bài học kinh nghiệm và những giải pháp để nâng cao hiệu quả của chương trình ba giảm- ma túy, mại dâm và tội phạm của tp. hồ chí minh - Pdf 25


ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
[\
BÁO CÁO NGHIỆM THU
(Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu) TÊN ĐỀ TÀI :

"BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH
BA GIẢM : MA TÚY, MÃI DÂM VÀ TỘI PHẠM
CỦA TP. HỒ CHÍ MINH".

[

Chủ nhiệm đề tài : TS. TRƯƠNG THỊ HIỀN CƠ QUAN QUẢN LÝ CƠ QUAN CHỦ TRÌ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009

1
MUÏC LUÏC

Thành phố Hồ Chí Minh.
91
1. Những bài học kinh nghiệm chung nhất thông qua việc thực hiện Chương trình
mục tiêu 3 giảm của Thành phố.
91
2. Nhận xét, đánh giá và một số bài học kinh nghiệm trong thực hiện NQ số
16/2003/QH11 (cụ thể về đề án sau cai nghiện)
93
3. Nhận xét, đánh giá và một số bài học kinh nghiệm trong thực hiện Pháp lệnh
phòng, chống mại dâm của thành phố Hồ Chí Minh
100
4. Phương hướng, nhiệm vụ chung về phòng, chống tội phạm, và tội phạm ma túy,
mại dâm trên địa bàn TPHCM trong thời gian tới
102
5. Nhiệm vụ cụ thể về phòng chống tệ nạn ma túy thời gian tới (Sau khi kết thúc
việc thí điểm Nghị quyết số 16/2003/QH11)
105
6. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình mục tiêu 3 giảm của
thành phố.
108
7. Đề xuất và kiến nghị 120
Kết luận 126
Tài liệu tham khảo 128
Phụ lục 135
2
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Hơn 20 năm qua, cả nước ta thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đặc
biệt là từ năm 1986 đến nay nền kinh tế cả nước nói chung Thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng, đã có những bước phát triển vượt bậc, đời sống tinh thần, vật

tệ nạn xã hội; qua đó, thu thập tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy các môn
Khoa học Xã hội và Nhân văn tại các Viện, Trường Đồng thời góp phần vào
việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các vấn đề xã hội là hết sức cần
3
thiết. Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu, nhằm rút ra
những bài học kinh nghiệm, bổ ích cho việc tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa
chương trình 3 giảm của thành phố.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
+ Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng thực hiện Chương trình 3 giảm của
các sở, ban, ngành, đoàn thể, quận, huyện, Lực lượng thanh niên xung phong
thành phố về nh
ững thành công, hạn chế và những nguyên nhân, điều kiện làm
phát sinh tệ nạn ma túy, mại dâm và tội phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh. Đồng thời tổng kết và rút ra những bài học kinh nghiệm (thành công và
hạn chế).
+ Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả, tiếp tục thực hiện mục tiêu của
Chương trình mục tiêu 3 giảm trong thời gian tới nhằm đạt được kết quả cao hơn
với trọ
ng tâm là giảm tội phạm ma túy.
3. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
- Một là, xây dựng cơ sở lý luận về chương trình mục tiêu 3 giảm để tìm
ra bản chất, đặc trưng của tình hình tội phạm, tình hình tệ nạn ma túy, mại dâm,
tổng kết những kết quả trong 5 năm qua thực hiện chương trình mục tiêu 3 giảm
của thành phố, cùng những mối quan hệ của chúng.
- Hai là, tổ chức khả
o sát, điều tra định lượng và định tính về tình hình và
kết quả thực hiện chương trình của Thành phố thời gian qua, nghiên cứu các đối
tượng có liên quan (bản thân, gia đình có người sa vào ma túy, mại dâm, tội
phạm).
- Ba là, tổ chức tọa đàm (hoặc hội thảo khoa học) và trưng cầu ý kiến

