Quản lý nhà nước về dịch vụ
viễn thông công ích ở Việt Nam
Đặng Văn Thái
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS. Quản lý kinh tế; Mã số: 60 34 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Hà Văn Hội
Năm bảo vệ: 2014
Abstract. Luận văn đã hệ thống hóa những ly
́
lu ận cơ bản về dịch vụ viễn thông công
ích và quản lý, phổ cập dịch vụ viễn thông công ích. Đồng thời đánh giá được thực trạng
quản lý nhà nước về dịch vụ viễn thông công ích ở nước ta trong những năm qua. Trên cơ
sở nghiên cứu định hướng phát triển của viễn thông và viễn thông công ích, luận văn đã
đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về DVVTCI ở Việt
Nam.
Keywords. Quản lý kinh tế; Quản lý nhà nước; Dịch vụ viễn thông công ích; Viễn thông
Content.
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Viễn thông là một ngành kinh tế kỹ thuật, hạ tầng cơ sở, đóng vai trò vừa là dịch
vụ liên lạc, vừa là một phương tiện, nền tảng để chuyển tải nhiều loại hình dịch vụ khác
về thông tin truyền thông. Đây là một ngành đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, có liên
quan đến tất cả các ngành trong quá trình sản xuất, thương mại và đầu tư … cũng như
liên quan đến đời sống nhân dân và giữ vững an ninh quốc phòng. Dịch vụ viễn thông
công ích (DVVTCI) là những dịch vụ viễn thông thiết yếu đối với xã hội, được Nhà nước
đảm bảo cung cấp theo chất lượng và giá cước do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước
quy định.
Thực hiện tiết 2 điều 5 chương I Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông số 43/2002/PL-
UBTVQH10 ban hành kèm theo lệnh của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
phát triển nhanh, bước đầu đáp ứng và phục vụ có hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội,
nhu cầu của người dân tại những vùng khó khăn, bước đầu góp phần thực hiện thắng lợi
Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về ―Nông nghiệp, nông dân, nông thôn‖.
Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu cơ bản và to lớn mà ngành viễn thông đạt được, còn
có một số vấn đề đặt ra: Những hạn chế của quá trình phát triển viễn thông công ích ở
nước ta là gì? Nhà nước cần có những giải pháp nào để mở rộng quy mô phổ cập và nâng
cao hơn nữa vai trò của dịch vụ viễn thông công ích? Cần có điều chỉnh gì về chính sách
phát triển, về tổ chức và quản lý nhà nước về hoạt động của Dịch vụ viễn thông công ích
Việt Nam trong điều kiện hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và điều quan trọng là
trong thời gian bao lâu sẽ đảm bảo được sự phát triển trên cả nước, không còn khoảng
cách chênh lệch về cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông giữa các vùng, miền trong cả
nước; người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn được sử dụng tất cả
các dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin?
Cùng với việc xác định phát triển dịch vụ viễn thông công ích là cần thiết khách
quan nhằm rút ngắn khoảng cách sử dụng dịch vụ giữa các vùng, miền thì công tác quản
lý nhà nước trên lĩnh vực này cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như: Do việc cạnh
tranh về thị trường của các doanh nghiệp trong việc phát triển thuê bao mới dẫn tới việc
quản lý phát triển thuê bao cá nhân và hộ gia đình còn phức tạp dẫn đến tình trạng một cá
nhân hoặc gia đình cùng lúc có nhiều thuê bao đang hoạt động, làm cho công tác đối
chiếu hồ sơ và nghiệm thu sản lượng viễn thông công ích còn gặp nhiều khó khăn, dễ gây
lãng phí ngân sách Nhà nước.
Để thực hiện chức năng hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích được Chính
phủ giao, cần thiết phải ban hành các qui phạm pháp luật làm căn cứ để điều chỉnh các
mối quan hệ, phát sinh trong quá trình hoạt động công tác của các cơ quan, đơn vị và
doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động cung cấp các dịch vụ viễn thông công ích.
