BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
NGYUỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
ĐẨY MẠNH PHỔ CẬP DỊCH VỤ
VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ:260.34.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH DOANH VÀ QUẢ LÝ
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Thị Minh An
HÀ NỘI _ 2010
thực trạng phổ cập dịch vụ viễn thông công ích ở Việt Nam. Trên cơ sở
kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh
phổ cập dịch vụ viễn thông công ích ở Việt Nam đến năm 2015.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là lý luận và thực tiễn phổ cập dịch vụ viễn
thông công ích ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu là các chủ trương, chính sách, văn bản hướng
dẫn của Nhà nước và hoạt động phổ cập dịch vụ viễn thông công ích
giai đoạn 2005 - 2009.
4. Phương pháp nghiên cứu: phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp tổng hợp - phân tích số
liệu, phương pháp thực nghiệm như tổng kết kinh nghiệm trong hoạt
động thực tế của ngành.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ CẬP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG
CÔNG ÍCH
1.1. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH
1.1.1. Khái niệm sản phẩm dịch vụ công ích, dịch vụ viễn thông
công ích
1.1.1.1. Sản phẩm dịch vụ công ích: Là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu
đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của
một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh; Việc sản
xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thị trường khó có
khả năng bù đắp chi phí; Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt
hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định.
phạm vi liên lạc, trong khoảng thời gian cụ thể đối với các trường hợp
khẩn cấp sau: Khẩn cấp về quốc phòng, an ninh; Khẩn cấp phục vụ
chống lụt, bão, hỏa hoạn, thiên tai, thảm họa khác;Khẩn cấp phục vụ
phòng chống dịch bệnh; Khẩn cấp phục vụ tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ;
Hoạt động điều hành, ứng cứu khẩn cấp sự cố nhằm đảm bảo an toàn
của mạng lưới viễn thông và Internet; Các liên lạc khẩn cấp khác theo
quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
1.1.4. Vai trò của dịch vụ viễn thông công ích
Đảm bảo công bằng xã hội; Góp phần thu hẹp khoảng cách giữa
thành thị và nông thôn; Góp phần phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo
an ninh quốc phòng; Thúc đẩy và tạo điều kiện để thị trường viễn
thông phát triển.
1.2. PHỔ CẬP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH
1.2.1. Dịch vụ phổ cập và sự cần thiết phổ cập dịch vụ viễn thông
công ích
Tại Việt Nam, Luật Viễn thông quy định: Dịch vụ viễn thông phổ cập
là dịch vụ viễn thông được cung cấp đến mọi người dân theo danh mục,
điều kiện, chất lượng và giá cước do Nhà nước quy định. Theo quyết
định số 43/2006/QĐ-BBCVT quy định dịch vụ viễn thông phổ cập bao
gồm dịch vụ điện thoại tiêu chuẩn và dịch vụ truy nhập Internet tiêu
chuẩn.
Ngày nay, viễn thông được coi là dịch vụ thiết yếu của con người. Việc
phổ cập dịch vụ viễn thông đảm bảo việc truy nhập của mọi đối tượng
xã hội trong thế kỷ 21; tạo điều kiện phát triển hài hoà giữa chính trị,
kinh tế và văn hoá; thúc đẩy phát triển kinh tế; thúc đẩy phân bố dân cư
hợp lý hơn; xóa bỏ khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
1.2.2. Mục tiêu của dịch vụ viễn thông phổ cập
- Giai đoạn hình thành mạng lưới: Mục tiêu hướng vào giải pháp kỹ
thuật đối với dịch vụ điện thoại đường dài kết nối với các thành phố
trung tâm chính.
c. Quỹ dịch vụ phổ cập: là một loại quỹ đặc biệt của Chính phủ được
dùng để triển khai và xây dựng dịch vụ viễn thông phổ cập. Để đảm
bảo sự công bằng và minh bạch trong việc phổ cập dịch vụ, hiện nay
các nước thường sử dụng hình thức quỹ để phổ cập dịch vụ.
