghiệp vụ, vật chất kỹ thuật và các điều kiện khác để chính quyền
địa phương các cấp có thể hoàn thành tốt những nhiệm vụ, quyền hạn được
trao theo tinh thần mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra là: “ xây dựng, bổ sung các
thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
+ Cần có những quy định pháp luật đầy đủ về thiết chế, về nguyên tắc, trình tự, thủ
tục để giải quyết những tranh chấp giữa trung ương với địa phương hoặc giữa các
địa phương với nhau trong quá trình phân cấp, phân quyền.
3. Đổi mới tổ chức, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền các cấp,
nhất là chính quyền địa phương các cấp:
+ Đổi mới lại tổ chức của bộ máy nhà nước:
13
Cần nhận thức đầy đủ và hiện thực hóa nguyên tắc quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các CQNN trong việc
thực hiện quyền lực nhà nước ở tất cả các cấp của bộ máy nhà nước.
Hiện nay ở Việt Nam, số lượng các đơn vị hành chính các cấp, nhất là cấp tỉnh quá
nhiều, điều này gây khó khăn cho trung ương, cho Chính phủ trong quản lý, điều
hành ở tầm quốc gia. Cũng với chủ trương chia tách nên số lượng các bộ và cơ
quan ngang bộ trong bộ máy nhà nước ta khá nhiều nếu so sánh tương quan với các
nhà nước khác có quy mô và dân số tương đương với Việt Nam càng làm cho việc
quản lý hành chính nhà nước gặp nhiều khó khăn.
Với những lý do như đã nêu trên dẫn đến các cơ quan trực thuộc Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ quá nhiều, điều đó làm cho hoạt động chỉ đạo, điều hành của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ gặp rất nhiều khó khăn. Tình trạng không quản
lý được hoặc quản lý lỏng lẻo trên các lĩnh vực diễn ra khá phổ biến ở đất nước ta
thời gian qua. Do vậy, cần phải: “Cơ cấu lại bộ máy Chính phủ theo hướng giảm
các đầu mối, phù hợp với yêu cầu đổi mới chức năng, nhiệm vụ. Cơ cấu lại các cơ

theo đơn vị hành chính lãnh thổ.
+ Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng của các cơ quan nhà nước mỗi
cấp.
Phân định rõ nhóm các công việc thuộc thẩm quyền của mỗi cấp để tránh trùng lặp.
Cụ thể là:
- Nhóm công việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan trung ương, nhất là liên quan
đến lĩnh vực lập pháp.
- Nhóm công việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan ở địa phương, trong đó cũng
phân công theo từng cấp cho phù hợp với khả năng thực hiện.
- Nhóm các công việc có sự phối hợp thực hiện giữa trung ương và địa phương,
nghĩa là thuộc thẩm quyền của trung ương, nhưng được thực hiện thong qua các
địa phương.
Do vậy, cần mở rộng nội dung phân cấp quản lý cho các cấp chính quyền địa
phương trong những lĩnh vực có thể.
+ Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương, nhất là của
chính quyền cấp cơ sở để khi phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương
thì đội ngũ cán bộ, công chức này đủ khả năng, năng lực để hoàn thành có hiệu quả
những nhiệm vụ, quyền hạn được trao.
- Cần khắc phục tình trạng hoạt động mang tính hình thức của Hội đồng nhân dân
bằng việc phân quyền cho Hội đồng nhân dân để quyết định được nhiều nhiệm vụ,
quyền hạn hơn theo hướng tăng cường tính tự quản của địa phương. Trong quá
trình nghiên cứu phân cấp, phân quyền cần tham khảo thêm kinh nghiệm và mô
hình ở các nước có điều kiện tương tự như nước ta để việc phân cấp, phân quyền
được tiến hành thực sự hiệu quả nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của chính
quyền mỗi cấp ở nước ta.
4. Tăng cường kiểm soát của trung ương đối với địa phương:
Về nguyên tắc, nếu địa phương hay cấp dưới đủ năng lực để tiến hành các hoạt
động nhà nước nào đó có hiệu quả hơn so với trung ương, so với cấp trên thì cần
mạnh dạn phân cấp cho địa phương, cho cấp dưới để trung ương, cấp trên có điều
kiện giải quyết các vấn đề vĩ mô, mang tính chất chiến lược cho đất nước, không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status