Nội” năm 2001 của Thiếu tướng Phạm Chuyên- Giám đốc Công an Hà Nội.
- “Đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” của TS. Phan Đình Khánh năm
2004.
+ Trên bình diện quốc tế, đáng chú ý là các kỷ yếu tổng kết hội nghị về
phòng chố
ng tội phạm có tổ chức như:
- Kỷ yếu hội nghị quốc tế về phòng chống tội phạm có tổ chức do Interpol
tổ chức tại Palermo, Italia năm 2001.
- Kỷ yếu hội nghị quốc tế phòng chống tội phạm có tổ chức khu vực
ASEAN, tổ chức tại Indonesia năm 2004.
- Tài liệu hội nghị tổng kết Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm
c
ủa Chính phủ- Hà Nội năm 2006.
5
- Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình mục tiêu ba giảm của
Thành phố.
Kết quả của các công trình nghiên cứu nói trên khá phong phú và có ích.
Đó là những tư liệu khoa học quan trọng để đề tài này kế thừa và phát triển. Tuy
nhiên, trong các công trình nghiên cứu nói trên, địa bàn nghiên cứu dàn trải quá
rộng (cả nước), hơn nữa đối tượng nghiên cứu thường được tách rời riêng rẽ
(mại dâm riêng, ma túy riêng, tội phạm riêng) nên việc phục vụ cho Ch
ương
trình mục tiêu 3 giảm có những hạn chế nhất định.
Thành phố Hồ Chí Minh - nơi tập trung đông dân cư nhất so với cả nước,
hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa… diễn ra với mức độ sôi động cao nhất nước,
nhưng cũng là nơi có tệ nạn ma túy, mại dâm và tội phạm phức tạp với tỷ lệ cao
nhất nước. Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên c
ứu một cách tổng
thể và có hệ thống cả 3 vấn đề (ma túy, mại dâm và tội phạm) một cách kỹ càng;

t là dùng phương pháp điều
tra định lượng kết hợp với điều tra định tính để đánh giá đúng về thực trạng các
tệ nạn và tình hình thực hiện chương trình 3 giảm. Đồng thời, kết hợp với
phương pháp thảo luận nhóm, phỏng vấn chuyên gia, so sánh, đối chiếu, khái
quát hóa để rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp.
6. Ý nghĩa của đề tài.
Đề tài khoa học này hy vọng sẽ
góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu
tranh phòng chống tội phạm có tổ chức trong giai đoạn hiện nay ở TP. Hồ Chí
Minh.
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là một công trình khoa học đóng góp
vào bộ môn Tội phạm học, Xã hội học, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự ở
nước ta trong thời kỳ đổi mới. Về mặt thực tiễn đề tài khoa họ
c là một tài liệu
phục vụ cho các ngành, các cấp ủy và chính quyền tại TP. Hồ Chí Minh các cơ
quan chức năng, các tổ chức xã hội, tham khảo, ứng dụng bổ sung cho những
hoạt động trong việc tuyên truyền giáo dục, lãnh đạo, chỉ đạo v.v nhằm nâng
cao hiệu quả trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm và tệ nạn ma túy, mại
dâm trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
7. Cơ cấu của đề tài.
Đề tài bao gồm: Ph
ần mở đầu, kết luận, 3 chương và danh mục tài liệu
tham khảo.
Chương I: Cơ sở lý luận, thực tiễn thực hiện chương trình mục tiêu 3
giảm của Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương II: Tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu 3 giảm trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Chương III: Những bài học kinh nghiệm và kiến nghị những giải pháp
nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình mụ
c tiêu 3 giảm của Thành phố Hồ

ại một sự kinh doanh hạch
toán có hiệu quả lại là cơ sở để thanh toán các tệ nạn và tội lỗi trong xã hội.
Trong trường hợp không điều chỉnh hợp lý được mối quan hệ này, xã hội chỉ là
một tổ ong vỡ ”.
Trong Xã hội học phương Tây, việc nghiên cứu khắc phục các tệ nạn xã
hội được coi là một trong những đề tài quan trọng, hàng đầu. Cho tới nay, có
khá nhiều kinh nghiệ
m trong lĩnh vực này đã được tích lũy và phổ biến, nhiều