1.2.5. Vai trò của Nhà nước và trách nhiệm của doanh nghiệp
1.2.5.1. Vai trò của Nhà nước: Nhà nước giữ vai trò quyết định trong
việc thúc đẩy các giai đoạn dịch vụ phổ cập. Nhà nước có trách nhiệm
xây dựng môi trường hành lang pháp lý đầy đủ cũng như đưa ra được
các chủ trương, chính sách về phổ cập dịch vụ một cách rõ ràng, minh
bạch, hợp lý để lôi kéo các doanh nghiệp vào thực hiện nghĩa vụ phổ
cập dịch vụ.
1.2.5.2. Trách nhiệm của doanh nghiệp: Hoặc trực tiếp cung cấp dịch
vụ phổ cập cho người dân, hoặc tham gia đóng góp kinh phí vào quỹ
dịch vụ phổ cập.
1.2.6. Các nhân tố ảnh hưởng tới phổ cập dịch vụ viễn thông công
ích
Môi trường thể chế; Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; Môi trường
cạnh tranh; Sự phát triển mạng viễn thông.
1.3. KINH NGHIỆM PHỔ CẬP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG
ÍCH
1.3.1. Phổ cập dịch vụ ở một số nước
Phổ cập dịch vụ ở Trung Quốc; Phổ cập dịch vụ ở Ma-lai-xi-a; Phổ cập
dịch vụ ở Thái Lan; Phổ cập dịch vụ ở Úc; Phổ cập dịch vụ ở Mỹ
1.3.2. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Đảm bảo thực thi chính sách dịch vụ viễn thông công ích thống nhất
trên cả nước được thực hiện thành các chương trình cụ thể.
- Mục tiêu trước hết là hỗ trợ dịch vụ cho cộng đồng; tạo điều kiện để
người dân có cơ hội được sử dụng dịch vụ viễn thông thiết yếu.
- Hoạt động của Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích Việt Nam không chỉ
là bù đắp chi phí duy trì mạng lưới viễn thông ở vùng kinh doanh
Vốn hoạt động của Quỹ được hình thành từ các nguồn: Vốn điều lệ;
Các khoản đóng góp của các doanh nghiệp viễn thông; Các khoản vốn
khác.
Hoạt động của Quỹ bao gồm: Hỗ trợ các đối tượng được cung cấp dịch
vụ viễn thông công ích thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
viễn thông công; Các hoạt động khác.
Bộ máy quản lý và điều hành của Quỹ gồm: Hội đồng Quản lý, Ban
Kiểm soát và cơ quan điều hành Quỹ.
2.2.TÌNH HÌNH PHỔ CẬP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH
Ở VIỆT NAM
2.2.1. Tổng quan về viễn thông Việt Nam
Sau hơn 20 năm thực hiện tăng tốc, hội nhập và phát triển; cơ sở hạ
tầng mạng viễn thông và Internet Việt Nam đã được hiện đại hoá, bao
phủ rộng khắp đất nước. Các dịch vụ viễn thông cơ bản, Internet ngày
càng phát triển sôi động.
Đối với khu vực đồng bằng và trung du hiện nay, nhìn chung bước đầu
đã tiệm cận với khu vực thành phố về tốc độ phát triển hạ tầng, loại
hình và chất lượng dịch vụ.
Đối với các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo do điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, việc xây dựng và duy trì cơ
sở hạ tầng viễn thông rất tốn kém nhưng thu hồi vốn chậm, lợi nhuận
thấp nên các doanh nghiệp viễn thông không chú trọng đầu tư vào khu
vực đặc biệt khó khăn này. Theo số liệu cuối năm 2005, có 30/670
huyện (4,5%) có mật độ điện thoại cố định dưới 1 máy/100 dân;
82/670 huyện (12,2%) có mật độ điện thoại khoảng từ 1 đến 2 máy/100
dân; gần 200 huyện (30%) có mật độ điện thoại dưới 2,6 máy/100 dân.
