1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TẬP ĐOÀN BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG
ĐINH PHƢỢNG LOAN ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH CỦA
TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.05 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
HÀ NỘI - 2010
ích. Chương 1 của Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về DVVTCI: Khái
nhiệm, nguồn gốc và bản chất của DVVTCI; đồng thời đưa ra quan điểm,
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong phát triển viễn thông,
trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế. Nội dung chương 1 cũng đã
làm rõ cơ sở thực tiễn thiết yếu của DVVT đối với đời sống xã hội, sự cần 3
thiết của chính sách về DVVTCI thực hiện đường lối công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức. Chương 1 cũng đã
tóm tắt được một số kinh nghiệm quốc tế về hoạt động cung cấp DVVTCI
của một số nước phát triển trên thế giới và khu vực, đồng thời rút ra bài
học về hoạt động cung cấp DVVTCI. Kết quả chương 1 đã hệ thống hoá cơ
sở lý luận và thực tiễn về DVVTCI giai đoạn 2006÷2010.
Chƣơng 2: Thực trạng cung cấp dịch vụ viễn thông công ích của
Viettel giai đoạn 2006 ÷ 2010. Chương 2 của Luận văn đã nêu tổng quan
về Viettel và bước phát triển của Viettel trong hoạt động cung cấp
DVVTCI ở Việt Nam; khái quát thực trạng cung cấp DVVTCI của Viettel
giai đoạn 2006÷2010, trong đó phân tích thành tựu kết quả đạt được,
những thuận lợi, khó khăn, tồn tại và nguyên nhân; đồng thời rút ra bài học
trong hoạt động cung cấp DVVTCI đối với Viettel.
Chƣơng 3: Định hƣớng và một số giải pháp phát triển dịch vụ
viễn thông công ích do Viettel cung cấp giai đoạn 2011÷2015. Chương 3
nêu rõ quan điểm phổ cập dịch vụ viễn thông giai đoạn 2011÷2015;
nguyên tắc xây dựng chương trình cung cấp DVVTCI giai đoạn
2011÷2015; mục tiêu, định hướng phát triển giai đoạn 2011÷2015. Các
giải pháp phát triển DVVTCI do Viettel cung cấp bao gồm: Giải pháp về
qui hoạch phát triển mạng lưới; giải pháp về thể chế quản lý; giải pháp huy
động nguồn lực; giải pháp về công nghệ. Một số giải pháp của Nhà nước:
Khuyến khích phát triển dịch vụ và nội dung; hợp tác quốc tế, hội nhập
- Nguồn gốc của hoạt động công ích: Nguồn gốc của hoạt động công
ích bắt đầu từ không tự giác, xuất phát từ cái lợi riêng để tạo ra các vật
dụng và điều kiện nào đó nhưng sản phẩm, dịch vụ đó lại có lợi không chỉ
riêng ai, mọi người theo nhau, cùng nhau làm và cuối cùng, hoạt động tự
giác của xã hội loài người có tiêu chuẩn nhất định.
- Bản chất: Một là, hoạt động công ích do ý muốn chủ quan của Nhà
nước, do Nhà nước quy định và hỗ trợ cho các hoạt động này nhằm thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hai là, hoạt động vì lợi
ích chung của cộng đồng người dân, vì lợi ích lâu dài của quốc gia. Ba là,
hoạt động công ích là phạm trù quản lý Nhà nước về kinh tế, có sự giao thoa
giữa kinh tế vĩ mô và vi mô. Việc quản lý hoạt động công ích là một trong
các nội dung của chính sách điều tiết của Chính phủ đặc biệt là trong điều
kiện hội nhập quốc tế, và đẩy mạnh thực thi các cam kết của WTO.
- Phân loại: Xét về mục tiêu và ý nghĩa xã hội mà hoạt động công ích
bao gồm: Nhóm thứ nhất gồm những hoạt động trực tiếp phục vụ hoạt 5
động của bộ máy nhà nước và đảm bảo quốc phòng, an ninh. Những hoạt
động này do tầm quan trọng của chúng nên Nhà nước độc quyền, chọn và
giao cho doanh nghiệp thực hiện. Nhóm thứ hai bao gồm việc cung cấp
những sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho nhân dân. Những dịch vụ này được
xem như là những dịch vụ phổ cập của Nhà nước.
