LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài truyền hình
Việt Nam đã có được nhiều thành tích góp phần vào công cuộc đổi mới đất
nước. Số lượng người dân sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền ngày càng nhiều.
Chất lượng của dịch vụ cũng được nâng lên rõ rệt. Số lượng và chương trình
truyền hình ngày càng phong phú, góp phần đáng kể vào việc nâng cao đời sống
thưởng thức văn hóa, tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên việc quản lý nhà nước
đối với dịch vụ truyền hình còn nhiều bất cập, chất lượng chưa tương xứng, chưa
đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc
tế.
Công cuộc đổi mới của nước ta ngày càng đòi hỏi phải hoàn thiện hơn,
càng mới mẻ hơn, sâu sắc hơn. Công cuộc đổi mới này đòi hỏi dịch vụ truyền
hình trả tiền phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân và có ý
nghĩa giáo dục, hướng tới những giá trị tích cực. Nhận thức của các cơ quan
quản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền tuy có nhiều tiến bộ về xác định
chủ trương, phương hướng, đường lối, nhưng việc xác định đối tượng, mục tiêu,
cách thức quản lý còn chậm, gặp nhiều lúng túng.
Những thay đổi trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và đặc biệt là sự thay đổi
trong cơ chế vận hành của nền kinh tế đã dẫn đến những thay đổi tất yếu trong
quản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền . Việc chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước kéo theo nền hành chính phải có sự thay đổi phù hợp.
Hiện nay, cả nước có khoảng 2,5 triệu thuê bao và có khoảng 100 kênh
loại hình dịch vụ thông tin, giải trí này. Hiện tại, từ đô thị đến nông thôn, truyền
1
hình trả tiền được nhiều người dân sử dụng. Cùng với đó, các đơn vị là nhà cung
cấp dịch vụ truyền hình trả tiền (Đài Truyền hình Việt Nam, các đài phát thanh
truyền hình các tỉnh thành, các doanh nghiệp ) đang có xu hướng áp dụng mạnh
mẽ thành tựu khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu
cầu của người sử dụng. Tuy nhiên, do đây là một loại hình dịch vụ mới nên công
bảo vệ và phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp của dân tộc, góp phần
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ việc cung cấp nội dung các chương
trình, kênh chương trình tuyền hình trả tiền theo quy định của pháp luật về báo
chí; quản lý hạ tầng kỹ thuật truyền hình trả tiền theo qui định của pháp luật về
viễn thông; bảo đảm phát triển thị trường tuyền hình trả tiền có cạnh tranh lành
mạnh, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin giải trí đa dạng của người dân, vừa phù
hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Với tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực truyền hình
trả tiền đã có một số văn bản chỉ đạo một số cơ sở của trực thuộc lĩnh vực truyền
hình trả tiền phải nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình cũng như
chất lượng phục vụ. Với yêu cầu cấp thiết này tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý
3
nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020”
làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ quản lý hành chính công.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích hoàn thiện và đổi mới quản lý nhà nước về dịch vụ
truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020 nói chung cũng như Quản
lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Đài Truyền hình Việt Nam nói
riêng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, tổng hợp và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận quản lý nhà nước
về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam nói chung và tại Đài Truyền hình
Việt Nam nói riêng, bao gồm các vấn đề cơ bản như: Các khái niệm, bản chất,
đặc điểm, nội dung và các yếu tố tác động.
- Trên cơ sở lý luận của chương 1, chỉ ra được thực trạng, những mặt mạnh
và những vấn đề còn tồn tại của công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực truyền
hình trả tiền tại Việt Nam nói chung và tại Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng.
- Trên cơ sở thực trạng luận văn đề ra một số nhóm giải pháp chung từ đó có
những kiến nghi cụ thể để nhằm hoàn thiện và đổi mới công tác quản lý nhà
tới trong các cuốn sách nghiên cứu nghiệp vụ của các cơ sở đào tạo truyền
hình. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, hầu hết các tác giả mới chỉ dừng lại
ở mức độ đề cập giải quyết một số khía cạnh của vấn đề, những hiện tượng
đơn lẻ của thực tiễn truyền hình trả tiền hiện nay. Chưa có một công trình
5
nghiên cứu sâu, đầy đủ, có trọng tâm, trọng điểm và toàn diện về vấn đề này
với tư cách là một đề tài nghiên cứu khoa học. Chưa có một đề tài nào nghiên
cứu một cách trọn vẹn, toàn diện vai trò của quản lý nhà nước đối với truyền
hình trả tiền, thông qua hệ thống văn bản pháp lý và đánh giá ác động của
quản lý đối với truyền hình trả tiền, mặc dù đây là một vấn đề có ý nghĩa to
lớn cả về lý luận và thực tiễn.
