ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010
I- ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH HÀ
NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010.
1- Quan điểm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam giai đoạn 2001-2010.
Thứ nhất, phát triển toàn diện song có trọng điểm.
Quan điểm phát triển toàn diện đòi hỏi Hà nam phải đánh giá đúng các tiềm năng, điều kiện nguồn
lực của tỉnh để phát triển các ngành nghề nhằm khai thác có hiệu quả các điều kiện nguồn lực trên. Mặt khác
với điều kiện môi trường như hiện nay, sự cạnh tranh đang diễn ra quyết liệt, nguồn vốn đầu tư có hạn đòi
hỏi tỉnh phải phát triển theo hướng trọng tâm, trọng điểm, tìm ra những ngành kinh tế mũi nhọn để đưa nền
kinh tế phát triển có hiệu quả.
Phát triển toàn diện có trọng điểm đòi hỏi phải chú trọng cả các ngành xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ
thuật, các ngành công nghiệp và dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
Thứ hai, phát huy lợi thế so sánh.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Hà nam phải xuất phát từ lợi thế so sánh của tỉnh về vị trí địa
lý, về tài nguyên,...Bởi vì như thế mới tạo ra được sức cạnh tranh của hàng hoá ở trong tỉnh so với các tỉnh
khác, đồng thời nó sẽ tạo nên một cơ cấu kinh tế linh hoạt mềm dẻo và thích nghi nhanh với điều kiện môi
trường thay đổi, tạo điều kiện để Hà nam có thể bắt nhịp nhanh với sự phát triển chung của cả nước.
Bên cạnh những quan điểm chung cho chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam thì với mỗi
ngành, chuyển dịch cơ cấu phải quán triệt những quan điểm khác nhau.
Đối với ngành công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp phải đem lại hiệu quả kinh tế xã
hội cao, công nghiệp phải đóng vai trò động lực, nòng cốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.Trước mắt cũng như lâu dài phải phát triển công nghiệp hướng về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập
khẩu có hiệu quả, phát triển công nghiệp với nhiều thành phần kinh tế tham gia theo cơ chế thị trường, mở
cửa có sự quản lý của nhà nước. Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng phát triển những ngành công
nghiệp có trình độ công nghệ thích hợp, có quy mô phù hợp với đặc điểm của tỉnh, khai thác sử dụng có hiệu
quả mọi nguồn lực tại chỗ, bảo vệ môi trường sinh thái. Trước mắt cần tập trung phát triển công nghiệp vật
liệu xây dựng, công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
Đối với ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải đảm bảo nâng cao không
ngừng hiệu quả kinh tế, xoá bỏ được tính tự cấp tự túc, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có chất
dệt da may mặc, máy móc thiết bị,...
Về vật liệu xây dựng, Hà nam là một tỉnh mới tách lập do đó có nhu cầu lớn để xây dựng mới lại trụ
sở, cầu cống đường xá, các công trình công cộng, công trình văn hoá. Mặt khác Hà nam nằm gần các tỉnh Hà
Tây, Hà nội, Thái Bình, Hưng Yên, Ninh Bình,...là những tỉnh có cầu rất lớn về vật liệu xây dựng mà họ không
có điều kiện sản xuất vì vậy Hà nam có thể cung ứng. Do đó có thể nói rằng sản phẩm của ngành công nghiệp
vật liệu xây dựng như gạch, ngói, xi măng, đá vôi,...có thị trường tương đối lớn, không những phục vụ trong
tỉnh mà còn cung cấp cho cả các vùng lân cận. Vì vậy trong tương lai, Hà nam nên phát triển mạnh công
nghiệp vật liệu xây dựng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của mình..
Về phân bón hoá chất, ngoài nguồn phân chuồng sẵn có, trung bình phải sử dụng 30 nghìn tấn phân
hỗn hợp NPK/ 1 vụ mà tỉnh lại chưa sản xuất được. Dự báo trong thời gian tới nông nghiệp Hà nam phát
triển theo hướng sản xuất hàng hoá, phải thâm canh, tăng năng suất cây trồng, vì vậy lượng phân bón sẽ sử
dụng nhiều hơn. Do đó, Hà nam nên phát triển loại phân bón nói trên, trước mắt là đáp ứng nhu cầu sản
xuất trong tỉnh, về lâu dài có thể cung cấp cho các vùng lân cận, đang và sẽ có cầu lớn.
Về nhu cầu thực phẩm, đồ uống trong những năm tới là rất lớn. Một mặt do thu nhập và mức sống
của người dân được nâng lên, sẽ làm thay đổi cầu về thực phẩm và đồ uống theo hướng sử dụng những sản
phẩm có chất lượng ngày càng cao và sẽ làm cho khả năng tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp chế biến ở
thị trường nội tỉnh tăng lên nhanh chóng. Mặt khác Hà nam có thể tận dụng vị trí gần thủ đô Hà nội để cung
ứng cho thị trường lớn đó và tham gia xuất khẩu mặt hàng này sang các nước ASEAN.