1
Kỷ yếu hội thảo khoa học: Hội thảo CSXH đảm bảo phòng ngừa, đấu tranh chống tệ
nạn xã hội trong nền kinh tế thị trường. Tổng Cục Cảnh sát nhân dân, Bộ Nội vụ, 1992
8
công trình nghiên cứu được coi là có giá trị. Mặc dù còn nhiều luận điểm chưa
được thống nhất nhưng nhìn chung, về mặt lý thuyết các nhà nghiên cứu đều đi
sâu theo xu hướng là cố gắng lập một lược đồ tổng quát về những sự tương hỗ
cơ bản của các mối quan hệ xã hội, trên cơ sở đó xác định vị trí và ảnh hưởng
của các tệ nạn xã hộ
i trong tương quan chung. Xu hướng này cho phép người
nghiên cứu có được một sự nhận thức tổng hợp, tìm thấy những điểm chốt căn
bản để ngăn chặn và xử lý trên phạm vi rộng và bao quát các tệ nạn xã hội, từ
nguyên nhân xuất hiện đến quá trình phát triển và lây lan của nó trong xã hội.
Đáng chú ý và có ảnh hưởng hơn cả tới các công trình nghiên cứu sau này là lược
đồ của nhà xã hội học Mỹ R.Merton. Theo ông, sự phát triể
n của tệ nạn xã hội là
biểu hiện có thể thấy được của một xã hội bệnh hoạn (anomie) từ bên trong
2
. Bởi
vậy vấn đề không chỉ là sự tìm hiểu và chạy chữa các biểu hiện bên ngoài mà phải
khám xét và phát hiện được những gốc rễ ẩn dấu bên trong của nó. Vốn là một

t đẹp được các thành viên trong xã hội chấp nhận và ủng hộ.
+ Dưới góc độ triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học,
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin như: C.Mác, Ph.Ănghen,
V.I.Lênin đã có nhiều công trình nghiên cứu và phân tích về tệ nạn xã hội và
việc giải quyết tệ nạn này. Trong các tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của
chế độ tư hữu và c
ủa Nhà nước”, “Những bức thư từ Vúp-pơ tan”, “Tình cảnh
giai cấp công nhân ở nước Anh” của Ph. Ănghen; các tác phẩm “Những cuộc tranh
luận của Hội nghị dân biểu khóa 6 của tỉnh Ranh”, “Gia đình thần thánh” của
C.Mác; tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của V.I.Lênin, các ông đã phân tích
sâu sắc các nguyên nhân của tệ nạn xã hội và cho rằng các yếu tố thất nghiệp,
bất bình đẳng về xã hội và chủng tộc, sự không
đảm bảo vật chất, v.v vốn gắn
liền với chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa chính là nguồn gốc phát sinh của tệ nạn
xã hội, như Ph.Ănghen trong tác phẩm “Tình cảnh giai cấp công nhân ở nước
Anh” đã phân tích rõ sự nghèo đói, thiếu thốn, sự vô trách nhiệm của nhà nước
đã đẩy những người “đàn ông thì đầu trộm đuôi cướp, đàn bà thì ăn cắp và m
ại
dâm”, trong khi đó nhà nước ném những kẻ bần cùng này vào các nhà tù của
mình hoặc “đày họ đến những trại giam phạm nhân” và “biến những con người
bị tước mất bánh mì thành những con người còn bị tước mất cả đạo đức nữa”
3
.
Nhận thức rõ ràng và đầy đủ về tệ nạn ma túy và mại dâm, sẽ góp phần
hướng tới sự thống nhất về hành động nhằm tiến tới ngăn ngừa và hạn chế một
cách thiết thực và có hiệu quả hơn. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tệ nạn
ma túy và mại dâm trong tình hình đổi mới, sâu sắc và toàn diện của nước ta
hiện nay; đặc biệt là thành phố H
ồ Chí Minh càng khẳng định ý nghĩa, tầm quan
trọng và sự cấp thiết phải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận. Trên cơ sở đó mới