Với những lý do trên, luận án đi sâu vào khảo sát, nghiên cứu tìm hiểu sự
quản lý của nhà nước đối với truyền hình trả tiền thông qua việc ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật (văn bản pháp lý), bước đầu tìm hiểu quá trình
thực thi các văn bản đó trong thực tiễn hoạt động của truyền hình trả tiền, qua
đó đưa ra nhận xét ban đều về tính đúng đắn, sáng suốt và giá trị lý luận, giá
trị thực tiễn của nội dung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về truyền
hình trả tiền.
7. Những đóng góp mới của luận văn
- Xây dựng được các luận điểm khoa học mới về quản lý nhà nước đối với
dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Chỉ ra được thực trạng
- Đề xuất các giải pháp và xây dựng mô hình quản lý nhà nước về dịch vụ
truyền hình trả tiền tại Việt Nam một cách hiệu quả.
8. Gỉa thuyết nghiên cứu
Nếu nghiên cứu thành công kết quả của đề tài sẽ được ứng dụng trong
thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai
đoạn 2011-2020.
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
thỏa thuận có tính ràng buộc tương đương. Trong đó chương trình truyền hình
trả tiền là các chương trình trong nước, chương trình nước ngoài được cung cấp
8
đến thuê bao truyền hình trả tiền.
Các chương trình truyền hình trả tiền có thể được cung cấp trực tiếp (dịch
vụ truyền hình trực tuyến) hoặc theo yêu cầu (dịch vụ truyền hình theo yêu cầu)
đến thuê bao truyền hình trả tiền.
Đối tượng khách hàng của truyền hình trả tiền:
- Khách hàng tiêu dùng cuối cùng: Là các hộ gia đình sử dụng trực tiếp
sản phẩm được phân phối bởi nhà cung cấp dịch vụ.
- Khách hàng phân phối lại sản phẩm: Khách hàng này mua lại dịch vụ
truyền hình trả tiền (Các kênh chương trình) và phân phối lại cho người tiêu
dùng cuối cùng. Ví dụ như khách sạn, nhà thầu dịch vụ chung cư, nhà hàng hoặc
là nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền thứ cấp khác.
- Khách hàng sử dụng các dịch vụ gia tăng trên hạ tầng mạng truyền hình
trả tiền. Đối tượng khách hàng này muốn sử dụng hạ tầng truyền hình trả tiền
làm phương tiện quảng bá thông tin sản phẩm dịch vụ của mình đến khách hàng
của truyền hình trả tiền. Ví dụ là các doanh nghiệp, tổ chức muốn quảng bá
tuyên truyền thông tin sản phẩm, sự kiện hay khai thác dịch vụ SMS trên mạng
lưới của truyền hình trả tiền đối với người tiêu dùng cuối cùng của mạng lưới.
- Hiện tại, trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang triển
khai và phát triển một số loại hình dịch vụ truyền trả tiền như sau:
+ Truyền hình cáp vô tuyến MMDS
+ Truyền hình Cáp hữu tuyến CATV
+ Truyền hình kỹ thuật số mặt đất
+ Truyền hình vệ tinh DTH
+ Truyền hình theo yêu cầu
9
+ Dịch vụ truyền hình có độ phân dải cao
+ Dịch vụ truyền hình trên internet
tăng) là các dịch vụ làm tăng thêm tiện ích về thông tin được gửi kèm theo hoặc
xen kẽ các kênh chương trình truyền hình trả tiền và được hiển thị trên thiết bị
nghe nhìn của thuê bao truyền hình trả tiền.
- Hạ tầng kỹ thuật cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền (gọi tắt là Hạ tầng
kỹ thuật truyền hình trả tiền) là hạ tầng mạng viễn thông có tính năng kỹ thuật
đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền.