Mật độ thuê bao Internet tại các vùng được cung cấp dịch vụ viễn
thông công ích là 0,018 máy/100 dân. Nhà nước đã thực hiện chính
sách hỗ trợ việc cung ứng và sử dụng dịch vụ cho các doanh nghiệp
viễn thông và người dân thông qua Chương trình cung cấp dịch vụ viễn
dịch vụ viễn thông công cộng do Quỹ tài trợ và các chủ thuê bao là cá
nhân, hộ gia đình sinh sống tại các khu vực được cung cấp dịch vụ viễn
thông công ích và các đối tượng đặc biệt khác theo quy định của Bộ
Thông tin và Truyền thông.
2.2.2.4. Kinh phí thực hiện ước tính khoảng 5.200 tỷ đồng.
2.2.3. Tình hình hoạt động phổ cập dịch vụ viễn thông công ích
2.2.3.1. Phổ cập dịch vụ thuộc vùng cung cấp dịch vụ viễn thông
công ích
Trước năm 1995, Tổng công ty Bưu chính và Viễn thông Việt Nam
(nay là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - VNPT) là đơn vị
duy nhất cung ứng dịch vụ viễn thông ở nước ta, được Nhà nước giao
nhiệm thực hiện trách nhiệm cung cấp dịch vụ viễn thông công ích.
Giai đoạn 1995 đến 2005, mặc dù có một số doanh nghiệp được cung
cấp dịch vụ, tuy nhiên, trong giai đoạn này các doanh nghiệp cũng chỉ
mới đầu tư được hạ tầng mạng. Nhà nước vẫn giao trách nhiệm phổ
cập dịch vụ cho VNPT thực hiện.
Trong hai năm 2005 và 2006, một số doanh nghiệp đã tiến hành cung
ứng dịch vụ viễn thông công ích, đầu tiên là Viettel tiếp theo là EVN
Telecom, nhưng trên thực tế VNPT vẫn là doanh nghiệp tiếp tục triển
khai cung ứng dịch vụ viễn thông phổ cập ở vùng sâu, vùng xa là chủ
yếu. Đến năm 2006, ở nước ta vẫn có khoảng cách lớn về mức độ phổ
cập dịch vụ viễn thông giữa khu vực thành thị và nông thôn, nhất là
khu vực miền núi, xa xôi, hẻo lánh.
Năm 2007, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thực hiện hình thức giao
kế hoạch cung ứng dịch vụ viễn thông công ích cho ba đơn vị là:
VNPT, Viettel và EVN Telecom. VNPT vẫn là đơn vị dẫn đầu, tiếp
theo là EVN Telecom nhưng mới cung cấp duy nhất dịch vụ thuê bao
điện thoại cố định, Viettel tuy sản lượng dịch vụ thuê bao điện thoại cố
định thấp nhưng đã cung cấp dịch vụ Internet tại vùng được cung cấp
dịch vụ viễ
1.158.174
1.235.277
2
Phát triển thuê bao
Internet
Thuê
bao
8.690
40.770
52.190
3
Duy trì thuê bao
điện thoại cố định
Thuê
bao
402.528
580.387
941.598
nhập điện thoại cố
định
6
Duy trì điểm truy
nhập Internet công
cộng
Điểm 405
538
582
474
617
7 Duy trì VSAT Trạm 32
133
172
187
264
8 Duy trì đài HP Trạm
-
2
Thuê bao Internet ADSL cá nhân,
hộ gia đình
124.051
3.762
-
-
3
Điểm truy nhập điện thoại công
cộng
4.506
102
-
-
4 Điểm truy nhập Internet công cộng 615
2
-
thực tế tỷ lệ đóng góp của các dịch vụ viễn thông phụ thuộc vào sự
tăng giảm của mức cước, nhiều dịch vụ của các doanh nghiệp viễn
thông tăng đột biến dẫn tới sự thay đổi lớn về doanh thu. Chưa có quy
định về tỷ lệ đóng góp đối với dịch vụ truy nhập Internet.