- Sự cần thiết của DVVTCI: Với cách tiếp cận xã hội học, dịch vụ
viễn thông (DVVT) cần phải được phổ cập bởi vì: trong xã hội, mặc dù
điện thoại đã xuất hiện từ lâu và phát triển rất nhanh, nhưng do mục tiêu lợi
nhuận nên hầu hết điện thoại được phát triển ở các vùng đô thị, các vùng
tập trung dân cư và các vùng kinh tế phát triển, trong khi các vùng không
đem lại lợi nhuận thì bị các nhà kinh doanh bỏ qua. Nhà nước cần sử dụng
công cụ của mình để điều tiết sao cho các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất
khẳng định: Hiện đại hoá bưu chính – viễn thông và hạ tầng công nghệ
thông tin đủ sức đảm bảo nhu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập quốc
tế ngày càng sâu rộng… Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí,
Internet, xuất bản. Bảo đảm quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông
tin của nhân dân, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
1.2.2. Chính sách của Nhà nƣớc
Nhà nước khẳng định chính sách mở cửa thị trường của Việt Nam và
đã có những chính sách nền tảng về cung cấp DVVTCI: Pháp lệnh Bưu
chính, Viễn thông; Chiến lược phát triển viễn thông đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 của Chính phủ; Quy hoạch phát triển viễn thông và
Internet Việt Nam đến năm 2010 theo Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg
ngày 07/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ; “Chiến lược Cất cánh” -
Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam giai
đoạn 2011÷2020; Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công
nghệ thông tin và truyền thông” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010.
1.2.3. Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nƣớc và Bộ Thông tin
– Truyền thông
Nhà nước khẳng định cung cấp DVVTCI là một trong ba chính sách
điều tiết của Chính phủ về viễn thông. Các văn bản quy phạm pháp luật
của Nhà nước về DVVTCI: Luật Doanh nghiệp; Pháp lệnh Bưu chính,
Viễn thông (BCVT); Nghị định 160/NĐ-CP ngày 03/9/2004 của Chính phủ
quy định chi tiết việc thi hành một số điều của Pháp lệnh BCVT về viễn
thông; Quyết định 191/QĐ-TTg ngày 08/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích
Việt Nam (VTF); Luật Viễn thông ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/7/2010
thay thế Pháp lệnh BCVT; Quyết định 74/2006/QĐ-TTg ngày 07/4/2006
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình cung cấp DVVTCI đến
cung cấp DVVTCI
Bao gồm: Quy định phổ cập dịch vụ viễn thông; Quy định dịch vụ viễn
thông bắt buộc; Quy định vùng công ích; Quy định đối tượng được hưởng 8
hỗ trợ công ích; Quy định nguồn vốn hỗ trợ công ích; Quy định phương
thức quản lý hoạt động cung cấp DVVTCI (giao kế hoạch, đặt hàng, đấu
thầu). Những quy định nêu trên là công cụ để các DNVT tiến hành các
hoạt động cung cấp DVVTCI, từ khâu thực hiện kế hoạch Bộ TTTT giao
đến khâu cung cấp DVVTCI cho khách hàng (người dân), hỗ trợ kinh phí
và thanh toán kinh phí, đánh giá tổng kết công tác cung cấp DVVTCI hàng
kỳ.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về hoạt động cung cấp DVVTCI
Hoạt động cung cấp DVVTCI được Chính phủ nhiều nước trên thế
giới quan tâm, Quỹ DVVTCI đã được Chính phủ rất nhiều nước thành lập
với mục tiêu phổ cập dịch vụ, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông
tin như là một chỉ số phát triển quan trọng trong các chỉ số phát triển kinh
tế, xã hội nông thôn. Qua nghiên cứu thực tiễn hoạt động cung cấp
DVVTCI của một số nước phát triển trên thế giới và trong khu vực có thể
rút ra bài học cho hoạt động cung cấp DVVTCI cho Việt Nam như sau:
Thúc đẩy việc phát triển nội dung thông tin tại các điểm truy nhập tạo thói
quen sử và thu hút người dân sử dụng DVVTCI; cân đối giữa công nghệ và
nội dung phổ cập; các dự án cung cấp DVVTCI được nhìn nhận theo hình
thái giá trị và tài chính; lựa chọn địa điểm xây dựng, lắp đặt thiết bị phục
vụ cho hoạt động cung cấp DVVTCI; cơ chế hợp lý để phổ biến và nâng
cao được các hoạt động cũng như mức độ thuận tiện của các điểm truy
nhập viễn thông công cộng.