Hỗ trợ kỹ thuật truyền hình trả tiền cung cấp tín hiệu cho thuê bao truyền hình
trả tiền tại điểm kết cuối theo quy định của pháp luật về viễn thông.
- Thuê bao truyền hình trả tiền (gọi tắt là Thuê bao) là tổ chức, cá nhân sử
dụng dịch vụ truyền hình trả tiền của đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền
theo Hợp đồng cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền.
- Thiết bị đầu cuối thuê bao truyền hình trả tiền (gọi tắt là Thiết bị đầu cuối)
là thiết bị mà thuê bao sử dụng để kết nối với điểm kết cuối của hạ tầng kỹ thuật
11
truyền hình trả tiền để nhận tín hiệu của đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả
tiền.
1.1.2. Quan niệm về quản lý nhà nước đối với dịch vụ truyền hình trả tiền
* Nhà nước: Là "sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp
không thể điều hoà được", là công cụ của quyền lực chính trị. Nhà nước - theo
đúng nghĩa của nó - là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai
cấp khác, là bộ máy để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác.
* Bộ máy nhà nước: Có thể được hiểu như là một tổng thể các cơ quan
trong cơ cấu tổ chức nhà nước. Bộ máy nhà nước bao gồm cả 3 loại tổ chức
được phân công theo 3 quyền: Lập pháp (Quốc hội), Hành pháp (Chính phủ), Tư
pháp (Toà án).
* Nhà nước pháp quyền: Là "nhà nước coi pháp luật là trên hết và thực
hiện quản lý bằng pháp luật".
- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam "là công cụ chủ yếu để
thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân", theo đó, "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ
sự tác động có định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó và hướng nó phát
triển phù hợp với những quy luật nhất định. Nói cách khác, quản lý chính là sự
13
tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt
động của con người làm cho chúng vận động phát triển phù hợp với quy luật, đạt
được tới mục đích và theo ý chí của người quản lý hay là sự tác động của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến
động của môi trường.
* Khái niệm về quản lý nhà nước:
- Trong xã hội có nhà nước thì hoạt động quản lý cao nhất - quản lý nhà
nước - được bảo đảm thực hiện nhờ yếu tố quyền lực nhà nước. Do đó, quản lý
nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của
các cơ quan nhà nước đối với các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con
người để duy trì, phát triển các mối quan hệ cũng như trật tự pháp luật nhằm
thực hiện các chức năng và nhu cầu của nhà nước theo các mục tiêu đã định. Đó
là sự quản lý của "một chủ thể đặc biệt - bộ máy nhà nước - với đặc trưng là
quyền lực công" , là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành
pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà
nước. Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức
và cá nhân được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước.
- Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, là toàn bộ hoạt động của bộ
máy nhà nước từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tư
pháp; hiểu theo nghĩa hẹp, đó là việc thực hiện các hoạt động chấp hành và điều
hành của nhà nước (hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nước theo ý
nghĩa vốn có của nó). Hoạt động này chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống cơ
quan hành chính nhà nước, đứng đầu là Chính phủ. Nội dung của hoạt động này
là điều chỉnh các quá trình, hành vi hoạt động của xã hội và con người bằng
14
quyền lực nhà nước được thể hiện bằng các quyết định của các cơ quan nhà nước
dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật (hay còn gọi là văn bản pháp lý).
tiền nước ngoài tại Việt Nam;
- Tổ chức, chỉ đạo công tác khen thưởng trong hoạt động truyền hình trả
tiền tại Việt Nam.
- Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách, quy
hoạch, kế hoạch phát triển truyền hình trả tiền, việc chấp hành pháp luật về
truyền hình trả tiền; thi hành biện pháp ngăn chặn hoạt động truyền hình trả tiền
trái pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong hoạt động truyền
hình trả tiền.
1.2. Nội dung về quản lý nhà nước đối với dịch vụ truyền hình trả tiền
1.2.1. Thể chế về quản lý nhà nước đối với dịch vụ truyền hình trả tiền
- Nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, trong những năm qua, nhà nước đã
ban hành nhiều chính sách phát triển dịch vụ truyền hình, nhờ đó, hệ thống
truyền hình trả tiền đã có sự phát triển nhanh.
- Quyết định số 877/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22 tháng
11 năm 1996 quy định về việc thu tín hiệu và sử dụng tín hiệu từ vệ tinh các
chương trình nước ngoài.