Về hàng cơ khí máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp hiện nay có cầu không lớn, nhưng trong thời
gian tới cầu này sẽ tăng lên rất nhanh chưa nói đến phải vươn ra ngoài. Bởi vì mức độ cơ giới hoá làm đất
nông nghiệp ở Hà nam hiện nay rất thấp, mới chỉ ở mức 20 % trong khi đó ở đồng bằng sông Cửu Long đã là
60%, mặt khác một ngành nông nghiệp phát triển nhất định phải cơ giới hoá ở mức độ tối đa. Vì vậy ngay từ
bây giờ Hà nam phải quan tâm nghiên cứu việc đầu tư phát triển, làm cho ngành cơ khí nói chung và ngành
cơ khí nông nghiệp nói riêng có bước đột phá mạnh vươn lên theo kịp các tỉnh khác.
Về hàng dệt da, may mặc, trên thị trường thế giới có cầu lớn do đó Hà nam có thể cần phát triển sản
xuất, gia công những mặt hàng này để xuất khẩu ra thị trường ngoài nước.
Cầu về hàng hoá nông sản: rau quả, thực phẩm gia súc, gia cầm,...
Trong tương lai, khi mức sống của người dân được nâng cao thì cầu về thịt trong bữa ăn sẽ lớn hơn
do đó mà ngành chăn nuôi cần được mở rộng phát triển.
Mặt khác khi các ngành chế biến lương thực, thực phẩm phát triển đòi hỏi nguồn nguyên liệu cho
39,0%. Trong công nghiệp, Hà nam sẽ tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng vì đây là
ngành công nghiệp chủ lực, có tính mũi nhọn của tỉnh xét về trước mắt cũng như lâu dài. Bên cạnh đó, tỉnh
cũng tập trung phát triển các ngành chế biến lương thực ,thực phẩm, công nghiệp dệt, da, may mặc và công
nghiệp cơ khí điện tử.
Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP sẽ giảm mạnh, phấn đấu đến năm 2010 tỷ trọng nông nghiệp
trong cơ cấu GDP chỉ còn chiếm 22%, như vậy sẽ tạo điều kiện cho phát triển nền kinh tế theo hướng CNH-
HĐH. Trong trồng trọt, sẽ tập trung phát triển cây ăn quả, cây thực phẩm và cây công nghiệp để bổ trợ cho
ngành chế biến lương thực thực phẩm, đồng thời trong chăn nuôi lấy bò, lợn, gia cầm làm vật nuôi chính.
Các ngành dịch vụ giữ vai trò ngày càng quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh từ nay đến năm 2010. Tỷ trọng của ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP tăng từ 31,6% năm 1996
lên 39% năm 2010. Trong ngành dịch vụ thì tỉnh sẽ lấy hai ngành thương mại và du lịch làm cực tăng
trưởng .
Tóm lại, trong giai đoạn 2001- 2010, để có thể đạt được mục tiêu kinh tế- xã hội như đã trình bày ở
trên thì cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam sẽ phải chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ đồng thời giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp trong cơ cấu GDP để hình thành một cơ cấu kinh tế
Công nghiệp- Nông nghiệp -Dịch vụ.
Cùng với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lao động cũng cần có sự chuyển dịch tương ứng.
Phân công lao động xã hội ngày càng tiến bộ hơn, lao động trong ngành nông nghiệp phải được chuyển dần
sang hoạt động cho ngành công nghiệp và dịch vụ. Cụ thể lao động trong các ngành sẽ được phân bổ như
sau:
Biểu 14.Dự kiến cơ cấu lao động của tỉnh Hà nam đến năm 2010.
Đơn vị : % .
1996 2000 2010
Tổng số 100 100 100
1.Công nghiệp 4,9 8,5 25,0
2.Nông nghiệp 88,2 75,0 47,0
3.Dịch vụ 6,9 16,5 28,0
Nguồn: Theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà nam
đến năm 2010.
Như vậy, đến năm 2010 dự kiến lao động trong nông nghiệp chỉ còn chiếm 47% tổng số lao động
được kinh nghiệm và vốn qua việc phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến lương
thực, thực phẩm, bước sang giai đoạn 2005- 2010, Hà nam cần tập trung phát triển công nghiệp dệt may da
giày, cơ khí điện tử để nâng tỷ trọng của các ngành này lên trong cơ cấu công nghiệp.Dự kiến giai đoạn
2001-2010, vốn đầu tư cho ngành công nghiệp phân bổ như sau:
Biểu 16. Cơ cấu vốn đầu tư cho Công nghiệp Hà nam giai đoạn 2001-2010.
