- 1 - LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngành ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh đặc thù, có tầm quan trọng đặc biệt
trong quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước nhưng cũng rất nhạy cảm đối với các
biến động của môi trường kinh tế - chính trị - xã hội trong và ngoài nước
Đến cuối năm 2010, hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm 1 ngân hàng phát triển, 1
ngân hàng chính sách xã hội, 5 ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại
có cổ phần chi phối của Nhà nước, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 50 chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh, 18 công ty
tài chính, 12 công ty cho thuê tài chính, 1 Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương, hơn 1.000
quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và 1 tổ chức tài chính vi mô.
Ngành Ngân hàng đang ở giai đoạn phát triển hưng thịnh. Hàng chục ngàn điểm giao
dịch có mặt trên khắp vùng miền đất nước tạo nên mạng lưới dày đặc. Sự cạnh tranh trong
chính ngành ngân hàng diễn ra rất khốc liệt. Bên cạnh đó, các ngân hàng nước ngoài đang
trong giai đoạn được dỡ bỏ các hạn chế tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng trong nước
và có lợi thế về nhiều mặt như nguồn vốn, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, công nghệ kỹ
thuật, loại hình dịch vụ,… hứa hẹn sẽ thâm nhập ngày càng sâu và rộng.
Sự cạnh tranh trong ngành Ngân hàng ngày càng gay gắt và áp lực lớn cho mỗi một
ngân hàng đang đứng trong thị trường mỗi ngày một tăng. Các ngân hàng một mặt đang
đứng trước những cơ hội lớn từ quá trình phát triển nhanh của nền kinh tế, mặt khác phải
đối mặt với không ít thách thức
Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPB) là một trong những ngân hàng thương mại ra đời
muộn nhất tại Việt Nam, thành lập tháng 05/2008 bởi Công ty cổ phần FPT, Công ty thông
tin di động VMS (MobiFone), Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam
(Vinare) và một số cổ đông khác. TPB không đứng ngoài xu thế chung là buộc phải chấp
nhận cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng trong và ngoài nước.
Mặc dù mới ra đời nhưng TPB đã xác định phương hướng và lộ trình phát triển rõ
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động của ngân hàng TMCP Tiên Phong trong mối tương quan
với các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- 3 -
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ giới hạn trong ngành ngân hàng. Đồng thời,
các số liệu phân tích chủ yếu là tại TPB và một số ngân hàng thương mại cổ phần khác.
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2008 đến nay, thời điểm TPB chính thức ra đời, tham
gia vào thị trường.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập dựa trên nền tảng lý thuyết của các môn học: Quản trị chiến lược, Quản trị
học, Quản trị Marketing, Phương pháp nghiên cứu khoa học và một số sách liên quan của
các tác giả nổi tiếng kết hợp kiến thức thực tế của tác giả.
Thu thập thông tin từ các luận văn, công trình nghiên cứu về lĩnh vực ngân hàng
Điều tra, khảo sát thực tế từ các chuyên gia ngân hàng
4.2. Phương pháp xử lý thông tin
Phương pháp chủ đạo là thống kê mô tả kết hợp với việc phân tích, tổng hợp, so sánh,
đối chiếu, phương pháp chuyên gia để làm sáng tỏ và cụ thể hoá nội dung nghiên cứu của
luận văn.
4.3. Công cụ tổng hợp, xử lý dữ liệu
Phần mềm Excel; Ma trận các yếu tố bên trong (IFE); Ma trận các yếu tố bên ngoài
(EFE); Ma trận hình ảnh cạnh tranh; Ma trận kết hợp SWOT để xây dựng các giải pháp
nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của TPB
5. Kết quả đạt được dự kiến
Hệ thống được các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và đặc điểm hoạt động
kinh doanh của NHTM
Đánh giá tổng quan được thực trạng hoạt động và năng lực cạnh tranh của TPB trong
thời gian từ khi ra đời đến năm 2010
Từ những nhận định trên cho thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà
đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với các nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền
gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều
dịch vụ NH khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về SP, DV ngân hàng của xã hội.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
NHTM là một doanh nghiệp trong nền kinh tế, mục đích cuối cùng hoạt động kinh
doanh là lợi nhuận, nên các NHTM phải nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng cung ứng
SP, DV ngân hàng cho nền kinh tế, chiếm lĩnh thị phần nhằm gia tăng lợi nhuận.