16
- Quyết định số 79/TTg-QĐ2002 ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2002, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành về việc quản lý việc thu các chương trình truyền
hình nước ngoài.
- Quyết định số 20/2011/ QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành
ngày 24/3/2011 nhằm phát triển gắn với quản lý hướng đến sự phát triển vững
chắc của truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Kèm theo Quyết
định này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành về Quy chế quản lý Truyền hình trả
tiền. Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành một số Thông tư và một số văn bản
Pháp luật khác liên quan đến lĩnh vực phát thanh truyền hình như Thông tư số
07/2011/ TT – BTTTT ngày 01/3/2011, Quy định chi tiết và hướng dẫn việc cấp
giấy phép hoạt động báo chí trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Thông qua quyết định số 20/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các
đơn vị kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền sẽ thực hiện đúng theo từng điều
04/4/1997, Quyết định số 32/1998/QĐ-TTg ngày 10/02/1998, Quyết định số
123/2001/QĐ-TTg ngày 22/8/2001 về thành lập các tổ chức trực thuộc của Đài.
Ngoài ra, các văn bản quy định về nội dung trên đối với Đài Truyền hình
Việt Nam còn có Quyết định số 48/QĐ-BTT ngày 27/4/1987 của Bộ Thông tin
về việc giao nhiệm vụ hướng dẫn và tổ chức bồi dưỡng cán bộ, công nhân kỹ
thuật truyền thanh từ Vụ Tổ chức cán bộ - Lao động và Đào tạo chuyển sang Cục
18
Phát thanh - Truyền thanh - Truyền hình, Quyết định số 94/QĐ-BTT của Bộ
Thông tin ngày 08/04/1998 quyết định chức năng quản lý khoa học kỹ thuật
trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình, Quyết định số 530/TC-QĐ ngày
13/8/1988 của Bộ Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Thông
tin - Phát thanh - Truyền hình (cơ quan giúp Bộ VHTT thực hiện quản lý nhà
nước đối với truyền hình), Quyết định số 2 ngày 12/4/1990 của Bộ
VHTTTT&DL về việc giữ nguyên tổ chức và công tác tổ chức văn hoá thông
tin,, phát thanh và truyền hình, du lịch ở tỉnh, huyện hiện có đảm bảo hoạt động
bình thường, Quyết định số 63/QĐ-LHKH ngày 12/01/1991 của Bộ
VHTTTT&DL thành lập Ban Đầu tư phủ sóng truyền hình qua vệ tinh.
Các văn bản về Đài Truyền hình Việt Nam có nội dung trên gồm có:
Quyết định số 1935 QĐ/PT-TH ngày 04/11/1991 của Bộ trưởng Bộ VH-TT-TT
về việc uỷ quyền xét duyệt và ký thừa lệnh Bộ giấy cho phép lắp đặt, sử dụng
thiết bị thu tín hiệu phát thanh - truyền hình trực tiếp từ vệ tinh (TVRO) và các
đài, trạm phát thanh - truyền hình, Quyết định số 605-TTg ngày 31/8/1996 của
Thủ tướng Chính phủ cho phép ngành Truyền hình được sử dụng nguồn thu từ
quảng cáo để phát triển ngành, Quyết định số 1401/1998/QĐ-VBHTT ngày
20/7/1998 của Bộ trưởng Bộ VHTT về việc thu hồi giấy phép thu chương trình
truyền hình nước ngoài của công ty BAT (Việt Nam), Quyết định số 46/QĐ-BC
ngày 10/01/1997 của Bộ trưởng Bộ VH-TT ban hành quy chế cấp giấy phép,
kiểm tra xử lý vi phạm việc thu chương trình truyền hình nước ngoài từ vệ tinh
(TVRO), Quyết định số 156/QĐ/VHTT ngày 01/02/1999 của Bộ trưởng Bộ
VHTT cho phép Trung tâm khai thác bản quyền và trao đổi chương trình truyền
chính hướng dẫn kế toán đơn vị sự nghiệp có thu.
Đài Truyền hình Việt Nam cũng đưa ra Quyết định số 97/2002 của Tổng
Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam về việc ban hành Quy chế quản lý tài
chình của Đài Truyền hình Việt Nam để cụ thể hoá những văn bản trên đối
với hoạt động quản lý tài chính của từng đơn vị trực thuộc.
