tiểu luận môn tài chính doanh nghiệp quy trình hoạch định cấu trúc vốn trong thực tiễn - Pdf 25

Nhóm4-NH Đêm 4-K21 TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
I. Giả định và các lý thuyết mở đầu
Trước khi đi vào nghiên cứu quyết định thực hành cấu trúc vốn, chúng tôi nhắc lại
một số nội dung chính mang tính chất hệ thống liên quan đến quyết định cấu trúc vốn.
- Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài
hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư
của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn tối ưu xảy ra ở điểm mà tại đó tối thiểu hóa chi phí sử
dụng vốn, tối thiều hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
(i) Tối đa hóa EPS,
(ii) Tối thiểu hóa rủi ro,
(iii) Tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn.
- Giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn nếu có các thị trường vốn hoàn hảo và
không có thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Với sự hiện diện của thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí phá sản và chi phí đại lý, có thể
có một cấu trúc vốn tối ưu gồm cả nợ và vốn cổ phần thường.
- Phân tích EBIT-EPS là một kỹ thuật phân tích có thể được dùng để xác định các tình
huống mà một doanh nghiệp nên sử dụng dòn bẩy tài chính. Điểm hòa vốn EBIT trong
phân tích EBIT-EPS là mức EBIT ở đó thu nhập mỗi cổ phần đều giống nhau, bất kể cấu
trúc vốn nào trong các cấu trúc vốn được chọn lựa để áp dụng.
- Các yếu tố khác cần được xem xét khi thiết lập một chính sách cấu trúc vốn là các tiêu
chuẩn ngành, yều cầu của nhà cho vay, sự không thích rủi ro quản lý, và ước muốn của
các chủ nhân muốn nắm giữ quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Cấu trúc vốn chỉ là một phần của cấu trúc tài chính, tiêu biểu cho các nguồn
thường xuyên của tài trợ một doanh nghiệp.
Môn: Tài chính doanh nghiệp Trang 1
Nhóm4-NH Đêm 4-K21 TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
Cấu trúc vốn tối ưu là một hỗn hợp nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần
thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp. Với một
cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa, tổng giá trị các chứng
khoán của doanh nghiệp được tối đa hóa. Do đó, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn tối
thiểu được gọi là cấu trúc vốn tối ưu.

sử dụng ít nợ. Một số nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ đòn bẩy tài chính trong cấu trúc vốn
có tương quan phủ định với tần suất phá sản trong ngành. Cũng có chứng cứ cho rằng các
doanh nghiệp phát sinh dòng tiền ổn định qua chu kỳ kinh doanh có khuynh hướng có tỷ
lệ đòn bẩy tài chính cao hơn. Nói chung các doanh nghiệp có khuynh hướng tập trung sát
tỷ lệ nợ của ngành, có thể phản ánh sự kiện phần lớn rủi ro kinh doanh mà 1 doanh
nghiệp gặp phải là do ngành hoạt động ấn định. Một doanh nghiệp chấp nhận cấu trúc
vốn khác biệt lớn với mức bình quân ngành sẽ phải thuyết phục các thị trường tài chính là
rủi ro kinh doanh của mình cũng sẽ khác biệt đáng kể với rủi ro của một doanh nghiệp
trung bình trong ngành để đảm bảo cho cấu trúc vốn khác biệt này. Tóm lại, các nghiên
cứu về tác động của ngành hoạt động đối với cấu trúc vốn thường đi tới kết luận là có
một cấu trúc vốn tối ưu cho các doanh nghiệp cá thể. Thị trường sẽ tưởng thưởng cho các
doanh nghiệp đạt được cấu trúc vốn này.
2. Tác động của tín hiệu:
Ross lập luận rằng những tín hiệu do các thay đổi cấu trúc vốn cung cấp là đáng
tin cậy vì nếu các dòng tiền tương lai không xảy ra, doanh nghiệp phải chịu số tiền phạt
tức chi phí phá sản có thể có. Các nghiên cứu đều cho rằng các cung ứng chứng khoán
mới đưa tới các đáp ứng về giá giảm. Việc mua lại cổ phần thường là sẽ đưa tới các lợi
nhuận được công bố dương lớn từ cổ phần thưởng của doanh nghiệp. Các hoạt động làm
tăng đòn bẩy tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần dương và các hoạt động giảm
đòn bẩy tài chính gắn với thu nhập cổ phần âm.