(2) Hỗ trợ kinh phí cung ứng dịch vụ viễn thông công ích
Năm 2009, Quỹ hỗ trợ 1.871.479,49 triệu đồng, trong đó hỗ trợ cho
doanh nghiệp là 926.789,79 triệu đồng, hỗ trợ cho người dân thông qua
doanh nghiệp là 944.689,70 triệu dồng. Các doanh nghiệp viễn thông
thống nhất đảm bảo thực hiện kế hoạch được giao trong năm trên cơ sở
hạ tầng hiện có của mỗi doanh nghiệp. Các quyết định được ban hành
quá chậm khiến các doanh nghiệp viễn thông bị động trong việc xây
dựng kế hoạch cung cấp dịch vụ viễn thông công ích và Quỹ gặp nhiều
khó khăn khi xây dựng kế hoạch hỗ trợ tài chính.
(3) Về cho vay ưu đãi: Bộ Thông tin và Truyền thông đã duyệt kế
hoạch cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp viễn thông để phát triển
hạ tầng viễn thông ở vùng sâu, vùng xa là 272 tỷ đồng.
2.3. ĐÁNH GIÁ VỀ PHỔ CẬP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG
ÍCH Ở VIỆT NAM
2.3.1. Kết quả đạt được
- Đến nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đã công bố, triển khai thực
hiện Chương trình 74 tại 203 huyện, 860 xã và 41 đảo thuộc vùng được
cung cấp dịch vụ viễn thông công ích với tổng số xã được hưởng chính
sách viễn thông công ích là 4.241 xã, dân số trên 22 triệu người (chiếm
26,3% dân số cả nước), diện tích tự nhiên khoảng 22,19 triệu ha
(chiếm 67% lãnh thổ).
- Đến cuối năm 2009, tổng số thuê bao điện thoại cố định cá nhân, hộ
gia đình thuộc vùng được cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đạt
3.400.810 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet cá nhân, hộ gia đình
thuộc vùng được cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đạt 127.813
thuê bao.
nhất. Công tác phát triển dịch vụ Internet, mạng cung cấp dịch vụ
ADSL được quan tâm mở rộng, có mạng lưới điểm phục vụ công cộng
đến hầu hết các xã. Tuy nhiên các điểm truy nhập chưa được quan tâm
phát triển mới.
EVNTelecom: Là đơn vị ra đời muộn nhưng rất tích cực phát triển và
duy trì một số lượng lớn thuê bao điện thoại cố định trong vùng viễn
thông công ích.
Viettel: Là đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông công ích muộn
nhưng tốc độ phát triển thuê bao điện thoại cố định trong vùng viễn
thông công ích mạnh nhất. Phát triển dịch vụ Internet ADSL đạt kết
quả thấp.
Vishipel: Là đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông công ích cho
ngư dân trên biển.
Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện phổ cập dịch
vụ viễn thông công ích có tác động to lớn đối với Nhà nước, đối với
các doanh nghiệp viễn thông cũng như đối với người dân
a. Đối với Nhà nước: là một trong những giải pháp thiết thực, hiệu quả
góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng sâu, vùng xa, từng
bước rút ngắn khoảng cách về phát triển giữa các vùng miền; góp phần
bảo đảm an ninh, quốc phòng. Tạo ra sự chủ động của Nhà nước trong
việc đảm bảo dịch vụ viễn thông thiết yếu cho nhân dân trong quá trình
mở cửa hội nhập với quốc tế về viễn thông và phân định rõ hoạt động
kinh doanh và hoạt động công ích trong viễn thông.
b. Đối với doanh nghiệp: tạo động lực mạnh mẽ cho mở rộng cơ sở hạ
tầng, mạng lưới cung ứng dịch vụ viễn thông, mở rộng thị trường cung
cấp dịch vụ tại các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội
khó khăn. Giải quyết được những vấn đề vướng mắc trong việc thực
hiện nghĩa vụ phổ cập dịch vụ thông qua cước kết nối giữa các doanh
nghiệp viễn thông.
c. Đối với người dân: tạo cơ hội cho những người nghèo, người có thu
thông công ích của Nhà nước, công tác kiểm soát sản lượng và tính
hiệu quả trở nên phức tạp.
Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đang thực hiện đặt hàng cung
ứng dịch vụ viễn thông công ích cho các doanh nghiệp, như vậy chưa
thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong việc cung cấp dịch
vụ viễn thông công ích.
Ở các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo điều kiện địa lý phức tạp,
khí hậu khắc nghiệt, giao thông khó khăn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiếu,
không đồng bộ, kinh tế, xã hội kém phát triển, dân cư sống không tập
trung, mức thu nhập và trình độ dân trí thấp nên ảnh hưởng lớn đến
việc phổ cập dịch vụ viễn thông công ích. Tại các vùng công ích do
khả năng, nhu cầu sử dụng của người dân chưa cao nên hiệu quả khai
thác điểm truy nhập viễn thông công cộng chưa cao, nhất là dịch vụ
Internet. Việc phát triển Internet tại vùng công ích không chỉ ở đầu tư
ban đầu của người dân cao do phải mua máy tính và các thiết bị mạng,
mà còn bởi trình độ người dân chưa cao, chưa có khả năng khai thác
các ứng dụng Internet. Nội dung thông tin về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn còn nghèo nàn, chưa thiết thực, phù hợp với trình độ dân trí,
phong tục tập quán của từng vùng, miền.
Một số cơ quan đơn vị chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa và tầm quan
trọng của việc phổ cập dịch vụ viễn thông công ích. Công tác tuyên
truyền phổ biến chính sách viễn thông công ích của Nhà nước đến với
cá nhân, hộ gia đình sử dụng dịch vụ viễn thông chưa được tốt. Hiện
nay chưa có nguồn kinh phí để thực hiện công tác này.
Một bộ phận người dân còn nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa của chương
trình, còn lợi dụng sử dụng nhiều mạng (thoại); hay đổi mạng dẫn đến
lãng phí tài nguyên số (kho số) của quốc gia.
Về phía doanh nghiệp
Các doanh nghiệp viễn thông lần đầu tiên thực hiện cung ứng dịch vụ
theo cơ chế Nhà nước đặt hàng nên bước đầu có nhiều lúng túng về tổ
Thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích
Việt Nam; Chương trình cung cấp dịch vụ Viễn thông công ích đến
năm 2010; Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến
năm 2010; Đề án Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công
nghệ thông tin và truyền thông.
3.1.2. Định hướng phát triển của viễn thông công ích
a. Một số mục tiêu gồm: Mục tiêu về hạ tầng viễn thông băng rộng;
Mục tiêu về phổ cập thông tin.
b. Một số nhiệm vụ: Tiếp tục phát triển và hoàn thiện hạ tầng viễn
thông băng rộng. Phát triển các điểm truy nhập công cộng tại các địa
điểm thích hợp với từng địa phương. Xây dựng và triển khai các giải
pháp hỗ trợ phù hợp để phổ cập thông tin đến các hộ gia đình.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH PHỔ
CẬP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH
3.2.1. Nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước
3.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế
chính sách có liên quan đến phát triển dịch vụ viễn thông công ích
(1) Sớm xây dựng và trình Chính phủ phê duyệt Chương trình cung
cấp dịch vụ viễn thông công ích cho giai đoạn tiếp theo
Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đảm bảo các chính
sách của Nhà nước về cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đã được
quy định trong Luật Viễn thông và các văn bản liên quan; đảm bảo
phát triển bền vững về kết quả phổ cập dịch vụ viễn thông công ích
giai đoạn vừa qua. Ưu tiên cho thúc đẩy phát triển hạ tầng viễn thông.
Chuyển hướng từ ưu tiên hỗ trợ duy trì cung ứng dịch vụ sang ưu tiên
hỗ trợ phát triển hạ tầng các vùng sâu, vùng xa, khu vực biển đảo và hỗ
trợ người dân.
