Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt
động kinh doanh ngành in ở Việt Nam Nguyễn Kiên Trường Đại học Kinh tế
Luận văn Thạc sĩ ngành: Quản lý kinh tế; Mã số: 60 34 01
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Anh Tuấn
Năm bảo vệ: 2014 Keywords. Quản lý kinh tế; Quản lý nhà nước; Ngành in; Hoạt động kinh doanh
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động in có vị trí, vai trò quan trọng trong sản xuất ra các sản phẩm có in. Thông qua các
công cụ, thiết bị ngành in để nhân bản với số lượng lớn, tùy ý, nhằm mục đích phổ biến, tuyên
truyền đến nhiều đối tượng làm thay đổi tư duy, nhận thức con người, phục vụ đời sống kinh tế,
chính trị, văn hóa - xã hội của đất nước. Với những công cụ thiết bị ngày càng hiện đại thì việc
nhân bản với số lượng lớn là rất nhanh, đáp ứng ngày một nhiều hơn nhu cầu về in cho xã hội. Tuy
nhiên, nếu hoạt động in không được quản lý tốt thì tác hại của nó là vô cùng lớn đến tình hình an
ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội.
Hiện nay, hoạt động in đang được điều chỉnh bằng hai khung pháp lý không thống nhất, in
xuất bản phẩm được điều chỉnh bởi Luật Xuất bản năm 2004 (Luật xuất bản sửa đổi 2012) và in
các sản phẩm không phải xuất bản phẩm được điều chỉnh bằng Nghị định số 105/2007/NĐ-CP
ngày 21/6/2007 của Chính phủ. Sau khi Luật Xuất bản năm 2004 - 2012, Nghị định số
105/2007/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2007 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như các
văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động in ra đời đã tác động đến toàn bộ các
hoạt động trong lĩnh vực in. Việc xã hội hóa hoạt động in đã làm thay đổi căn bản từ những tư
ảnh hưởng đến việc thống kê nội lực toàn ngành dẫn đến việc hoạch định chính sách, xây dựng
quy hoạch, đầu tư phát triển kém hiệu quả. Nhiều cơ sở in nhập khẩu thiết bị quá cũ, không đảm
bảo chất lượng sản phẩm in và làm ảnh hưởng đến môi trường. Một số hoạt động in bị buông
lỏng quản lý do thiếu cơ chế hành chính, dẫn đến khó kiểm soát, vi phạm pháp luật gia tăng.
Tình trạng các cơ sở in không thuộc diện cấp phép hoạt động in, khi thành lập và hoạt động, cơ
quan quản lý nhà nước về hoạt động in không biết, kể cả địa chỉ nơi sản xuất cũng không nắm
được. Các quy định về hồ sơ và thủ tục cấp phép thành lập cơ sở in quá đơn giản, dễ dãi dẫn đến
nhiều cá nhân thành lập cơ sở in ảo. Chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật về thiết bị in nên việc nhập
khẩu thiết bị cũ là không thể kiểm soát, vì vậy không tránh khỏi thiết bị quá cũ (rác của nước
ngoài) được nhập khẩu vào Việt Nam làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và nền công
nghiệp nước nhà.
Bên cạnh đó, Nghị định số 105 lại không bao quát hết các hoạt động in các sản phẩm không
phải xuất bản phẩm, nên công tác quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương đều rất khó
khăn, nạn in lậu, in trái phép ngày một gia tăng. Một mặt là do thiếu công cụ, thiếu chế tài, mặt
khác nguồn lực quản lý cũng chưa đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, việc lựa chọn đề
tài nghiên cứu “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in ở
Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Ngành in là một lĩnh vực kinh doanh tương đối đặc thù ở Việt Nam, do đó các nghiên cứu
trong lĩnh vực in ấn nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực này là không nhiều,
chủ yếu là các bài báo trên tạp chí hoặc báo chí. Nội dung các công trình này chủ yếu đề cập đến
các tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực in, bất cập trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Trong khi
đó, các công trình nghiên cứu Khoa học thì thường tập trung vào lĩnh vực xuất bản phẩm, một
sản phẩm của quá trình in ấn, có thể liệt kê một số công trình sau:
Đề tài nghiên cứu “Xã hội hóa trong hoạt động xuất bản ở nước ta hiện nay” của PGS.TS.
Trần Văn Hải làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2013. Đề tài đã trình bày một cách hệ thống cơ sở
lý luận của thực hiện xã hội hóa trong hoạt động xuất bản như khái niệm, nội dung cơ bản, đặc
trưng và những hình thức của xã hội hóa hoạt động xuất bản. Trên cơ sở đó, đề tài đã khảo sát,
đánh giá thực trạng xã hội hóa trong hoạt động xuất bản ở nước ta từ năm 1997 đến nay ở các
mặt chủ yếu: thu hút các nguồn lực xã hội vào quá trình xuất bản phẩm; xã hội hóa trong hoạt
nào?
- Để nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in thì cần các giải
pháp nào?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về năng lực quản lý nhà nước
đối với hoạt động ngành in ở Việt Nam.
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn 2008-2013 và đề
xuất giải pháp từ nay cho đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài, luận văn sử dụng phương pháp
tổng hợp, phân tích, thống kê có chọn lọc kết hợp với phương pháp so sánh kết quả trên cơ sở
vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trong quá trình phân tích các vấn
đề lý luận và thực tiễn cũng như đánh giá tính khả thi của các giải pháp, luận văn còn sử dụng
các bảng biểu, sơ đồ minh họa để làm tăng tính trực quan và sức thuyết phục của đề tài.
Các số liệu được sử dụng trong luận văn được lấy từ các báo cáo của Hiệp hội ngành in,
Cục xuất bản giai đoạn 2007 đến nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục các từ viết tắt, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lực quản lý nhà nước về hoạt động
kinh doanh ngành in.
Chương 2. Thực trạng năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt
Nam giai đoạn 2008-2013.
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh
ngành in trong giai đoạn tới. References
1. Ban thông tin Khoa học Công nghệ Hiệp hội In Việt Nam (2008), Những bất cập trong
- Tổng cục thống kê: www.gso.gov.vn