có thể đặt ra nhiệm vụ là làm cho các mặt, các yếu tố tích cực, ưu việt của môi
trường xã hội trở thành ưu thế tuyệt đối trong đời sống xã hội và trong nhận thức
của cá nhân. Trong trường hợp chưa thể loại bỏ được hàng loạt những yếu tố xã
hội tiêu c
ực trong một thời gian ngắn thì việc cố gắng làm giảm dần ảnh hưởng
của các yếu tố tiêu cực đó bằng cách tạo ra hoặc đưa các cá nhân vào một tập
hợp các yếu tố tích cực đang tác động trực tiếp đến họ, hình thành trong họ cái
“máy lọc và xử lý” theo hướng tích cực trong môi trường thông qua tuyên
truyền, giáo dục và những biện pháp cụ thể cấp bách khác như quản lý, pháp
lu
ật là rất cần thiết.
1.1. Ma túy và đặc trưng của tệ nạn ma túy.
Ngay từ xa xưa, do trình độ nhận thức của con người còn thấp, y học chưa
phát triển nên con người chỉ biết sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh. Trong
các loại cây đó có cây thuốc phiện, cây Cần sa và cây Côca. Tuy nhiên sau đó
người ta cũng đã phát hiện tác hại của nó. Ở Việt Nam, thuật ngữ “ma túy” xuất
11
hiện, ban đầu có nghĩa là thuốc phiện. Sau đó ma túy còn là các cây Cần sa và
cây Côca. Có ý kiến cho rằng gọi là “ma túy” bởi vì các chất này có tác dụng
như ma thuật, ma quái, có thể chữa một số bệnh có hiệu quả cao và tăng hưng
phấn hoặc ức chế thần kinh. Nó làm cho con người mê mẩn, ngây ngất, túy lúy.
“Ma túy” là từ ghép của “ma thuật, ma quái và túy lúy”. Trong tiềm thức của
người Việt Nam “ma túy” đồng nghĩa với sự xấ
u xa, tội lỗi
4
.
Thuật ngữ “ma túy” lần đầu tiên, chính thức được quy định tại Điều 203 của
Bộ luật hình sự năm 1985 ‘tội sử dụng chất ma túy”. Điều luật này được thay
bằng Điều 185i “tội sử dụng trái phép chất ma túy” trong Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 10-

12
đồng. Do vậy việc vận chuyển, mua bán, sử dụng chúng phải được quy định chặt
chẽ trong các văn bản pháp luật. Đây là khái niệm có tính khái quát cao, tuy
nhiên vẫn có những điểm chưa triệt để. Chẳng hạn không phải ai sử dụng chất
ma túy cũng bị lệ thuộc mà chỉ những người sử dụng trái phép không theo
hướng dẫn của bác sĩ. Vì vậy, các tác giả Lê Thế Tiệm, Cao Xuân Hồng,
Nguy
ễn Xuân Yêm đều cho rằng: “ma túy là những chất mà người dùng nó một
thời gian sẽ gây ra trạng thái nghiện hay nói một cách khác là trạng thái phụ
thuộc vào thuốc"
6
.
Nghiện ma túy là một trạng thái nhiễm độc theo chu kỳ hay mãn tính có
hại cho cá nhân và xã hội do sử dụng, lạm dụng, lặp đi, lặp lại một chất độc tự
nhiên hay tổng hợp.
Luật phòng, chống ma túy được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 8 thông qua
quy định: “chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định
trong các danh mục do Chính phủ ban hành”.
Khái niệm về chất ma túy, tệ nạn ma túy nêu trên phù hợ
p với Hiến pháp
của nước ta. Điều 61 Hiến pháp 1992 quy định: nghiêm cấm sản xuất, vận
chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy
khác.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội
thông qua ngày 10-5-1997 và Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định các tội
phạm về ma túy. Theo Bộ luật hình sự năm 1999 thì ma túy bao g
ồm: nhựa
thuốc phiện, nhựa cần sa, cây côca; lá, hoa, quả, cây cần sa, lá cây côca; quả
thuốc phiện khô; quả thuốc phiện tươi; heroin, côcain; các chất ma túy khác ở
thể lỏng; các chất ma túy khác ở thể rắn.