Môn: Tài chính doanh nghiệp Trang 3
Nhóm4-NH Đêm 4-K21 TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
Kết quả của nhiều nghiên cứu về thay đổi cấu trúc vốn luôn nhất quán với các tác
động trực tiếp của thay đổi, chẳng hạn như các lợi ích của tấm chắn thuế lớn hơn, và với
cả các tác động thông tin gián tiếp.
Vì vậy, một khi doanh nghiệp thực hiện quyết định thay đổi về cấu trúc vốn
doanh nghiệp phải chú ý đến tín hiệu có thể về các viễn cảnh thu nhập tương lai và hiện
tại của doanh nghiệp cũng như các dự định của các giám đốc mà giao dịch được đề xuất
sẽ chuyển đến thị trường.
3. Tác động của ưu tiên quản trị: Lý thuyết trật tự phân hạng

của các mua lại bằng vốn vay:
• Có phải việc duy trì số lượng nhân viên và các cơ sở hoạt động không hiệu quả làm giảm
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác là vì lợi ích lâu dài của
nhân viên hay không?
• Trong các giao dịch mua lại bằng vốn vay, các trái chủ có thực sự bị thiệt hại, khi tính
đến các điều khoản bảo vệ trong hợp đồng ký kết lúc họ mua trái phiếu với mối liên hệ
giữa lợi tức trái phiếu và thỏa hiệp bảo vệ không?
6. Các đòi hỏi của nhà cho vay và cơ quan xếp hạng trái phiếu
Các nhà cho vay và các cơ quan xếp hạng trái phiếu thường định ra giới hạn cho
việc lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp như là một điều kiện để cung cấp tín dụng
hay duy trì bảng xếp hạng của trái phiếu hoặc cổ phần ưu đãi
7. Sự không thích rủi ro của cấp quản lý
Việc cấp quản lý có sẵn lòng chấp nhận rủi ro hay không thường tác động lớn đến
cấu trúc vốn mà doanh nghiệp lựa chọn. Một vài giám đốc chấp nhận cấu trúc vốn có
nhiều rủi ro một cách khác thường hoặc ở một mức rủi ro thấp khác thường. Khi một cấu
trúc vốn dưới tối ưu được lựa chọn, thị trường tài chính sẽ phạt doanh nghiệp vì lựa chọn
này.
III. Phân tích mất khả năng chi trả tiền mặt
Các tỷ số khả năng thanh toán lãi vay và khả năng thanh toán các chi phí tài chính
cố định cung cấp cho ta một chỉ dẫn của khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán lãi
vay và các chi phí tài chính cố định khác (bao gồm thanh toán phí thuê tài sản, thanh toán
quỹ hoàn trái và cổ tức ưu đãi) của một doanh nghiệp từ lãi trước thuế và lãi vay thường
Môn: Tài chính doanh nghiệp Trang 5
Nhóm4-NH Đêm 4-K21 TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
xuyên.
Bên cạnh đó, còn có các tỷ số khả năng thanh toán( khả năng thanh khoản ), như
tỷ số khả năng thanh thanh toán hiện hành và tỷ số khả năng thanh toán nhanh. Các tỷ số
này cho ta một cách đo đơn giản khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của một doanh nghiệp,
nhất là trong thời hạn ngắn sắp đến.
Các tỷ số trên không cho ta một hình ảnh đầy đủ về vị thế khả năng thanh toán của

Giả dụ, giám đốc tài chính dự báo rằng dòng tiền tự do là 210 triệu đô la trong kỳ suy
thoái dự kiến 1 năm. Với cấu trúc vốn hiện tại, gồm khoảng 32 % nợ, số dư tiền mặt vào
cuối kỳ suy thoái sẽ là:
CB
R
= CB
0
+ FCF
R
= 154 + 210 = 364 triệuđô la
Giả dụ rằng ban quản lý của AMAX đang xem xét một thay đổi trong cấu trúc
vốn, sẽ làm tăng thêm 280 triệu đô la tiền lãi sau thuế hàng năm và chi trả quỹ hoàn trái.