(2) Xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn trong công tác cung ứng
dịch vụ viễn thông công ích bao gồm Tiêu chuẩn các dịch vụ viễn
thông công ích; Tiêu chuẩn quy mô điểm truy nhập viễn thông công
chương trình cụ thể nhằm hỗ trợ nghiên cứu khoa học công nghệ đối
với phát triển viễn thông nông thôn như là xây dựng các định hướng
chiến lược, cơ chế chính sách; nghiên cứu triển khai các công nghệ chi
phí thấp, hiệu quả; các nội dung thông tin… phù hợp với từng vùng
miền, nhu cầu tập quán văn hóa của các dân tộc ít người, với người dân
nông thôn.
3.2.1.2. Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức từ cơ
quan quản lý nhà nước tới người dân
- Tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn nghiệp vụ, phổ biến chính sách
ưu tiên hỗ trợ phát triển, xác định tầm quan trọng và lợi ích, trách
nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, lãnh đạo địa phương và các
doanh nghiệp viễn thông trong việc phát triển hạ tầng mạng và cung
ứng dịch vụ viễn thông công ích.
- Phổ biến chính sách hỗ trợ cung ứng và sử dụng dịch vụ viễn thông
công ích để người dân biết nội dung, định mức, phạm vi hỗ trợ của
Nhà nước và không lẫn lộn với chương trình khuyến mại của các
doanh nghiệp viễn thông.
- Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông công ích phải quán
triệt cho nhân viên khi thực hiện cung cấp dịch vụ tại vùng nông thôn,
vùng sâu, vùng xa, ngoài nhiệm vụ lắp đặt thiết bị, bán sản phẩm phải
thực hiện thêm các nhiệm vụ tuyên truyền về lợi ích, hiệu quả của việc
sử dụng các dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin cho cuộc sống,
phổ biến, giải thích chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho nhân dân vùng
công ích khi sử dụng các dịch vụ viễn thông, tận tình hướng dẫn, giải
thích cho người dân cách thức sử dụng thiết bị và dịch vụ.
3.2.1.3. Tăng nguồn lực tài chính cho phổ cập dịch vụ viễn thông
công ích
- Đề xuất tăng vốn điều lệ của Quỹ lên 1.000 tỷ đồng để nâng cao khả
năng hỗ trợ hoạt động cung ứng dịch vụ viễn thông công ích và cả hoạt
động cho vay ưu đãi; trong đó nguồn vốn hiện có là 500 tỷ đồng,
thôn.
- Tăng cường hơn nữa các dịch vụ ứng dụng trên mạng viễn thông và
Internet, tập trung vào các thông tin, nội dung thiết thực cho cuộc sống
hàng ngày của người dân.
3.2.2. Nhóm giải pháp đối với Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích
Việt Nam
3.2.2.1. Tích cực phối hợp với các Vụ chức năng của Bộ Thông tin
và Truyền thông, Bộ Tài chính để đề xuất, xây dựng hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý và cung cấp dịch
vụ viễn thông công ích
Xác định rõ cơ chế chính sách là một trong những nội dung trọng yếu,
là một nguồn lực, với đặc thù là đơn vị thực thi chính sách của Đảng,
Nhà nước, trong bối cảnh thị trường năng động, công nghệ thông tin
liên tục thay đổi, Quỹ phải tích cực phối hợp với các Vụ chức năng của
Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính để đề xuất, xây dựng hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý và cung
cấp dịch vụ viễn thông công ích phù hợp với thực tiễn, tạo hành lang
pháp lý cho Quỹ hoạt động.
3.2.2.2. Phối hợp chặt chẽ với Sở Thông tin và Truyền thông, doanh
nghiệp viễn thông trong việc thực thi và quản lý dịch vụ viễn thông
công ích
Quỹ phải phối hợp chặt chẽ với Sở Thông tin và Truyền thông, doanh
nghiệp viễn thông trong việc thực thi và quản lý dịch vụ viễn thông
công ích. Như là công tác xác nhận và đôn đốc thu nộp vào Quỹ; thẩm
định, xác nhận khối lượng sản phẩm, tạm ứng, thanh quyết toán kinh
phí hỗ trợ cung ứng dịch vụ viễn thông công ích …
Quỹ cần có một công cụ như phần mềm nghiệp vụ chuyên dụng được
áp dụng tại tất cả các địa phương có vùng được cung cấp dịch vụ viễn
thông công ích.