động xoá bỏ cây thuốc phiện, cần sa; Chi phí cho công tác tổ chức cai nghiện tại
cộng đồ
ng, xây dựng và quản lý các trung tâm cai nghiện; Chi phí cho hoạt
động kiểm soát ma túy ở biên giới, điều tra truy tố, xét xử tội phạm về ma túy.
Chi phí cho các hoạt động hợp tác Quốc tế trong công tác phòng chống ma túy;
Chi phí về giam giữ cải tạo số người phạm tội về ma túy (hàng năm bắt giữ từ
19.000 - 23.000 người phạm tội về ma túy). Riêng số kinh phí Thành phố chi
cho công tác cai nghiện trong 4 năm qua đã lên tới hơn 1.200 tỷ đồng.
- Tệ
nạn nghiện ma túy ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã
hội. Để có tiền sử dụng ma túy hàng vạn người nghiện đã phạm tội trộm cắp,
cướp của, giết người, buôn bán ma túy Qua thống kê 70% số người nghiện ma
túy có liên quan đến vi phạm pháp luật và tội phạm. Trong số những người bị
bắt hàng năm vì phạm tội, có từ 30 đến 50% số người phạm tội v
ề ma túy.
14
Năm 2007, số người phạm tội về ma túy ở nước ta chiếm hơn 30% số
người phạm tội. Theo thống kê của CATP Hồ Chí Minh, trên địa bàn thành phố
năm 2004 số người nghiện ma tuý phạm tội bị bắt chiếm 16,53% trong tổng số
đối tượng bị bắt, khởi tố. Năm 2005 tỷ lệ người phạm tội về ma túy này chiếm
13,3%.
- Do bị kích thích sau khi sử dụng chất ma túy nhi
ều người đã phạm các
tội như gây rối trật tự công cộng, hiếp dâm, đua xe trái phép, vi phạm luật lệ
giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, v.v
+ Về xã hội:
- Tệ nạn nghiện ma túy làm gia tăng số người bị nhiễm HIV/AIDS. Theo
thống kê đến cuối năm 2007 ở nước ta có 80.000 người nhiễm HIV/AIDS thì
khoảng 70% là do bị lây truyền qua con đường tiêm chích ma túy.
Tệ nạn ma túy tác động làm gia tăng tệ nạn mại dâm, hai t

túy. Nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm
đoạt, sử dụng các chất ma túy cũng như các tiền chất dùng vào việc sản xuất trái
phép chất ma túy.
Năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
đã quy định tội “T
ổ chức dùng các chất ma túy” (Điều 203), trong đó quy định
“Người nào tổ chức dùng trái phép các chất ma túy thì bị phạt tù từ 6 tháng đến
3 năm, tái phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 10 năm”.
Năm 1989, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi và bổ sung Bộ luật hình sự
năm 1985, trong đó bổ sung thêm Điều 96a quy định về Tội sản xuất, tàng trữ,
mua bán, v
ận chuyển trái phép các chất ma túy với hình phạt cao nhất là tù
chung thân hoặc tử hình.
Sau 8 năm áp dụng Bộ luật hình sự (1989 - 1997), tình hình tội phạm về
ma túy ở nước ta có nhiều thay đổi. Tháng 5/1997, Quốc hội đã thông qua Luật
sửa đổi và bổ sung Bộ luật hình sự trong đó quy định các tội phạm về ma túy
thành một chương riêng (Chương VII a) gồm 14 Điều, quy định 13 tội về ma
túy. Trong 13 tội về ma túy, có 9 tội có khung hình ph
ạt cao nhất là tử hình. Bộ
luật hình sự năm 1997 có nhiều điều khoản quy định những hình phạt rất nghiêm
khắc: Buôn bán, vận chuyển trên 100 gram Heroin, trên 5 kg thuốc phiện thì bị
phạt tử hình.
Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy trong tình
hình mới, tháng 12/1999, Quốc hội đã thông qua Bộ luật hình sự trong đó sửa
đổi Chương VIIa Bộ luật hình sự năm 1985 thành Chương 18 quy định 10 tộ
i về
ma túy. Bộ Luật hình sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01/7/2000.
16
Từ những cơ sở pháp lý và lịch sử của pháp luật việt Nam về phòng
chống tệ nạn ma túy, chúng ta có thể rút ra khái niệm về tội phạm ma túy như