2.1.2. Bƣớc phát triển của Viettel trong hoạt động cung cấp DVVTCI ở
Việt Nam
Trong thời gian qua (2005÷2010), thực hiện chính sách của Nhà nước
về DVVTCI, nhận thức rõ trách nhiệm và nhiệm vụ của mình trong việc
phổ cập DVVT tới những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,
Viettel tuy là doanh nghiệp mới tham gia thị trường viễn thông, nhưng đã
tích cực triển khai cung cấp DVVTCI. Là doanh nghiệp tham gia cung cấp
DVVTCI muộn nhưng tốc độ phát triển thuê bao điện thoại cố định
(ĐTCĐ) trong vùng viễn thông công ích (VTCI) mạnh nhất.
2.2. Đánh giá thực trạng cung cấp DVVTCI của Viettel giai đoạn
2006÷2010
2.2.1. Phƣơng pháp và tiêu chí đánh giá 10
2.2.1.1. Xét trên hệ thống cung cấp DVVTCI của cả nước: Việc đánh
giá tình hình thực hiện cung cấp DVVTCI được thực hiện theo các tiêu chí
Quyết định số 74 như sau: Mật độ điện thoại tại các vùng được cung cấp
DVVTCI đạt trên 5 máy/100 dân (> 5%); 100% số xã trên toàn quốc có
điểm truy nhập ĐTCC; 70% số xã trên toàn quốc có điểm truy nhập InCC;
mọi người dân được miễn phí khi sử dụng các DVVTBB. Theo báo cáo sơ
bộ số liệu thực hiện Chương trình 74 – VTF, cho đến tháng 6/2010: Mật độ
ĐTCĐ bình quân tại vùng được hỗ trợ cung cấp DVVTCI đã được 16,8%,
trong đó Viettel đạt được mật độ ĐTCĐ là 5,5% (thuê bao ĐTCĐ do
Viettel cung cấp chiếm 32,5% tổng số thuê bao ĐTCĐ vùng viễn thông
công ích). Mật độ thuê bao Internet bình quân tại vùng công ích đạt 0,5%,
trong đó Viettel đạt được mật độ thuê bao Internet là 0,03% (thuê bao
Internet do Viettel cung cấp chiếm 6,6% tổng số thuê bao Internet vùng
công ích). Số xã có điểm truy nhập ĐTCC là 8.048/9.502 xã trên toàn
quốc, đạt 85%; ước đến cuối năm 2010 riêng vùng được cung cấp
cung cấp DVVTBB trên phạm vi toàn quốc và được hưởng kinh phí hỗ trợ
theo sản lượng thực hiện.
2.2.2. Đánh giá việc tổ chức triển khai hoạt động cung cấp DVVTCI
Thứ nhất về việc tổ chức triển khai hoạt động VTCI của Viettel: Tại
Viettel, việc tổ chức quản lý, triển khai hoạt động công ích có sự thay đổi
về đầu mối làm việc tại các Phòng và chuyên viên quản lý qua các thời kỳ,
và các chuyên viên đều là kiêm nhiệm, không chuyên trách. Tại các đơn vị
thành viên (các chi nhánh Viettel tại các tỉnh, thành phố), việc tổ chức đều
là kiêm nhiệm, không chuyên trách. Thứ hai, tình hình triển khai thực hiện
hoạt động cung cấp DVVTCI: Sau các quyết định được Bộ TTTT ban
hành, Viettel đã kịp thời nghiên cứu xây dựng văn bản hướng dẫn và hệ
thống biểu mẫu thống kê sản lượng cung ứng DVVTCI, văn bản hướng
dẫn hạch toán kinh phí hỗ trợ để các chi nhánh thống nhất triển khai thực
hiện hoạt động cung ứng DVVTCI. Các chi nhánh theo quy định sẽ báo
cáo Sở TTTT và Viettel số liệu thực tế đơn vị đã thực hiện và sau khi có
xác nhận của Sở TTTT sẽ gửi về Viettel. Tuy nhiên, việc báo cáo của các
chi nhánh thường chậm do việc thống kê số liệu và xác nhận số liệu mất
nhiều thời gian vì sự thay đổi thường xuyên của các quy định mà Viettel và
Sở TTTT hướng dẫn và yêu cầu bổ sung thông tin; việc giao kế hoạch thực
hiện hoạt động cung cấp DVVTCI của Viettel không đồng nhất chủ thể
giao và thời điểm giao nên việc xác nhận và thẩm định số liệu của Viettel
gặp rất nhiều khó khăn do không đồng nhất chủ thể xác nhận và nghiệm
thu thẩm định số liệu.