Là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, cung cấp các SP, DV về tiền tệ, NH có liên
quan đến nhiều hoạt động trong nền kinh tế - xã hội. Nên hoạt động kinh doanh của NHTM
có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hoạt động kinh doanh của NHTM chủ yếu dựa trên lòng tin của khách hàng
và có tính nhạy cảm cao. NHTM kinh doanh chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động của các
tổ chức, cá nhân trong xã hội, chỉ có một phần nhỏ bằng nguồn vốn tự có của mình và thực
hiện cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nên sự mất uy tín hay một NHTM có thể sẽ tác động
đến tâm lý, lòng tin của khác hàng đối với hệ thống NH. Khi đó, hậu quả của nó không chỉ
ảnh hưởng trực tiếp đến NH đó mà có thể lan rộng trong toàn hệ thống NH và xa hơn nữa
là gây ra những ảnh hưởng xấu đến đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia.
Thứ hai, hoạt động NHTM là phong vũ biểu phản ánh “sức khỏe” của nền kinh tế.
- 6 -
Thông qua chức năng cung ứng vốn và “tạo tiền” cho nền kinh tế, sự thay đổi khối lượng
tiền tệ do các NHTM tạo ra có liên quan mật thiết tới tình hình kinh tế - xã hội, đặc biệt là
tốc độ tăng trưởng kinh tế, giải quyết tình trạng thất nghiệp, kiểm soát lạm phát. Chức năng
“tạo tiền” là một đặc trưng khác biệt trong hoạt động kinh doanh của NHTM so với các loại
hình doanh nghiệp khác. Mỗi NHTM là một mắt xích liên hoàn trong quá trình tạo tiền của
toàn bộ hệ thống NH
Do vậy, NHTM là công cụ để NHNN thực hiện CSTT thông qua các quy định như tỷ
lệ dự trữ bắt buộc, tham gia thị trường mở, chính sách tỷ giá,… Do vậy, hoạt động kinh
doanh của NHTM bị ảnh hưởng lớn bởi những chính sách, quy định của NHNN.
Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm lại cho rằng: “Cạnh tranh trên thương trường phải là
cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để đem lại
cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn
mình chứ không phải đối thủ của mình”.
Từ những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy, cạnh tranh không phải
là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát
triển của doanh nghiệp, cạnh tranh là chìa khoá của sự phát triển chung của xã hội.
Cũng như trong các lĩnh vực khác, hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực NH là một quá
trình diễn ra không ngừng nhằm cung cấp các SP, DV, các tiện ích cho khách hàng ngày
càng cao hơn.
Như vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là hoạt động cạnh tranh giữa các
NHTM và những định chế tài chính khác nhằm thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị
trường và tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính ngày càng
tốt hơn cho khách hàng.
1.2.1.2. Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ ngày càng được sử dụng rộng rãi nhưng đến nay vẫn
là khái niệm chung chung và khó đo lường.
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học: “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị
phần lớn trước đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay
toàn bộ thị phần”.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF (1997) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu
(do các Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia
của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng) thì năng lực cạnh tranh được
hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và
có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ
- 8 -
đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được được những mục tiêu
của doanh nghiệp đặt ra.
Theo Micheal Porter trong sách “Chiến lược cạnh tranh” năm 2006 thì “những doanh
Theo sách “Lợi thế cạnh tranh” năm 1985 của Michael Porter, Lợi thế cạnh tranh là
những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. Đó là
những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của một NHTM so với các đối thủ là khả năng mà ngân hàng
đó cung cấp giá trị lớn hơn cho khách hàng, làm tăng mức độ hài lòng của khách hàng
so với các đối thủ.
Giá trị mang lại cho khách hàng là khoảng chênh lệch giữa tổng giá trị khách hàng
nhận được (bao gồm giá trị về sản phẩm, giá trị dịch vụ, giá trị nhân lực và giá trị tâm lý)
với tổng chi phí của khách hàng phải bỏ ra (bao gồm tiền bạc, thời gian/công sức và chi phí
rủi ro).
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại
NHTM là một doanh nghiệp trong nền kinh tế, mục đích cuối cùng hoạt động kinh
doanh là lợi nhuận. Cũng như trong các lĩnh vực khác, hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực
NH là một quá trình diễn ra không ngừng, không có giá trị tiện ích nào tồn tại vĩnh viễn mà
luôn có những SP, DV mới ra đời.
NH nào hài lòng với vị thế đang có của mình trên thương trường sẽ rơi vào tình trạng
tụt hậu và sẽ bị đào thải nhanh chóng trong một môi trường kinh doanh ngày càng phát
triển và có nhiều biến động.