Để trả lời và giải quyết được một phần các vấn đề và câu hỏi nêu trên, với nhận
thức kinh nghiệm tích lũy của bản thân, tác giả xin lựa chọn chủ đề ―Quản lý nhà nước về
dịch vụ viễn thông công ích ở Việt Nam” làm đề tài Luận văn thạch sĩ. Hy vọng kết quả
nghiên cứu của luận văn sẽ có tác dụng tích cực tới các lĩnh vực nghiên cứu liên quan và
hữu ích cho công việc của tác giả và các cộng sự trong thời gian tới.
Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công - Nhận thức, thực trạng và giải pháp
vừa tập trung phân tích những vấn đề có tính ly
́
luận, vừa giải quyết những yêu cầu của
thực tiễn đặt ra nên có y
́
nghĩa lớn cả trong khoa học và thực tiễn. [17]
- Sách “Dịch vụ công cộng và khu vực quốc doanh, Diễn đàn kinh tế - tài chính
Việt - Pháp”, NXB Chính trị quốc gia - 2000. Cuốn sách gồm các báo cáo của Elie
Cohen, Claude Henry và bình luận của Francois Morin, Paul Champsaur. Các tác giả đã
trình bày về cơ sở và các bước phát triển về dịch vụ công cộng ở Pháp và liên minh châu
Âu trong đó chỉ rõ sự thay đổi của dịch vụ công cả về phạm vi, cách thức cung cấp từ
những năm sau Chiến tranh thế gới lần thứ hai đến năm 2000. Theo các tác giả phạm vi
các dịch vụ đã có thay đổi không chỉ ở Pháp mà còn ở tất cả các quốc gia trong Liên
minh châu Âu. Nếu trước đó phân phối bánh mỳ được coi là một dịch vụ công cơ bản thì
hiện nay đây là một dịch vụ thương mại thuần túy hay dịch vụ viễn thông chỉ thực sự
được coi là dịch vụ công có ảnh hưởng từ những năm 1980 đặc biệt là từ những năm
1990. Mặc dù nhiều dịch vụ không còn được cung cấp như là dịch vụ công với sự ưu đãi
từ nhà nước nhưng để bảo đảm cho dân chúng có thể được hưởng thụ một cách tốt nhất
các dịch vụ đó nhà nước lại cung cấp các dịch vụ công khác. Các dịch vụ hỗ trợ về nhân
sự, kế toán, kiểm toán (các dịch vụ hành chính) được nhà nước cung cấp cho các tổ chức
tự quản, các doanh nghiệp nhỏ hoặc các doanh nghiệp cần trợ giúp để các tổ chức, doanh
nghiệp này có thể cung cấp những dịch vụ (thương mại) chất lượng tốt cho dân chúng.
Trong cuốn sách này các tác giả cũng bàn đến sự thay đổi vai trò của nhà nước trong dịch
vụ công. Nếu như ở giai đoạn đầu nhà nước phải nắm lấy việc cung cấp dịch vụ bằng các
nguồn lực của nhà nước thì xu thế chung hiện nay là nhà nước mở rộng phạm vi đối
tượng tham gia cung cấp trên nguyên tắc tự do cạnh tranh. Dù chỉ bàn trực tiếp về các
dịch vụ công cộng nhưng những quan điểm của các tác giả vẫn có y
́
nghĩa lớn trong việc
công thì cũng phải cung ứng đầy đủ dịch vụ này nhằm đảm bảo cho cuốc sống được bình
thường và an toàn. Hơn thế nữa, nhà nước luôn là người chịu trách nhiệm bảo đảm trước
xã hội về các dịch vụ công, kể cả các dịch vụ do tư nhân cung ứng. Vì vậy, nhà nước có
vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình xã hội hoá dịch vụ công.‖ [18]
Bởi vậy, nhà nước cần xây dựng một môi trường pháp lý đầy đủ và đồng bộ cho
việc xã hội hoá dịch vụ công. Nếu không có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng,
việc để cho các cơ sở nước ngoài không có đủ điều kiện cần thiết về nhân lực, vật chất,
trang thiết bị cung ứng dịch vụ công không bảo đảm chất lượng hoặc số lượng cho nhân
dân sẽ dẫn đến những tác hại ảnh hưởng đến sự an toàn và cơ hội phát triển của công
dân… Bên cạnh đó, nhà nước cần có các biện pháp hỗ trợ cho quá trình xã hội hoá. Bởi
về nguyên tắc, nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm cung
ứng đầy đủ và có chất lượng các dịch vụ công. Hơn thế nữa, trong số những dịch vụ này,
có những dịch vụ không đem lại lợi nhuận và vì thế không hấp dẫn trong việc thu hút mọi
người tham gia. Do đó, nhà nước cần có các biện pháp hỗ trợ cho các hoạt động dịch vụ
công ích.