Lúc này, số dư tiền mặt vào cuối kỳ suy thoái sẽ là:
CB
R
= 364 – 280 = 84 triệu đô la
Các giám đốc tài chính của AMAX phải quyết định xem số dư tiền mặt dự kiến 84
triệu đô la này có tạo một khoảng cách đủ an toàn trong một kỳ suy thoái hay không?
Giả sử rằng các giám đốc của AMAX, qua kinh nghiệm trong quá khứ, tin gần các
dòng tiền tự do được phân phối gần chuẩn với giá trị dự kiến trong kỳ suy thoái một năm
là 210 triệu đô la và một độ lệch chuẩn 140 triệu đô la, họ có thể tính được xác suất cạn
tiền mặt nếu vay thêm nợ mới.
Môn: Tài chính doanh nghiệp Trang 7
Nhóm4-NH Đêm 4-K21 TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
Xác suất cạn tiền mặt bằng với xác suất kết thúc suy thoái với số dư tiền mặt bị âm.
Phân phối xác suất số dư tiền mặt của AMAX có cùng dạng xấp xỉ chuẩn với một độ lệch
chuẩn là 140 triệu đô la với phân phối xác suất của các dòng tiền tự do. Phân phối chuẩn
của số dư tiền mặt của doanh nghiệp có giá trị trung bình là 84 triệu đô la.
Ta có :
= -0.60

chính ở nơi khác đăng ký cổ phiếu ở thị trường chứng khoán trong nước mình. Do đó,
một công ty đa quốc gia có thể sẽ quyết định vay vốn qua phát hành trái phiếu hay vay
ngân hàng thay vì phát hành cổ phiếu ở nước này. Do bị buộc phải sử dụng tài trợ vốn
vay ở đây, công ty đa quốc gia này có thể đi chệch với cấu trúc vốn mục tiêu, do đó có
thể phải gia tăng chi phí sử dụng vốn toàn bộ. Công ty này có thể bù trừ việc tập trung
vào nợ bằng cách sử dụng việc tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần ở một vài nước chủ
nhà khác cho phép cổ phiếu của công ty được đăng ký ở thị trường chứng khoán địa
phương nước họ.
Ví dụ 2: Quốc gia cho phép công ty đa quốc gia phát hành cổ phiếu ở đó và đăng
ký cổ phiếu ở thị trường chứng khoán địa phương. Nếu dự án sẽ được thực hiện ở nước
đó sẽ không phát sinh đủ dòng tiền ròng cho 5 năm, trường hợp này, việc tài trợ bằng vốn
cổ phần thấp hay không trả, công ty có thể tránh được bất cứ luồng tiền chi ra lớn nào
trong 5 năm tới. Hoặc công ty có thể xem xét phát hành trái phiếu không lĩnh lãi hàng
năm nếu luật thuế của nước chủ nhà không ngăn cản các nhà đầu tư đầu tư vào các trái
phiếu như thế.
Ví dụ 3: Một công ty đa quốc gia muốn nhận nguồn tài trợ từ nước đang có rối
loạn chính trị. Việc sử dụng vôn vay ngân hàng địa phương sẽ thích hợp nhất, vì các ngân
hàng này có thể ngăn không để các điều kiện chính trị ảnh hưởng đến hoạt động của công
ty. Nếu các ngân hàng địa phương là chủ nợ, việc bảo đảm cho các hoạt động của công ty
đa quốc gia phát sinh đủ lợi nhuận để thanh toán nợ cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của họ.
Các thí dụ này minh họa lựa chọn của công ty đa quốc gia về tỷ lệ tài trợ vốn vay so với
vốn cổ phần có thể bị ảnh hưởng thế nào bởi các đặc điểm của nước mà công ty này sẽ
nhận tài trợ.