đình, chế độ tư hữu của nhà nước - Mác–Ăngghen tuyển tập, tập VI – NXB sự
thật – Hà nội 1984, trang 107).
Moocgan nhà khoa học người Mỹ (1811- 1881) cho rằng “Danh từ chế độ
Hetaia (những quan hệ tính giao ngoài quan hệ vợ chồng, giữa đàn ông và đàn
17
bà chưa chồng) là những quan hệ đó thịnh hành dưới nhiều hình thức hết sức
khác nhau trong suốt thời đại văn minh và dần trở thành tệ nạn mại dâm hơn
của thời đại cộng sản nguyên thuỷ ”
Theo các quan điểm trên thì tệ nạn mại dâm có nguồn gốc phát sinh từ rất
sớm trong xã hội loài người, khi xã hội phân chia thành giai cấp, làm xuất hiện
kẻ giàu người nghèo thì một s
ố phụ nữ do những nguyên nhân khác nhau bắt
đầu hành nghề mại dâm chuyên nghiệp bên cạnh những người khác làm nô lệ
tình dục cho một số tầng lớp trên trong xã hội.
Quan điểm các nhà xã hội học coi mại dâm là những hành vi lệch chuẩn
mực xã hội nhằm thực hiện những dịch vụ quan hệ tình dục có tính chất mua
bán “Mại dâm là hoạt động nhằm cung cấp sự thoả mãn tình dục cho người
khác ngoài phạ
m vi quan hệ vợ chồng và bạn bè. Mại dâm cung cấp tình dục
mang tính đồi trụy và tạo ra không khí vô đạo đức và nguy hiểm, tác dụng như
thuốc kích thích đối với một loại người nhất định ” (Khuất Thu Hồng: mại dâm
- lịch sử hình thành và phát triển, kỷ yếu hội thảo khoa học “đổi mới các chính
sách xã hội nhằm khắc phục tệ nạn xã hội trong điều kiện kinh tế th
ị trường” –
Hà nội, 1992).
Từ điển bách khoa Công an nhân dân - năm 2005 định nghĩa mại dâm là
“Kiếm tiền bằng các kiểu quan hệ tình dục (có thể đồng giới tính hoặc khác giới
tính ) với mục đích kiếm sống do hoàn cảnh sống, nghèo khó, không có việc
làm hoặc để thoả mãn lối sống buông thả, sa đọa. Mại dâm là một tệ nạn xã hội
phức tạp có nguy cơ làm lây lan các bệnh hoa liễu, hội ch

Như vậy chúng ta có thể rút ra khái niệm về tệ nạn mạ
i dâm: “Tệ nạn mại
dâm là tình trạng mua dâm, bán dâm, tội phạm về mại dâm và các hành vi trái
phép khác về mại dâm”.
Ở đây cũng cần phân biệt tệ nạn mại dâm với những quan hệ tình dục
khác. Mại dâm gắn liền với yếu tố lợi ích vật chất, phải có sự mua, bán tình dục
giữa hai người, trên cơ sở lợi ích vật chất cho người bán và thoả mãn nhu cầu
tình dục cho người mua. Nếu m
ột người nào đó có quan hệ tình dục, giao cấu
với nhiều người khác do lối sống buông thả hay chỉ để thoả mãn sở thích cá
nhân mà những quan hệ tình dục đó không có yếu tố mua, bán thì không coi là
mại dâm. Tuy nhiên ở một góc độ nào đó những quan hệ tình dục này cũng có
thể coi là một loại tệ nạn xã hội vì nó trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc
Việt Nam và nó cũng gây nên những hệ quả nghiêm tr
ọng đến nhiều mặt của đời
sống xã hội.
Tệ nạn mại dâm đã xuất hiện và tồn tại từ rất sớm trong xã hội loài người
và hiện nay vẫn đang có xu hướng phát triển phức tạp. Mại dâm, theo quan niệm
thông thường đó là việc mua, bán dâm giữa nam và nữ, người mua dâm thường
là nam giới còn người bán dâm là nữ giới. Nhưng ngày nay, mại dâm không
19
còn phân biệt theo giới tính, hiện tượng nam bán dâm đang là một thực tế ở một
số thành phố lớn mà thời gian qua các phương tiện thông tin đại chúng đã phản
ánh rất nhiều, đối tượng bán dâm không chỉ là nữ giới mà còn là nam giới. Nếu
hiểu khái niệm mại dâm theo nghĩa rộng hơn thì tệ nạn mại dâm đồng tính cũng
đang dần trở nên phổ biến ở một số địa bàn nhấ
t định.
Có thể thấy từ trước đến nay tệ nạn này đã và đang tồn tại trong mọi thể
chế chính trị ở những mức độ khác nhau, cùng đồng hành với nó là các loại tệ
nạn xã hội, là cơ sở xã hội của tình trạng phạm tội và các tiêu cực khác, gây nên