Những nghiên cứu trên chủ yếu tiếp cận theo hướng lý luận và thực tiễn các vấn đề
chung về dịch vụ công, dịch vụ công ích, xã hội hóa dịch vụ công như một đối tượng của
chính sách công và tài chính công. Tuy chưa tiếp cận vào lĩnh vực VTCI nhưng những
nghiên cứu trên góp phần vào việc tạo tiền đề lý giải cho những nghiên cứu tiếp theo.
Trên lĩnh vực viễn thông công ích có một số nghiên cứu như:
- “Nghiên cứu phương hướng triển việc khai viêc hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn
thông công ích” - Đề tài nghiên cứu khoa học mã số 76-07-KHKT-RD, Quỹ dịch vụ viễn
thông công ích Việt Nam (2007), Hà Nội.
Nhà nước coi phổ cập dịch vụ điện thoại là trách nhiệm chung, trước hết là của các
nhà cung cấp dịch vụ điện thoại. Trách nhiệm đó được thực hiện bằng cách yêu cầu các
doanh nghiệp phải cung cấp dịch vụ điện thoại ở các vùng khó khăn; hoặc yêu cầu các
doanh nghiệp phải đóng góp vào Quỹ phổ cập dịch vụ và Nhà nước dùng quỹ này để thuê
một doanh nghiệp nào đó làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ phổ cập. Với cách tiếp cận kinh
tế học, dịch vụ viễn thông cần phải được phổ cập vì 2 lý do chính là hiệu ứng mạng lưới
và tính chất của hàng hoá công cộng. Ở Việt Nam, việc phổ cập dịch vụ viễn thông càng
ã hội hóa dịch vụ viễn thông công ích.
Thứ hai, sự tham gia góp vốn, quản lý và vận hành của các thành phần kinh tế
vào phát triển xã hội hoá viễn thông công ích.
Tiếp cận lĩnh vực viễn thông công ích và DVVTCI, các công trình nói trên đề cập
những vấn đề liên quan đến nguồn tài trợ, quản trị tài chính của cơ quan quản lý và các
nội dung tài chính của các dự án phổ cập DVVTCI ở giai đoạn trước khi hình thành/hoặc
mới bước đầu hoạt động của Quỹ DV VTCI Việt Nam. Riêng trong luận án của Bùi Xuân
Chung, tác giả xây dựng và liên kết các mô hình dự báo, mô hình tài chính trong một
chuỗi các công việc liên hoàn để định lượng lợi ích và sự thay đổi lợi ích các bên trong
mối quan hệ động và linh hoạt để tạo lập các cơ sở cứ quan trọng xây dựng chính sách
thực hiện xã hội hóa DVVTCI bền vững.
Với những công trình nghiên cứu nói trên các câu hỏi mà đề tài đặt ra vẫn chưa
được giải quyết, đặc biệt là những đánh giá tổng hợp và toàn diện sau một số năm thực
hiện chính sách phát triển VTCI và DVVTCI trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộng của Việt Nam.
1.3 Mục đích nghiên cứu
Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ viễn
thông công ích nói chung và đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế, đánh giá về thực trạng và đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quản
lý Nhà nước các cấp để phát triển lành mạnh, đúng hướng dịch vụ viễn thông công ích.