Môn: Tài chính doanh nghiệp Trang 10
Nhóm4-NH Đêm 4-K21 TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
Nguồn vốn lý tưởng của mỗi nước sẽ không nhất thiết đủ để phù hợp với cấu trúc
vốn mục tiêu toàn cầu. Tuy nhiên, hỗn hợp vốn vay và tài trợ vốn cổ phần của công ty mẹ
ở nước mình (nơi mà công ty có sự linh động trong việc sử dụng bất cứ loại nào) có thể
được điều chỉnh để đạt cấu trúc vốn mục tiêu toàn cầu.
Chiến lược bỏ qua cấu trúc vốn mục tiêu “địa phương” cho cấu trúc vốn mục tiêu

khi các đặc điểm khác lại có thể lợi cho một cấu trúc vốn thâm dụng vốn cổ phần.
+ Một cấu trúc vốn thâm dụng nợ có lợi cho doanh nghiệp có dòng tiền vào ròng
ổn định vì các doanh nghiệp này có thể trang trải các khoản nợ bằng các dòng tiền thu
vào này. Các công ty đa quốc giathường đa dạng hóa theo khu vực địa lý rất cao, và sự đa
dạng hóa này làm giảm bất kỳ một yếu tố riêng lẻ nào đối với dòng tiền ròng. Vì vậy, một
công ty đa quốc gia có thể sử dụng một khối lượng vốn vay làm phần tram vốn của mình
lớn hơn so với một doanh nghiệp hoàn toàn nội địa.
+ Một đặc điểm khác củ công ty đa quốc gia có thể làm dòng tiền của công ty này
dễ bị biến động hơn dòng tiền của một doanh nghiệp nội địa. Vd: thuế khoán của các
nước chủ nhà và sự thay đổi theo thời gian của các luật lệ này. Hay chính phủ một nước
chủ nhà có thể bược các công ty con giữ lại tất cả thu nhập trong nước, trường hợp này
tiền chuyển về công ty đa quốc gia mẹ có thể bị sụt giảm , do đó gây bất ổn dòng tiền từ
góc nhìn của công ty đa quốc gia mẹ. Điều này làm ảnh hưởng đến khả năng chi trả lãi
vay định kỳ cho các chủ nợ. Vì lý do này chúng ta có thể lập luận rằng các công ty đa
quốc gia nên duy trì chung một cấu trúc thâm dụng vốn cổ phần. Tuy nhiên, môt công ty
đa quốc gia đa dạng hóa cao sẽ có các công ty con rải rác quanh thế giới , hành động của
chính phủ nước nào đó chỉ ảnh hưởng đến lượng tiến phát sinh của các công ty con ở
quốc gia đó mà thôi. Bên cạnh đó, nếu phần vốn vay này được vay tại quốc gia các công
ty con của các công ty đa quốc gia này hoạt động thì phần thanh toán nợ sẽ do các công
ty này đảm nhiệm, ngay cả khi quốc gia chủ nhà ngăn cấm việc chuyển tiền về công ty
mẹ.
+ Các công ty đa quốc gia chịu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái nên dòng tiền ròng
của học có thể bất ổn hơn. Vd: khi đồng USD tăng giá, một công ty đa quốc gia đặt trụ sở
tại Mỹ sẽ có xu hướng thích các công ty con của họ giữ lại thu nhập để tái đầu tư ở các
Môn: Tài chính doanh nghiệp Trang 12
Nhóm4-NH Đêm 4-K21 TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
nước đó vì thu nhập từ nước ngoài sẽ không có giá trị nếu chuyển đổi sang đồng đô la
nếu giá trị đồng đô la quá cao. Nếu cấu trúc vốn của công ty mẹ không phải là thâm dụng
nợ thì sẽ linh hoạt họn trong việc cho phép thu nhập ở nước ngòai được giữ lại. Nếu cấu
trúc vốn công ty mẹ không phải là thâm dụng nợ, công ty này sẽ linh hoạt hơn trong việc

định EPS, dựa vào EPS ra quyết định chọn hoặc loại phương án trên cơ sở
phương án được chọn khi được đánh giá là tốt
• Nếu công ty xem xét lựa chọn từ hai phương án trở lên
 Tính EBIT hòa vốn của các phương án
 Vẽ đồ thị EBIT, EPS của các phương án
 Dựa vào đồ thị ra quyết định chọn phương án tài trợ trên cơ sở phương án
được chọn phải là phương án tốt nhất
4. Bước 4: Với mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro. Dùng phân phối chuẩn (điểm z) đo lường các
khả năng xảy ra tình trạng không tốt hoặc xấu cho phương án đã chọn ở bước 3.