2.2.3. Thành tựu đạt đƣợc giai đoạn 2006÷2010 12
Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao về cung cấp DVVTCI giai đoạn
2006÷2010, Viettel đã thực hiện và đạt được những thành tựu nhất định,
góp phần hoàn thành mục tiêu của chương trình cung cấp DVVTCI theo
vùng xa, biên giới, hải đảo, thực hiện đảm bảo thông tin hỗ trợ công tác 13
tuần tra, bảo vệ biên cương Tổ quốc; thế mạnh vượt trội của Viettel là đội
ngũ nhân lực với kỷ cương vững vàng, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, hợp lý, và
đội ngũ cán bộ lãnh đạo quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo cả về
chuyên môn nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong
Viettel.
Tuy nhiên, hoạt động cung cấp DVVTCI của Viettel giai đoạn
2006÷2010 cũng bộc lộ những điểm yếu: Sử dụng công nghệ thoại không
dây với ưu điểm cung cấp nhanh, đầu tư ít, tuy nhiên công nghệ này sẽ
không tích hợp được nhiều DVVT; chưa có kinh nghiệm trong hoạt động
cung cấp DVVTCI, tổ chức triển khai hoạt động này tại Tập đoàn cũng
như tại các ĐVTV của Viettel còn kiêm nhiệm, gặp nhiều khó khăn khi
thực hiện; chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ tại vùng được hỗ trợ
cung cấp DVVTCI chưa tương đương giữa thành thị và nông thôn, vùng
sâu, vùng xa; trong thời gian đầu còn có sự không rõ ràng giữa việc hỗ trợ
của Chương trình cung cấp DVVTCI với các khuyến mại của doanh
nghiệp.
2.2.4.2. Những thuận lợi, khó khăn, hạn chế và tồn tại
Trong việc tổ chức triển khai hoạt động cung cấp DVVTCI, Viettel có
những thuận lợi: Giai đoạn 2006÷2010, nhìn chung Nhà nước đã tạo điều
kiện cho doanh nghiệp về thủ tục nghiệm thu sản lượng, kinh phí hỗ trợ;
các năm 2008, 2009, 2010 Bộ TTTT đã có những chỉnh sửa phù hợp cho
kế hoạch đặt hàng cho các doanh nghiệp, đã quy định chi tiết và cụ thể hơn
cho các chỉ tiêu phát triển và duy trì các DVVTCI, tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho các chi nhánh của Viettel trong quá trình thực hiện hoạt động cung
cấp DVVTCI; các cán bộ đã dần có kinh nghiệm quản lý và triển khai thực
hiện trong hoạt động cung cấp DVVTCI.
nước giữa các doanh nghiệp tại các địa phương chưa có sự thống nhất;
công tác tuyên truyền chính sách của nhà nước đảm bảo DVVTCI chưa
được sự quan tâm đúng mức ở các doanh nghiệp; có hiện tượng cạnh tranh,
chồng chéo trong việc phát triển mới thuê bao viễn thông của CN-HGĐ
ảnh hưởng đến mục tiêu chính sách của nhà nước; việc thực hiện các chỉ
tiêu kế hoạch của các doanh nghiệp chưa đồng đều giữa các địa phương,
nhất là chỉ tiêu phát triển điểm truy nhập VTCC ở khu vực khó khăn.
Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại: Về phía cơ quan Nhà nước: Về
ban hành cơ chế, chính sách; chưa kịp đào tạo, tập huấn quản lý DVVTCI;
công tác kiểm tra, giám sát còn chưa thường xuyên; kinh nghiệm quản lý,
sự chủ động phối hợp của các Sở TTTT với các DNVT chưa đồng đều
trong việc triển khai kế hoạch, xác nhận sản lượng DVVTCI. Về phía
Viettel: Gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu
ban đầu; việc xây dựng kế hoạch chưa tốt; chưa có sự thống nhất về áp
dụng quy trình, thủ tục báo cáo, xác nhận sản lượng DVVTCI tại địa 15
phương, giữa các ĐVTV, chưa có sự phối hợp tốt trong công tác tổ chức,
tổng hợp, thẩm định sản lượng, cấp phát, thanh toán kinh phí giữa Viettel
và VTF; chưa làm tốt công tác tuyên truyền về chính sách cung cấp
DVVTCI của Nhà nước; việc chỉ đạo quá trình thực hiện chưa xuyên suốt,
chưa có tính thống nhất toàn hệ thống; công việc quản lý, triển khai thực
hiện mới chỉ được coi là công việc kiêm nhiệm, không tổ chức chuyên
trách trong khi khối lượng công việc nhiều và chi tiết; quan hệ giữa các chi
nhánh Viettel với Sở TTTT và với Viettel còn rất phức tạp.
2.3. Bài học rút ra trong hoạt động cung cấp DVVTCI đối với Viettel
Bài học rút ra đối với Viettel để phát triển DVVTCI giai đoạn
2011÷2015 cụ thể như sau: Cần thành lập riêng tổ chuyên trách quản lý,
hướng dẫn triển khai thực hiện cung cấp DVVTCI từ Tập đoàn đến các
thực hiện quy luật vượt trước một bước về thông tin. Thứ hai, phổ cập
DVVT và cung cấp DVVTCI tạo điều kiện tiền đề cho hội nhập quốc tế, tự
do hóa viễn thông, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và phát triển kinh tế tri
thức. Thứ ba, phổ cập DVVT và cung cấp DVVTCI thực hiện đường lối
chính sách của Đảng, Chính phủ nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo, góp
phần tăng trưởng kinh tế quốc dân ổn định và bền vững, xoá khoảng cách
số giữa các vùng; Thứ tư, đảm bảo các chính sách Nhà nước đúng mục
tiêu hỗ trợ cung cấp DVVTCI đồng thuận với các mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội khác của Nhà nước trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của
WTO, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát
triển kinh tế tri thức; Thứ năm, ưu tiên hợp lý việc phổ cập DVVT phục vụ
cộng đồng trên cơ sở phổ cập cho mọi tầng lớp người dân lao động tại các
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; Thứ sáu, Giai đoạn
2011÷2015 chú trọng phát triển công nghệ cao tại cùng được cung cấp
DVVTCI và triển khai các nội dung thông tin để người dân sử dụng thông
tin tại các vùng sâu, vùng xa.
Viettel phải thấm nhuần 6 quan điểm nêu trên, xác định cung cấp
DVVTCI vừa là mục tiêu vừa là công cụ trong quá trình xây dựng và phát
triển, trong hoạt động của mọi cán bộ, viên chức Viettel. Cung cấp
DVVTCI để Viettel cạnh tranh, để nâng cao uy tín, giữ gìn thương hiệu
mạnh, để vươn xa ra thị trường tại vùng sâu, vùng xa.