lạc đã coi mua dâm là một việc bình thường trong cuộc sống. Một số kẻ buôn
lậu, cán bộ thái hóa biến chất, tham nhũng Đã coi việc mua dâm gái còn trinh
là thú ăn chơi và tìm mọi cách để đạt được. Chính vì vậy tệ nạn mại dâm lại có
cơ hội phát triển.
Vậy nguyên nhân, điều kiện nào để loại tệ nạn này tồn tại và phát triển?
Do điều kiện về kinh tế - xã hộ
i? Do tư tưởng chính trị - xã hội? Do điều kiện
văn hoá, giáo dục - xã hội? Do tâm lý - xã hội? Hay là do những nguyên nhân và
điều kiện về tổ chức quản lý xã hội chưa có hiệu quả?
Trả lời các câu hỏi trên là điều không đơn giản. Ngày nay điều kiện kinh
tế - xã hội của chúng ta đã có sự phát triển đáng kể và đang từng bước tiến đến
một xã hội v
ăn minh. Theo lôgíc của sự phát triển thì tệ nạn xã hội nói chung và
tệ nạn mại dâm nói riêng phải dần được loại trừ ra khỏi đời sống. Nhưng ngược
lại nó vẫn phát triển lan rộng dưới những hình thức tinh vi, đa dạng hơn, gây ảnh
hưởng và nguy hiểm cho toàn xã hội. Một đặc điểm đáng chú ý là tệ nạn mại
dâm ngày nay đang phát triển theo chiều hướng thành tội phạm có tổ
chức, đã
hình thành những đường dây, những động chứa mại dâm ở quy mô lớn có liên
quan trực tiếp đến bọn tội phạm, hoạt động tương đối chặt chẽ, thống nhất và có
biểu hiện hình thành các đường dây mại dâm xuyên biên giới.
Đấu tranh ngăn chặn tệ nạn mại dâm là một nhiệm vụ quan trọng, cấp
bách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay nhằm góp phần bảo vệ truy
ền thống văn
hoá tốt đẹp và bản sắc của dân tộc, danh dự, nhân phẩm của con người, hạnh
phúc gia đình, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, xây
dựng và phát triển con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.2.2 - Những quy định của pháp luật Việt Nam về tội phạm mại dâm và
tệ nạn.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1975), Tình hình kinh tế,

9 của Sắc luật 03-SL có nêu: “Các toà án thuộc tỉnh, thành phố phía Bắc cũng
có thể áp dụng thống nhất điều khoản này vì đối với một số tội nói trên, toà án
phía Bắc cho
đến nay mới chỉ căn cứ vào án lệ, vào đường lối chính sách chung
để xử lý (như các tội du đãng, càn quấy, tổ chức ổ mãi dâm )”.
Như vậy, với Sắc luật số 03 - SL ngày 15/3/1976 của Chính phủ cách
mạng lâm thời Cộng hoà Miền nam Việt Nam và Chỉ thị số 54/CT - TATC ngày
6/7/1977 của Toà án nhân dân tối cao thì cả nước ta đã có một văn bản pháp luật
chính thức quy định hành vi “Tổ chức ổ mại dâm”
là tội phạm hình sự. Tuy
nhiên cũng cần thấy rằng pháp luật trong giai đoạn này chưa được hoàn chỉnh,
Sắc luật 03-SL chỉ mới nêu lên tên các tội danh và mức hình phạt chung cho
nhiều tội khác nhau mà chưa nêu lên các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể,
các trường hợp phạm tội cụ thể Nhưng nó đã có tác dụng rất lớn trong công tác
đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã h
ội, tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa, tăng cường sự quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần ổn định
tình hình an ninh trật tự trong giai đoạn đầu sau giải phóng.
22
+ Giai đoạn từ năm 1985 đến nay:
Những năm qua đất nước ta đang chuyển từ nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ mặt đất nước về kinh tế, chính trị, xã hội đã có
những thay đổi vượt bậc. Tuy vậy trong xã hội vẫn còn bộc l
ộ những mặt khiếm
khuyết như: Những bức xúc và gay gắt trong xã hội chưa được giải quyết tốt, cơ
chế chính sách pháp luật còn thiếu, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm, sự tác động
của mặt trái kinh tế thị trường, diễn biến của các loại tội phạm có chiều hướng
phức tạp. Đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉ
nh, đặc biệt