+ Nếu công ty xem xét duy nhất một phương án tài trợ thì ở bước này chỉ cần đánh
giá một khả năng, đó là khả năng phương án đã chọn bị xấu. Nếu xác suất xảy ra tình
trạng này cùa phương án đã chọn ở bước 3 cao, nhà đầu tư không có niềm tin vào phươgn
án đã chọn ở bước. Thì ở bước này phương án đó có thể bị loại. Ngược lại xác suất xảy ra
tình trạng xấu của phương án đã chọn ở bước 3 nằm trongkhả năng chấp nhận được của
nhà đầu tư thì phương án này tiếp tục được chọn ở bước 4 và quy trình được chuyển
sang bước 5
+ Nếu công ty xem xét lựa chọn từ hai phương án trở lên thì ở bước này phải đánh
giá 2 khả năng
 Khả năng 1: Đánh giá xác suất xảy ra tình trạng PA đã chọn ở bước 3 từ tốt nhất đến
không tốt nhất, so sánh với khả năng chấp nhận tình trạng này của doanh nghiệp.
• Nếu xác suất xảy ra tình trạng này vượt quá khả năng chấp nhận của doanh nghiệp thì
mặc dù PA này được chọn ở bước 3 vẫn bị loại ở bước 4.
• Nếu xác suất xảy ra tình trạng này nằm trong khả năng chấp nhận của doanh nghiệp thì
PA này tiếp tục được chọn ở bước 4. Tiếp tục đánh giá khả năng 2.
 Khả năng 2: Đánh giá xác suất tình trạng PA đã chọn ở bước 3 là xấu
• Nếu xác suất xảy ra tình trạng này vượt quá khả năng chấp nhận của doanh nghiệp thì
mặc dù PA này được chọn ở bước 3 vẫn bị loại ở bước 4
Môn: Tài chính doanh nghiệp Trang 14
Nhóm4-NH Đêm 4-K21 TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
• Nếu xác suất xảy ra tình trạng này nằm trong khả năng chấp nhận của doanh nghiệp thì

lưu hành)
• Vốn điều lệ sau khi phát hành: 370.632.400.000 đồng
Môn: Tài chính doanh nghiệp Trang 15
Nhóm4-NH Đêm 4-K21 TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
• Số cổ phiếu lưu hành: 37.063.240 cổ phiếu
2.3. Mục đích phát hành:
• Tái cơ cấu nguồn vốn (bổ sung vốn lưu động).
• Đầu tư các Dự án mở rộng sản xuất mía - đường.
3. Hoạch định cấu trúc vốn Công ty mía đường Biên Hòa (BHS) năm 2011
Công ty BHS hiện có cấu trúc vốn gồm 18.531.620 CP, công ty đang xem xét mở
rộng quy mô sản xuất, có 2 phương án tài trợ được xem xét lựa chọn.
+ Phương án 1: Phát hành thêm 18.531.620 CP thường ( bằng 100% số CP hiện tại đang
lưu hành)
+ Phương án 2: Tài trợ bằng nợ 185.316.200.000 đồng, lãi suất 16%,
Mệnh giá một cổ phần là 10.000 đồng, thuế suất thuế TNDN 25%.
Dự kiến EBIT đạt được trong tương lai dao động trong biên độ 220 – 240 tỷ đồng. Xác
suất xảy ra EBIT 220 tỷ đồng là 50% và xác suất xảy ra EBIT 240 tỷ là 50%
Qua phân tích đánh giá, Công ty sẵn sàng chấp nhận khả năng 20% phương án đã
chọn không tôt nhất và 5% phương án đã chọn báo cáo lỗ.