Ngành sản xuất Giá trị
(tỷ đồng)
Tỷ trọng
( %)
Toàn ngành Công nghiệp 5.300 100
1-CN Vật liệu xây dựng 3.570 67,3
2-CN Chế biến LT - TP 495 9,3
3-CN Cơ khí, điện tử 370 6,9
4- CN Dệt may giày da 370 6,9
5-CN Hoá chất 370 6,9
6- CN khác 125 2,7
Nguồn:Sở Công nghiệp Hà nam.
Như vậy, giai đoạn 2001- 2010 Hà nam đầu tư lớn cho hai ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và
công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm đồ uống vì đó là hai ngành mũi nhọn của tỉnh đến năm 2010.
Bên cạnh đó Hà nam cũng đầu tư phát triển các ngành cơ khí, điện tử, dệt may, giày da, phân bón hoá chất
và các ngành công nghiệp khác.
Cụ thể, hướng phát triển cho từng ngành như sau.
Đối với công nghiệp vật liệu xây dựng.
Đến năm 2010, công nghiệp vật liệu xây dựng vẫn là ngành trọng điểm của tỉnh vì nó tận dụng được
thế mạnh về địa lý, tài nguyên. Trong công nghiệp vật liệu xây dựng sẽ tập trung một số loại vật liệu chủ yếu
như xi măng, đá xây dựng, gạch xây, tấm lợp và gạch lát nền. Dự kiến sản lượng của các vật liệu đó đến năm
2010 như sau:
Biểu 17. Dự kiến sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của
ngành vật liệu xây dựng Hà nam.
Tên vật liệu xây dựng Đơn vị 2000 2005 2010
Phương hướng chung của ngành cơ khí Hà nam là sản xuất các sản phẩm truyền thống với chất
lượng mẫu mã quy cách ngày càng tốt hơn, phong phú hơn như máy tuốt lúa, máy bơm, các công cụ phục vụ
sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, tham gia làm tốt công tác sửa chữa thiết bị máy móc của các cơ sở sản xuất
đóng trên địa bàn, tham gia lắp ráp máy canh tác phục vụ nông nghiệp và chế biến thực phẩm, chế tạo sửa
chữa máy móc thiết bị chế biến đá, sản xuất bột nhẹ, chế tạo máy móc thiết bị phục vụ vận chuyển giao
thông.
Đối với ngành điện tử cần xây dựng các cơ sở lắp ráp có dây chuyền thiết bị hiện đại, hoàn chỉnh dây
chuyền lắp ráp CKD có trang thiết bị công nghệ kiểm tra tốt để lắp ráp các thiết bị điện tử dân dụng và dần
dần hướng tới lắp ráp IKD.
Đối với ngành công nghiệp phân bón, hoá chất.
Trong giai đoạn 2000- 2005, Hà nam tập trung phát triển các công trình sản xuất phân bón hoá chất
tận dụng được nguồn nguyên liệu nội tỉnh, đồng thời lại không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ ít phức tạp
như: Công trình sản xuất bột nhẹ chất lượng cao, cung cấp cho các ngành sản xuất cao su, giấy, gia công
nhựa, thuốc đánh răng, ytế, hoá mỹ phẩm,... ;Công trình sản xuất phân hỗn hợp NPK chất lượng cao có công
suất từ 100.000- 300.000 tấn / năm cung cấp cho sản xuất nông nghiệp trong vùng, ngoài ra còn tận dụng
nguồn than bùn lớn để sản xuất phân vi sinh với công suất 5.000 tấn / năm ; Công trình sản xuất ống nhựa
dẫn nước và các sản phẩm nhựa dân dụng công suất 1000- 2000 tấn / năm phục vụ cho nhu cầu dân dụng
và xây dựng. Ngoài ra còn công trình sản xuất bao xi măng, vỏ bao bì nông sản.
Trong giai đoạn 2006- 2010, sau thời gian tập trung phát triển các ngành hoá chất nói trên, Hà nam
cần tiến tới phát triển các ngành hoá chất hiện đại như sản xuất sôđa Na
2
CO
3
quy mô 100 nghìn tấn/ năm
cung cấp cho các ngành thuỷ tinh, kính, bột giặt,...các công trình sản xuất phân vi sinh công suất 500 nghìn
tấn/ năm, công trình sản xuất vật liệu chịu lửa công suất 15- 20 nghìn tấn/ năm.
Để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp từ nay đến năm 2010, Hà nam cần xây
dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung như:
- Cụm công nghiệp phía Tây sông Đáy gồm hai cụm là cụm Bút Sơn- Kim Bảng bao gồm các cơ sở khai
thác, chế biến đá và sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, bê tông tươi, cấu kiện bê tông đúc sẵn, bê tông