Do đó, NHTM luôn phải chú trong nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và
phát triển trên thương trường. Các NHTM phải nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng
cung ứng SP, DV ngân hàng cho nền kinh tế, chiếm lĩnh thị phần nhằm gia tăng lợi nhuận.
1.2.3. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại
Theo khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM đưa ra ở phần trên, một số tiêu chí
để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM là:
Năng lực tài chính: cho biết nguồn vốn tự có, khả năng huy động vốn, khả năng
thanh toán, khả năng sinh lời và mức độ rủi ro
Nguồn nhân lực: cho biết số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cùng với các
chiến lược phát triển nguồn nhân lực của NHTM
Năng lực quản trị điều hành ngân hàng: cho biết tầm nhìn và những chiến lược
kinh doanh của ban điều hành giúp NHTM không ngừng lớn mạnh
trưởng của GPD, dự trự ngoại hối… Mối quan hệ giữa môi trường kinh tế và ngành NH
thường là mối quan hệ thuận chiều. Các yếu tố trong môi trường kinh tế bao gồm trình độ
phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế và trình độ phát triển thương mại điện tử…
Nếu như nền kinh tế có các chỉ tiêu chỉ số lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, cán cân
- 11 -
thanh toán quốc tế (TTQT)… đạt mức độ ổn định sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển của
ngành. Ngược lại, khi môi trường kinh tế bất ổn, khách hàng sẽ giảm quy mô hoạt động
kinh doanh và làm giảm tốc độ phát triển của ngành NH.
Các yếu tố kinh tế tác động đến khả năng tích lũy và đầu tư của người dân, khả năng
thu hút tiền gửi, cấp tín dụng và phát triển các sản phẩm của NHTM, khả năng mở rộng
hoặc thu hẹp mạng lưới hoạt động của các NH… Từ đó làm giảm hay tăng nhu cầu mở
rộng tín dụng, triển khai các dịch vụ, mở rộng thị phần của NHTM. Để đạt được các mục
tiêu trên, các NHTM sẽ áp dụng các chiến lược khác nhau để nâng cao khả năng cạnh tranh
của mình.
Sự biến động của nền kinh tế thế giới sẽ tác động đến lưu lượng vốn của nước ngoài
vào Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Ngoài ra, chúng ảnh
hưởng đến tình hình hoạt động chung của các NHTM, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có
tham gia quan hệ thanh toán, mua bán với các doanh nghiệp trong nước cũng như các
NHTM trong nước. Điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM trong nước và ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của các NHTM trong nước.
1.3.1.3. Yếu tố văn hóa - xã hội
Văn hóa - xã hội có tác động mạnh đến hành vi mua sắm của khách hàng. Chính vì
thế, môi trường văn hóa xã hội ảnh hưởng nhiều đến năng lực cạnh tranh của các NH. Một
số yếu tố chính tác động của môi trường văn hóa: thói quen tiêu dùng, cơ cấu tuổi của tầng
lớp dân cư, trình độ học vấn, phân bổ dân cư,…
1.3.1.4. Yếu tố khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ có tác động mạnh đến năng lực cạnh tranh của các NH do thế
mạnh của các dịch vụ và hoạt động kinh doanh của mỗi NH phụ thuộc nhiều vào mức độ
ứng dụng khoa học công nghệ. Những yếu tố chính của môi trường khoa học công nghệ tác
1.3.2.1. Đối thủ cạnh tranh
Sự cạnh tranh của các đối thủ trong ngành để giành lấy cơ hội, vị thế và phát triển thị
phần luôn tạo ra những áp lực đối với NH, đòi hỏi NH phải áp dụng nhiều biện pháp đối
phó với các đối thủ cạnh tranh nhằm giữ vững và phát triển thị phần.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng, sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh có
một ý nghĩa quan trọng đối với các NHTM trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình. NHTM cần phải nhận diện tất cả đối thủ cạnh tranh, xác định các thế mạnh, khuyết
điểm và những mối đoe dọa của đối thủ cạnh tranh, từ đó tìm ra lợi thế của NH, bao gồm cả
lợi thế vô hình và lợi thế hữu hình.
1.3.2.2. Đối thủ tiềm ẩn
Việc gia nhập ngành của các đối thủ mới sẽ làm tăng mức độ cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong cùng một ngành. Các đối thủ mới sẽ mang đến năng lực sản xuất mới,
với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết, nên có thể làm giảm lợi
nhuận của các doanh nghiệp hiện hữu. Tuy nhiên, việc xuất hiện của các đối thủ mới sẽ phụ
thuộc vào các điều kiện để gia nhập ngành.