Ngoài ra, mọi hoạt động của Đài Truyền hình Việt Nam còn được định
hướng thông qua công cụ chính sách của Nhà nước như chính sách giáo dục,
chính sách đảm bảo xã hội, chính sách văn hoá…
Đài Truyền hình Việt Nam là đơn vị chủ quản ngân sách. Ban Tài chính-kế
toán có trách nhiệm tham mưu tổng hợp về quản lý tài chính, giúp Tổng
Giám đốc điều hành, quản lý hoạt động tài chính của Đài theo đúng quy định
của Nhà nước. Trách nhiệm của các đơn vị được quy định rõ như sau:
- Thủ trưởng và kế toán trưởng các đơn vị trực thuộc Đài chịu trách nhiệm
trước Tổng Giám đốc và các cơ quan quản lý Nhà nước về mọi hoạt động
kinh tế, tài chính của đơn vị mình.
- Các đơn vị phải chấp hành sự kiểm tra và hướng dẫn của Ban Tài chính
Kế toán trong việc xây dựng, thực hiện dự toán ngân sách; hạch toán kế toán
trong phạm vi dự toán được phê duyệt, đảm bảo đúng chính sách, chế độ, tiêu
chuẩn, định mức theo các văn bản của Nhà nước và của Đài Truyền hình Việt
Nam quy định.
21
- Ban Tài chính Kế toán có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn hoạt
động tài chính của các đơn vị theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
Quy chế hoạt động đã được Tổng Giám đốc ban hành.
- Tất cả các đơn vị trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam có sử dụng nguồn
Ngân sách Nhà nước, nguồn quảng cáo và thu dịch vụ khác, nguồn viện trợ,
tài trợ, đặt hàng, vốn tín dụng trong nước, nước ngoài, ngoại tệ, lệ phí, học
phí… đều phải chấp hành quy chế quản lý tài chính áp dụng cho toàn Đài
Truyền hình Việt Nam.
- Đài Truyền hình Việt Nam quản lý, thực hiện chế độ kế toán, phân bổ và
loại, làm phong phú thêm đời sống của người dân).
Đối với mỗi Đảng, nhất là đối với Đảng công nhân, thì việc lập phổ biến
chủ trương chính sách của Đảng hàng ngày là cái mốc quan trọng để tiến lên
phía trước. Đó là trận địa ban đầu, từ đó Đảng sẽ tiến hành cuộc đấu tranh với
đối thủ của mình bằng vũ khí tương xứng. Truyền hình nói chung và truyền hình
trả tiền nói riêng là công cụ tuyên truyền, cổ động quần chúng có tác dụng một
cách lan tỏa nhanh chóng không có gì thay thế được.
Với vai trò của truyền hình trả tiền thì việc phổ biến tư tưởng, giáo dục
chính trị và thu hút những bạn đồng minh chính trị đã đóng góp không những chỉ
23
là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tập
thể
Nhiệm vụ của truyền hình trả tiền đóng góp công sức tuyên truyền, cổ
động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục
đích chung.
Như vậy, truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng của giai
cấp, của nhóm xã hội nào, phản ánh tư tưởng, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của
giai cấp đó, của nhóm xã hội đó và trong một xã hội có giai cấp, truyền hình luôn
thuộc về một giai cấp, thể hiện khuynh hướng chính trị, tư tưởng và bảo vệ cho
lợi ích của giai cấp đó. Và, một khi được vận dụng một cách đúng đắn và tự giác,
có ý thức thì tính khunh hướng được phát triển ở một trình độ cao sẽ trở thành
tính Đảng.
Truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng cần phải bảo vệ và
giải thích rõ yêu cầu của Đảng, thể hiện rõ những ý kiến quan điểm của Đảng.
Đồng thời, phải đấu tranh với kẻ thù của Đảng, bác bỏ ý kiến và tham vọng của
chúng. "Truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng của Đảng là
người phát ngôn của Đảng, là đội tiền phong của giai cấp vô sản, là người tuyên
bố và bảo vệ luận cương và phương hướng của Đảng".
Như vậy, Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ bản chất của tính khuynh hướng,
khẳng định tính khuynh hướng là tất yếu của hoạt động truyền hình nói chung và
25