Nhiệm vụ khoa học:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của phát triển dịch vụ
viễn thông công ích đối với sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như vai trò quản lý của nhà
nước trong trong sự phát triển của viễn thông công ích; nghiên cứu một số kinh nghiệm
quốc tế trong quản lý nhà nước về viễn thông công ích.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ viễn thông công ích ở
nước ta trong giai đoạn vừa qua, từ đó rút ra những kết quả đạt được, những tồn tại và
nguyên nhân.
- Đề xuất định hướng, các chính sách và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà
nước về viễn thông công ích trong giai đoạn phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế đáp
tế - xã hội của một quốc gia đang phát triển như Việt Nam; làm rõ tính tất yếu và sự lựa
chọn của Việt Nam về phương thức phổ cập DVVTCI, chính sách phát triển và vai trò
quản lý của nhà nước đối với VTCI trong điều kiện Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
sâu rộng, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý DVVTCI của mội số nước và rút ra bài học bổ
ích đối với Việt Nam.
ii) Luận văn xem xét các chính sách quản lý DVVTCI đang áp dụng trong quan hệ
với sự phát triển của thị trường viễn thông ở Việt Nam, từ đó đánh giá về thực trạng quản
lý nhà nước về dịch vụ viễn thông công ích ở Việt Nam những năm qua; làm rõ yêu cầu
đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính hỗ trợ để
phổ cập DVVTCI. .
iii) Đề xuất định hướng, quan điểm phát triển, mục tiêu, các chính sách cần thiết
và giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển VTCI và phổ cập DVVTCI nhằm đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập sâu vào nền kinh tế
thế giới. Luận văn cũng đề xuất những kiến nghị đối với Nhà nước và các cơ quan hữu
trách.
1.7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về dịch vụ viễn thông công
ích
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ viễn thông công ích
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về dịch
vụ viễn thông công ích ở nước ta.
References.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Bưu chính - Viễn thông (2007), Chỉ thị số 07/CT-BCVT nga
̀
y 7/7/2007 về Định
hướng chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011 -
2020 (gọi tắt là "Chiến lược cất cánh"), Hà Nội.
XI, Hà Nội.
15. Elie Cohen, Claude Henry (2000), Dịch vụ công cộng và khu vực quốc doanh, Diễn
đàn kinh tế - tài chính Việt – Pháp, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.
16. Erwin Alampay và Cheryll Ruth Soriano (2008), Chiến lược phổ cập Interrnet ở
Philipines – Ideacorp và Công ty kỹ thuật Intel Philipines– Trường Đại học
quốc gia Hành chính và Quản lý Nhà nước, Philipines.
17. Nguyễn Ngọc Hiến (2002), Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công –
Nhận thức, thực trạng và giải pháp, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội.
18. Phạm Thị Bích Hoa (2003), Nghiên cứu cơ chế xã hội hoá mốt số lĩnh vực dịch vụ
công tại Tp. HCM, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện hành chính quốc gia, Tp.
HCM
19. Hội Luật gia Hà Nội (1996), Sổ tay thuật ngữ pháp lý chuyên dụng, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
20. Nguyễn Mạnh Hùng (2007), Nghiên cứu phương hướng triển việc khai viêc hỗ trợ
cung cấp dịch vụ viễn thông công ích, Đề tài nghiên cứu khoa học, Quỹ dịch
vụ viễn thông công ích Việt Nam, Hà Nội.
21. Phạm Sỹ Liêm (2008), Xã hội hóa và quan hệ công tư trong phát triển dịch vụ viễn
thông công ích Việt Nam, Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông, kỳ 1
tháng 5, tr. 13-14.
22. Đức Long (2008), Phổ cập Dịch vụ Viễn thông công ích ở Việt Nam và kinh nghiệm
quản lý Dịch vụ viễn thông công ích của một số quốc gia, Nxb Thông tin và
Truyền thông, Hà Nội.
23. Lê Chi Mai (2002), Chuyển giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài nhà nước – Vấn
đề và giải pháp, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội
24. Lê Chi Mai (2003), Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
25. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Doanh nghiệp
Nhà nước, Hà Nội.
26. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Luật Viễn thông, Hà
Nội.