dâm, tội môi giới mại dâm chưa đầy đủ, không sát với thực trạng của tệ nạn mại
dâm đang diễn ra, những hành vi phạm tội cụ thể chưa được quy định rõ ràng.
Đặc biệt là hình phạt quy định chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội, còn quá nhẹ, chưa đủ
sức trừng phạt, răn đe, giáo dục các đối
tượng. Do vậy qua bốn lần sửa đổi vào các năm 1987, 1989, 1991, 1997, Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã được Quốc hội khoá IX, kỳ
họp thứ 11 thông qua ngày 10/05/1997, trong đó Điều 202 “tội chứa mại dâm,
tội môi giới mại dâm” được bổ sung theo hướng tăng nặng hình ph
ạt.
Đặc biệt luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 1997 đã quy định thêm một tội
danh mới để xử lý những đối tượng là người mua dâm tại Điều 202a. "Tội mua
dâm người chưa thành niên”:
Mặc dù đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa đáp ứng tình
hình thực tế, Bộ luật hình sự vẫn cần phải tiếp tục hoàn thi
ện. Đến ngày
21/12/1999, tại kỳ họp thứ sáu quốc hội (khoá X) đã thông qua bộ luật hình sự
năm 1999. Bộ luật hình sự năm 1999 là bước phát triển mới trong công tác lập
pháp về hình sự của nhà nước ta. Bộ luật này đã sửa đổi, bổ sung một cách cơ
bản, toàn diện Bộ luật hình sự năm 1985, phù hợp với yêu cầu thực tiễn đấu
tranh phòng ngừa và chống tội ph
ạm trong giai đoạn mới. Các hành vi liên quan
mại dâm đã được Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định thành ba tội phạm cụ thể,
đó là:
- “Tội chứa mại dâm”(Điều 254).
- “Tội môi giới mại dâm” (Điều 255).
- “Tội mua dâm người chưa thành niên” (Điều 256).
Ngoài các tội phạm về mại dâm được quy định trong Bộ luật hình sự,
Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành rất nhiều văn b
ản quy phạm pháp luật

“ Xử phạt thật nghiêm người chứa chấp, dụ dỗ, dẫn mối gái mại dâm
dưới mọi hình thức ở mọi nơi như khách sạn, nhà nghỉ, vũ trường theo luật
hình sự ”
- Nghị định số 53/CP ngày 28/6/1994 của Chính phủ quy định các biện
pháp xử lý đối với cán bộ viên chức nhà nước và những người có hành vi liên
quan đến mại dâm, ma tuý, cờ bạc và say rượu, bê tha.
- Nghị định số 87/CP ngày 12/12/1995 của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực ANTT.
- Chương trình hành động phòng chống mại dâm giai đoạn 2001- 2005
ngày 28/12/2000 của Chính phủ nêu rõ các chủ trương biện pháp kiên quyết đấu
tranh với tệ nạn mại dâm.
25

Trích đoạn Hiệu quả về kinh tế: Hiệu quả về kinh tế: Bài học kinh nghiệm thành cơng trong thực hiện Đề án: Nhận xét, đánh giá và một số bài học kinh nghiệm trong thực hiện Pháp lệnh phịng chống mại dâm của thành phố Hồ Chí Minh: Phương hướng, nhiệm vụ chung về phịng chống tội phạm,và tội phạm ma túy, mại dâm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong th ờ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status