Tỷ số nợ trung bình ngành là 36% , khả năng thanh toán lãi vay trung bình ngành 96%
Dựa trên những dữ liệu trên, ta sẽ tiến hành hoạch định CTV cho công ty tại EBIT
dự kiến là 240 tỷ đồng
Bước 1: Xác định EBIT dự kiến
EBIT dự kiến là 240 tỷ đồng
Bước 2: Tính độ lệch chuẩn EBIT
EBIT = =
10 tỷ đồng
Bước 3: Đề xuất phương án tài trợ
Công ty đang xem xét lựa chọn giữa hai phương án:
(1) 100% vốn cổ phần : 18.531.620 CP + 18.531.620 CP

 0< EBIT<59,3 tỷ đồng : chọn (1) vì (1) tốt nhất
 EBIT>59,3 tỷ đồng : chọn (2) vì (2) tốt nhất
Vậy với EBIT dự kiến = 240 tỷ đồng, ta chọn PA (2)
Bước 4: Dùng phân phối chuẩn đo lường
+ Khả năng 1: EBIT dự kiến dao động đi xuống nhỏ hơn EBIT hòa vốn làm cho PA (2)
không tốt nhất
Z = (EBIT
HV
- EBIT
DK
)/
EBIT
= (59,3 - 240)/10 = -18,07
Tra bảng phân phối chuẩn, ta thấy khả năng PA (2) không tốt nhất là 0%. Vậy PA (2) tiếp
tục được chọn.
+ Khả năng 2 : EBIT dự kiến dao động đi xuống nhỏ hơn lãi vay làm cho PA (2) trở nên
xấu
Z = (R - EBIT
DK
)/
EBIT
= (29.650.592.000 – 240 tỷ) /10 tỷ = - 21,03
Tra bảng phân phối chuẩn, ta thấy không có khả năng xảy ra trường hợp PA (2) trở nên
xấu. Vậy PA (2) tiếp tục được chọn.
Môn: Tài chính doanh nghiệp Trang 17
Nhóm4-NH Đêm 4-K21 TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
Bước 5: So sánh rủi ro của công ty khi sử dụng PA (2) với các đối thủ cạnh tranh
cùng ngành
+ Tỷ số Nợ/Tài Sản = 185.316.200.000 / 370.632.400.000 = 50%
So sánh với tỷ số nợ trung bình ngành là 36%. Tuy tỷ số nợ của công ty BHS là

Ta thấy rằng ngay cả khi doanh nghiệp đã đạt được trên điểm hòa vốn EBIT là 240
tỷ đồng thì doanh nghiệp cũng chưa thể xây dựng một CTV có sử dụng đòn bẫy tài chính.
Có thể EPS trong trường hợp sử dụng đòn bẫy tài chính có thể tăng lên nhưng giá cổ
phần lại không tăng hoặc thậm chí có thể giảm. Vậy để biết được mức EBIT mà tại đó
làm tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp, ta sẽ sử dụng kỹ năng xác định điểm
hòa vốn giá trị thị trường.
• Điểm hòa vốn giá trị thị trường được xác định bằng phương trình:
EBIT x (1-T) x P/E
E
/ N
E
= (EBIT- R) x (1-T) x P/E
DE
/ N
DE
Điểm hòa vốn giá trị thị trường là điểm mà tại đó nếu EBIT dự kiến thấp hơn điểm
hòa vốn thị trường thì CTV thiên về sử dụng vốn cổ phần sẽ có lợi hơ. Ngược lại, nếu
EBIT dự kiến vượt qua điểm hòa vốn giá trị thị trường thì CTV thiên về sử dụng đòn bẫy
tài chính sẽ làm tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp.
Vậy tóm lại, phân tích EBIT – EPS chưa cho ta một giải pháp dứt khoát cho vấn đề
CTV tối ưu. Doanh nghiệp có thể gia tăng thu nhập cho cổ đông bằng cách gia tăng mức
rủi ro tài chính. Tuy nhiên, vì gia tăng rủi ro có khuynh hướng làm gia tăng chi phí sử
dụng vốn, giám đốc tài chính phải xem xét việc đánh đổi giữa thu nhập mỗi cổ phần cao
hơn cho các cổ đông với chi phí sử dụng vốn cao hơn, để từ đó đưa ra một quyết định
hiệu quả hơn.
Môn: Tài chính doanh nghiệp Trang 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status