Trong bối cảnh hiện nay, sự xuất hiện của các đối thủ mới trong ngành tài chính, NH
ở Việt Nam không lớn nhưng mỗi NHTM vẫn cần phải có những biện pháp đề phòng nhất
là nhóm NHNNg.
1.3.2.3. Khách hàng
Khách hàng là yếu tố quan trọng của bất kỳ doanh nghiệp nào. Sự trung thành của
khách hàng đối với NH là một lợi thế của NH. Những nhu cầu, sự thoả mãn về lợi ích, và
sự tự do lựa chọn của người mua là những áp lực đối với NHTM.
Quyền lực của khách hàng còn thể hiện thông qua khả năng thương lượng của họ.
Người mua có thể gây sức ép buộc các NHTM phải giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ hoặc
gây sức ép để nâng chi phí huy động vốn của các NHTM, hoặc đòi hỏi chất lượng dịch vụ
NH cao hơn gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NH.
Do vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh, NHTM cần phải xác định, phân loại và xây
dựng dữ liệu thông tin khách hàng hiện tại và những xu hướng tiêu dùng trong tương lai.
Các thông tin này là cơ sở định hướng cho hoạt động kinh doanh của NH.
của NH đó trên thị trường. Khả năng huy động vốn tốt cũng có nghĩa là NH đó sử dụng các
SP, DV hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút được khách hàng.
Khả năng thanh toán
Theo chuẩn mực quốc tế, khả năng thanh toán của NH thể hiện qua tỷ lệ giữa tài sản
“Có” có thể thanh toán ngay và tài sản “Nợ” phải thanh toán ngay. Chỉ tiêu này đo lường
- 15 -
khả năng NH có thể đáp ứng được nhu cầu tiền mặt của người tiêu dùng. Khi nhu cầu về
tiền mặt của người gửi tiền bị giới hạn, thì uy tín của NH đó bị giảm một cách đáng kể,
NHTM đó sẽ dễ bị phá sản nếu để điều này xảy ra.
Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá tình hình kinh doanh của NHTM. Mức sinh lời
được phân tích qua các thông số sau:
- Tỷ lệ thu nhập trên VCSH - Return on equity (ROE): là tỷ lệ Thu nhập sau thuế
trên VCSH, thể hiện tỷ lệ thu nhập của một đồng VCSH. ROE càng cao thì khả năng
cạnh tranh của NH càng mạnh. Thông lệ quốc tế > 15%
- Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản - Return on assets (ROA): là tỷ lệ Thu nhập sau
thuế trên Tổng tài sản, thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản. ROA cho biết cứ
một đồng tài sản thì NH tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA đánh giá hiệu suất sử
dụng tài sản của NH. Thông lệ quốc tế > 1%
Mức độ rủi ro: thường được đo bằng 2 chỉ tiêu cơ bản sau
Hệ số an toàn vốn (CAR: capital adequacy ratio): chính là tỷ lệ giữa VCSH trên tổng
tài sản có rủi ro chuyển đổi (theo Ủy ban giám sát tín dụng Basel). Theo chuẩn quốc tế thì
CAR tối thiểu phải đạt 8%. Tại Viện Nam, NHNN quy định CAR tối thiểu của NHTM là
9%. NHTM nào có CAR càng lớn thì khả năng cạnh tranh càng lớn
Chất lượng tín dụng (tỷ lệ nợ quá hạn): Chất lựơng tín dụng thể hiện chủ yếu thông
qua tỷ lệ nợ quá hạn/tổng nợ. Nếu tỷ lệ này thấp cho thấy chất lượng tín dụng của NHTM
đó tốt, tình hình tài chính của NH đó lành mạnh và ngược lại. Chất lượng tín dụng tốt cũng
là cơ sở để NHTM đưa ra nhiều sản phẩm, chính sách thu hút khách hàng hơn.
Nguồn nhân lực
Một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của bất
kỳ doanh nghiệp nào là vai trò của những người lãnh đạo doanh nghiệp, những quyết định
của họ có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo trong NH có vai trò rất
quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt động NH. Tầm nhìn của
nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để NH có chiến lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn.