3.1.2. Nguyên tắc xây dựng chƣơng trình cung cấp DVVTCI giai đoạn
2011÷2015
Viettel thực hiện sáng tạo nhưng đảm bảo đúng các quy định hiện
hành: Hỗ trợ không hoàn lại đúng đối tượng, đúng các dịch vụ theo quy 17
định của Bộ TTTT; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp vào VTF; cung
cấp tốt hơn DVVTBB; ưu tiên lợi ích cộng đồng trước, thể nhân sau, cụ thể
18
Mục tiêu hàng năm gắn liền với mục tiêu chương trình. Chương trình
cung cấp DVVTCI giai đoạn 2011÷2015 tập trung vào các mục tiêu cụ thể:
Một là tập trung phát triển hạ tầng truyền dẫn băng rộng để cung cấp đa
dịch vụ đến 100% các xã, cụm thôn bản để đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng
dịch vụ của người dân và chính quyền các cấp. Bình quân năm thực hiện
20% chỉ tiêu tổng thể. Hai là tiếp tục thực hiện phổ cập dịch vụ điện thoại
đến hầu hết các hộ dân trong vùng công ích. Hàng năm thực hiện 100%
nhu cầu phát triển thuê bao viễn thông. Ba là tập trung phổ cập dịch vụ
truy nhập Internet đến các CN-HGĐ. Bình quân năm thực hiện 20% chỉ
tiêu tổng thể. Bốn là trên cơ sở các điểm truy nhập VTCC hiện nay sẽ phát
triển thành các Trung tâm thông tin cộng đồng, phục vụ cung cấp các dịch
vụ BCVT-CNTT, phát thanh, truyền hình và các dịch vụ khác để đảm bảo
thuận tiện nhất cho người dân trong sử dụng các dịch vụ. Bình quân năm
thực hiện 30% chỉ tiêu tổng quát. Phấn đấu đến 2014 hoàn thành chỉ tiêu cả
giai đoạn 2011÷2015.
3.3. Định hƣớng phát triển giai đoạn 2011÷2015
3.3.1. Định hƣớng tổng quát: Để thực hiện mục tiêu phát triển và phổ cập
DVVT, Viettel cần định hướng phát triển DVVTCI theo quan điểm, đường
lối chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời cần định hướng cụ thể về
thị trường, các đối tượng cũng như các loại hình dịch vụ sẽ được phổ cập
trong giai đoạn 2011÷2015.
3.3.2. Định hƣớng cụ thể: Định hướng phát triển mạng lưới, mở rộng thị
trường; Định hướng các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ DVVTCI
giai đoạn 2011÷2015; Định hướng các các loại hình dịch vụ sẽ được phổ
cập giai đoạn 2011÷2015.
3.4. Một số giải pháp
Viettel cần thực hiện những giải pháp nhằm phát huy thế mạnh, khắc
3.4.2. Giải pháp về thể chế quản lý
Chính phủ nên có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp chủ đạo,
như VNPT, Viettel, EVN Telecom… đầu tư và khai thác hạ tầng mạng
NGN, trước hết là chia sẻ dùng chung các CSHT mạng hiện có, mạng truy
nhập đầu cuối với các công nghệ hiện đại như cáp quang, vệ tinh
VINASAT, mạng GSM… Trên cơ sở một chính sách, sao cho vị trí và các
mối quan hệ hoạt động kinh doanh được xác lập rõ ràng và đầy đủ giữa
Chính phủ/chính quyền địa phương; doanh nghiệp chủ CSHT viễn thông;
các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển điểm truy nhập VTCC và
nội dung, thì số lượng điểm truy nhập dịch vụ VTCC mới có cơ hội phát
triển nhanh.
Đẩy nhanh việc triển khai các dự án phổ cập truy nhập Internet; sớm hình
thành và triển khai các dự án Chính phủ điện tử, Thương mại điện tử, mạng 20
truy nhập InCC, các trung tâm thư viện số lớn và liên thông với các cơ sở
dữ liệu quốc gia, cổng thông tin quốc gia… Xây dựng dự án nông dân điện
tử; điều tra- khảo sát kỹ các nhu cầu địa phương, nhằm làm rõ các điều
kiện sở tại, các mong muốn của những người sử dụng; coi trọng và có
chính sách phù hợp đối với việc truyền thông quảng bá về vai trò và giá trị
của viễn thông trong phát triển nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Phương thức
quảng bá tới người dân vùng công ích thông qua 2 hình thức chính, đó là:
Đưa thông tin trực tiếp tới người dân bằng việc tự họ tiếp cận với các
DVVT đã được triển khai.
3.4.3. Giải pháp huy động nguồn lực
Đào tạo, đào tạo lại các cán bộ, công nhân viên của Viettel để làm
việc trong môi trường mới ở các lĩnh vực là rất cần thiết. Có chính sách
phát triển đào tạo nguồn nhân lực theo địa chỉ, chính sách cử tuyển đào tạo
cán bộ để cung cấp đồng bộ và kịp thời nhân lực cho các địa phương, nông
giải trí tại các vùng công ích. Phát triển hạ tầng mạng lưới để cung cấp
DVVTCI là cần thiết, nhưng việc nâng cao hiệu quả hoạt động và người
dân đến với DVVTCI là điểm mấu chốt.