Quỹ cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền chương trình cung cấp
ích
- Xây dựng kế hoạch thúc đẩy, khuyến khích phát triển phổ cập dịch vụ
điện thoại cố định và truy nhập Internet băng rộng; đảm bảo kế thừa,
phát huy kết quả phổ cập dịch vụ viễn thông đã có, ưu tiên đầu tư cơ sở
hạ tầng.
- Đề xuất, xây dựng các dịch vụ ứng dụng trên mạng viễn thông,
Internet đồng thời đề xuất các phương án kinh doanh, các gói dịch vụ,
khuyến mại hướng đến vùng nông thôn.
- Cải tạo và nâng cao vai trò của các điểm truy cập dịch vụ viễn thông
công cộng.
- Xây dựng kế hoạch cụ thể phát triển công nghiệp nội dung số phục vụ
nông nghiệp, nông dân tại vùng nông thôn.
- Chú trọng công tác tuyên truyền giúp người dân được cung cấp dịch
vụ viễn thông công ích nhận thức rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của
mình trong việc thực hiện chính sách.
- Các doanh nghiệp viễn thông xây dựng kế hoạch đóng góp tài chính
cho Quỹ Dịch vụ Viễn thông ích Việt Nam.
- Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các
điểm truy nhập dịch vụ viễn thông công cộng để có các biện pháp ngăn
chặn, xử lý kịp thời các sai phạm xảy ra, nhằm nâng cao uy tín, hình
ảnh của ngành.
3.2.3.3. Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ ở vùng viễn thông
công ích
- Các doanh nghiệp có kế hoạch đào tạo mới, tái đào tạo cho toàn bộ
nhân viên phụ trách hệ thống điểm truy nhập dịch vụ viễn thông công
cộng.
- Xây dựng chính sách đãi ngộ hợp lý; nghiên cứu, điều chỉnh cơ chế,
mức thù lao tối thiểu cho cán bộ làm việc tại vùng sâu, vùng xa, biên
giới và hải đảo.
- Hàng năm tổ chức sơ kết, tiến hành công tác thi đua khen thưởng để
để đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ viễn thông công ích, tìm ra
nguyên nhân tồn tại, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm khắc
phục, đẩy mạnh phổ cập dịch vụ viễn thông công ích. Luận văn giải
quyết được một số vấn đề cơ bản sau :
1. Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về dịch vụ viễn thông công ích
và phổ cập dịch vụ viễn thông công ích.
2. Đánh giá được thực trạng phổ cập dịch vụ viễn thông công ích trong
những năm qua. Cụ thể là giới thiệu tổng quan về Quỹ Dịch vụ Viễn
thông công ích Việt Nam và Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông
công ích đến năm 2010. Luận văn đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát,
phân tích và đưa ra nhận xét, đánh giá những thành công, những tồn tại
và nguyên nhân về tình hình phổ cập dịch vụ tại vùng công ích, cung
ứng dịch vụ viễn thông công ích của các doanh nghiệp viễn thông, thu
và sử dụng Quỹ, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp.
3. Trên cơ sở nghiên cứu định hướng phát triển của viễn thông và viễn
thông công ích, luận văn xin đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy
mạnh phổ cập dịch vụ viễn thông công ích, đó là nhóm giải pháp đối
với cơ quan quản lý nhà nước; nhóm giải pháp đối với Quỹ Dịch vụ
Viễn thông công ích Việt Nam và nhóm giải pháp đối với doanh
nghiệp viễn thông.
Phổ cập dịch vụ viễn thông công ích là một vấn đề mới và phức tạp đối
với Việt Nam. Trong khuôn khổ giới hạn của luận văn cao học, cùng
với khả năng kiến thức và khả năng tiếp cận các số liệu còn hạn chế,
luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả rất mong
nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học các
thầy cô giáo và đồng nghiệp.