Thông thường đánh giá năng lực quản trị, kiểm soát, điều hành của một NH người ta
xem xét đánh giá các chuẩn mực và các chiến lược mà NH xây dựng cho hoạt động của
mình. Hiệu quả hoạt động cao, có sự tăng trưởng theo thời gian và khả năng vượt qua
những bất trắc là bằng chứng cho năng lực quản trị cao của NH.
Một số tiêu chí thể hiện năng lực quản trị của ngân hàng là:
- 17 -
- Chiến lược kinh doanh của NH: bao gồm chiến lược marketing, phân khúc thị
trường, phát triển SP, DV, định hướng nghiên cứu và phát triển;
- Cơ cấu tổ chức và khả năng áp dụng phương thức quản trị hiệu quả;
- Sự tăng trưởng trong kết quả hoạt động kinh doanh của NH.
c) Công nghệ
Trong lĩnh vực NH thì việc áp dụng công nghệ là một trong những yếu tố tạo nên sức
mạnh cạnh tranh. Để nâng cao chất lượng SP, DV nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách
hàng thì nhu cầu công nghệ là tất yếu. Công nghệ sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến
mang tính độc đáo và tiện ích hơn.
Ngày nay, các NHTM đang triển khai phát triển những sản phẩm ứng dụng công nghệ
cao, và sử dụng các sản phẩm dịch mang tính chất công nghệ làm thước đo cho sự cạnh
tranh, đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán và các SP, DV điện tử khác.
Tại diễn đàn quốc tế “Banking Vietnam” khẳng định việc sử dụng CNTT là công cụ
chính để khẳng định năng lực cạnh tranh của các NHTM, sự phát triển các SP, DV m-
Banking, e-Banking là xu hướng thời thượng, công nghệ là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa
các NHTM trong kinh doanh.
d) Hoạt động marketing
triển, khả năng đổi mới SP, DV của NH.
Năng lực nghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong cải tiến và áp dụng công
nghệ hiện đại, phát triển sản phẩm mới, tìm kiếm thị phần, phát triển kênh phân phối, xây
dựng hệ thống quản lý rủi ro, chuẩn hóa quy trình làm việc.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, tự do hóa tài chính ngày càng mạnh mẽ thì năng lực
nghiên cứu và phát triển là yếu tố quan trọng giúp NH nắm bắt được sự thay đổi công nghệ,
sản phẩm NH cũng như thị hiếu của khách hàng và có đủ khả năng để cạnh tranh với các
đối thủ trong và ngoài nước.
1.3.3.2. Chuỗi giá trị Ngân hàng thương mại
Theo Michael Porter, doanh nghiệp có thể xem như một chuỗi các hoạt động chuyển
hóa các yếu tố đầu vào (các nguồn lực) thành đầu ra (SP, DV). Các hoạt động chuyển hóa
này làm tăng giá trị cho sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp. Quá trình này được khái
quát thành mô hình chuỗi giá trị.
“Chuỗi giá trị” được hiểu là chuỗi/tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp góp phần
gia tăng giá trị để chuyển các nguồn lực thành SP, DV đến khách hàng
Nhóm yếu tố trực tiếp: Các hoạt động liên quan trực tiếp đến việc tạo ra hình thái
vật chất của sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ.
- 19 -
Nhóm yếu tố bổ trợ: Các hoạt động có chức năng hỗ trợ cho các hoạt động chính
của doanh nghiệp được tiến hành nhằm tăng cường củng cố trợ giúp cho quá trình
tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm. Hình 1.3: Chuỗi giá trị của doanh nghiệp
Dựa trên chuỗi giá trị doanh nghiệp, ta xác định chuỗi giá trị của NHTM như sau:
Các yếu tố chính: nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, quá trình phân phối SP,
DV, hoạt động marketing, chăm sóc khách hàng,…
Các yếu tố hỗ trợ: những yếu tố, quá trình thuộc nền tảng chung của NH, phát triển
đó yếu về nội bộ, bằng 2,5 thì các yếu tố nội bộ của NH ở mức độ trung bình và lớn
hơn 2,5 thì cho thấy NH mạnh về nội bộ.
Việc phân tích các yếu tố bên trong NH giúp cho nhà quản trị đánh giá các điểm
mạnh, điểm yếu của các yếu tố này, qua đó có kế hoạch hoàn thiện những điểm yếu và đưa
ra các chiến lược kinh doanh phù hợp với năng lực của NH.