3.4.5.2. Hợp tác quốc tế, hội nhập quốc tế: Tăng cường tham gia các
hoạt động của các tổ chức viễn thông ASEAN và quốc tế để có thể tiếp thu,
đón đầu những thành tựu khoa học, công nghệ chuyên ngành mới nhất;
tranh thủ tối đa sự trợ giúp đào tạo cán bộ, trợ giúp kỹ thuật và tài chính
của các tổ chức đó cho việc phát triển DVVTCI. Nhà nước cần có chính
sách, mục tiêu, chương trình cụ thể nhằm hỗ trợ nghiên cứu xây dựng các
Định hướng chiến lược, cơ chế chính sách; nghiên cứu - triển khai các
công nghệ chi phí thấp, hiệu quả, các giải pháp kĩ thuật và DVVT, các nội
dung thông tin… các quy chuẩn kinh tế- kĩ thuật phù hợp với từng vùng
miền địa lí, phù hợp với nhu cầu, tập quán văn hoá của các dân tộc ít
người, với người dân nông thôn
3.5. Kiến nghị, đề xuất
3.5.1. Đối với cơ quan quản lý Nhà nƣớc: Về cơ chế quản lý; hệ thống
chính sách đầy đủ. Các điều kiện thực hiện đối với Viettel: Nâng cao nhận
thức về DVVTCI; cơ cấu tổ chức quản lý; sự nỗ lực của toàn dân.
3.5.2. Đối với Viettel: Thứ nhất, tổ chức việc triển khai thực hiện hoạt
động công ích hệ thống chuyên trách quản lý riêng, thành lập riêng Ban
hoặc Tổ chuyên trách công ích, xác định riêng chức danh công ích cho cán
bộ chuyên trách. Thứ hai, hoàn thiện hệ thống dữ liệu về hoạt động công
ích cho toàn Viettel. Thứ ba, hướng dẫn và đào tạo chương trình quản lý
công ích có bài bản, tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về lĩnh vực công 22
ích và cập nhật những văn bản mới của Viettel, của Bộ TTTT một cách cụ
thể, rõ ràng cho các cán bộ thực hiện.
với người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo của
Tổ quốc. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa xứng tầm với một tập
đoàn lớn với cam kết tái đầu tư lại cho xã hội thông qua việc gắn kết các
hoạt động sản xuất kinh doanh với các hoạt động xã hội, hoạt động nhân
đạo góp phần công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, giữ vững an ninh
quốc phòng.
Để đẩy mạnh phát triển và duy trì DVVTCI giai đoạn 2011÷2015,
Viettel cần nhận thức rõ nhiệm vụ, tận dụng thời cơ, tích cực đầu tư cung
cấp dịch vụ, huy động nguồn lực và mở rộng thị trường. Nhà nước cũng
cần có những biện pháp tuyên truyền để người dân thấy được vai trò của
thông tin - truyền thông và tích cực hưởng ứng, hỗ trợ, cộng tác với doanh
nghiệp viễn thông để triển khai thực hiện chương trình phổ cập DVVTCI.
Đề tài: “Định hướng và một số giải pháp chủ yếu để phát triển dịch vụ
viễn thông công ích của Viettel” được thực hiện, kết quả nghiên cứu đã đề
xuất một số nội dung về hoạt động cung cấp DVVTCI giai đoạn
2011÷2015, trong đó cơ bản bao gồm:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về DVVTCI.
- Từ thực trạng DVVTCI và hoạt động triển khai cung cấp DVVTCI
của Viettel đưa ra các đánh giá, nhận xét.
- Quan điểm, mục tiêu, định hướng và đề xuất một số giải pháp phát
triển DVVTCI giai đoạn 2011÷2015.
Kết quả nghiên cứu là tài liệu đánh giá kết quả học tập và có thể được
cán bộ, viên chức liên quan quan tâm tham khảo vào thực tế công tác.