Bảng 1.1: Mô hình ma trận IFE
STT
Các yếu tố
bên trong
Mức độ
quan trọng
Phân
loại
Điểm
quan trọng
(1)
(2)
(3) = (1) x (2)
1
Yếu tố 1
2
Yếu tố 2
Bảng 1.2: Mô hình ma trận EFE
STT
Các yếu tố
Bên ngoài
Mức độ
quan trọng
Phân
loại
Điểm
quan trọng
(1)
(2)
(3) = (1) x (2)
1
Yếu tố 1
2
Yếu tố 2
…
n
Yếu tố n
quan
trọng
Yếu tố 1
Yếu tố 2
…
1.4.4. Ma trận kết hợp SWOT để xây dựng giải pháp
Bảng 1.4: Mô hình ma trận kết hợp SWOT
Ma trận kết
hợp SWOT
Những cơ hội (O)
Những nguy cơ (T)
Những điểm
mạnh (S)
Kết hợp S + O
Sử dụng những điểm mạnh
bên trong để tận dụng cơ hội
bên ngoài.
Kết hợp S +T
Sử dụng các điểm mạnh để tránh
khỏi/hạn chế ảnh hưởng của mối
đe dọa bên ngoài.
Những điểm
yếu (W)
Kết hợp W + O
Khai thác cơ hội bên ngoài để
cải thiện yếu kém bên trong
Khắc phục điểm yếu bên trong
để tận dụng cơ hội bên ngoài.
Kết hợp W + T
Cải thiện điểm yếu bên trong để
tránh hay giảm bớt ảnh hưởng của
mối đe dọa bên ngoài.
Thông qua việc phân tích các ma trận IEF, EFE và ma trận hình ảnh cạnh tranh, NH
ứng các dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài và liên doanh. Với kết quả cải
cách và chuyển đổi nói trên, trung quốc đã có 04 NHTM nhà nước, 03 NH chính
sách, 11 NHTMCP, 04 công ty quản lý tài sản, và 114 NHTM cấp thành phố với
tổng tài sản của các NH Trung Quốc là 26.000 tỷ USD (trong đó NHTM nhà nước
chiếm 60% tổng tài sản và 80% thị phần tín dụng, đồng thời đã cấp phép cho 116
NHNNg vào kinh doanh tại 18 thành phố và các hạn chế về địa lý được xóa bỏ vào
2006.
1.5.2. Các bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân
hàng thương mại Trung Quốc.
Thứ nhất, tập trung xử lý nợ xấu. Tháng 8/1998 tỷ lệ nợ xấu của 4 NHTM quốc doanh
của Trung Quốc chiếm 25,5% tổng dư nợ cho vay của 4 NHTM này, đến hết năm 2004 là
khoảng 13-14%. Giải pháp cơ bản để xử lý nợ xấu là 4 NHTM quốc doanh đều thành lập 4
công ty quản lý tài sản. Tất cả các khoản nợ xấu của 4 NHTM quốc doanh đều giao cho 4
công ty này khai thác xử lý. Tiếp đến là tiến hành bán đấu giá nợ xấu cho các NHNNg.
Khoản nợ xấu này liên quan chủ yếu trong các khoản cho vay đầu tư vào bất động sản.
Thứ hai, yêu cầu các NHTM Nhà nước tự hoạch định ra kế hoạch tăng VĐL theo
thông lệ quốc tế là 8%. Construction Bank of China có phương án phát hành cổ phiếu trị
giá 4,8 tỷ USD để tăng VĐL, trong đó có 1 tỷ USD được phát hành trong tháng 4/2004. Số
- 25 -
còn lại phát hành trong 6 tháng năm 2005.
Thứ ba, thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp, thực hiện cổ phần hóa và niêm yết cổ
phiếu NHTM trên TTCK. Hiện nay, một số NHTMCP cũng đang dự kiến niêm yết cổ
phiếu trên TTCK nước ngoài. Ngân hàng Phát triển Trung Quốc thỏa thuận với HSBC,
Morgan Stanley phát hành trái phiếu của NH này trên thị trường toàn cầu.
Thứ tư, đẩy mạnh văn hóa kinh doanh trong NH kết hợp với tăng lương hợp lý cho
cán bộ nhân viên NH. Văn hóa NH được thể hiện hoạt động NH theo tiêu chuẩn quốc tế,
phong cách làm việc, khả năng giao tiếp với khách hàng và các nội dung khác thuộc về văn
hóa trong kinh doanh. Các công việc đó được gắn liền với tinh giảm biên chế trong ngành
NH. Chỉ riêng năm 2004, các NH Trung Quốc đã tinh giảm 45.000 người.