TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP: CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN VÀ TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI - Pdf 16

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN : TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS. Trần Ngọc Thơ
Nhóm thực hiện : Nhóm 3
Lớp : TCDN.Đêm1.K20
Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2012
- 2 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
DANH SÁCH NHÓM 3 - TCDN ĐÊM 1 - K20
HỌ VÀ TÊN ĐƠN VỊ CÔNG TÁC
1. Vũ Trung Dũng
2. Nguyễn Tuấn Đạt
3. Huỳnh Thị Hải Hà
4. Nguyễn Thị Thu Hà
5. Nguyễn Thị Hoa
6. Đặng Thị Hòa
7. Ngô Thị Hân
8. Hà Đức Hiếu
9. Trần Minh Lam
10. Huỳnh Thị Phương Lan
11. Văn Thị Mỹ Ngân
12. Phạm Văn Thường
13. Trần Thị Ánh Tuyết
14. Trần Thị Kim Yến
Ngân Hàng Đầu Tư & Phát Triển
Cty Kiểm Toán Phía Nam

3.2 Sự khác nhau giữa chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi 29
CHƯƠNG 4: TẠI SAO CÁC CÔNG TY PHÁT HÀNH 30
CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN VÀ TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI 30
4.2 Tại sao các công ty phát hành trái phiếu chuyển đổi 32
CHƯƠNG 5: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 34
5.1 Mục đích của bài nghiên cứu 34
5.2 Các lý thuyết có liên quan 34
5.3. Phương pháp nghiên cứu 35
5.4. Kết quả nghiên cứu 35
5.4.1 Xem xét lựa chọn giữa trái phiếu thẳng và trái phiếu chuyển đổi từ đó hé mở
động cơ của các tổ chức phát hành trái phiếu chuyển đổi. 35
Có 3 lý do sau: 35
- 4 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
- 5 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
CHƯƠNG 1: CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN
1.1 Khái niệm chứng chỉ đặc quyền (CCĐQ)
Một tỷ lệ khá lớn các trái phiếu mua bán riêng và một tỷ lệ nhỏ hơn các phát hành ra
công chúng được bán có kèm theo các chứng chỉ đặc quyền. Ngoài ra, đôi khi các chứng
chỉ đặc quyền được bán theo các phát hành cổ phần thường hay cổ phần ưu đãi; chúng
cũng thường được dành cho các ngân hàng đầu tư như một đền bù cho các dịch vụ bao tiêu
hay dùng để đền bù cho các chủ nợ trong trường hợp phá sản
1
.
Ví dụ:
Tháng 4/1995, B.J Service một DN về dịch vụ trong nghành dầu khí, đã phát hành 4,8
 Nếu giá của cổ phần thấp hơn 15$, giới hạn dưới của giá chứng chỉ đặc quyền là 0.
 Nếu giá của cổ phần lớn hơn 15$, giới hạn dưới của giá chứng chỉ đặc quyền bằng với
giá cổ phần trừ giá thực hiện 15$.
 Thực tế vào trước ngày thực hiện cuối cùng thì giá trị của chứng chỉ đặc quyền luôn
nằm phía trên giới hạn dưới trên một đường cong (như hình vẽ). Và mức độ lệch của
đường cong này tùy thuộc vào hai điều:
- Phương sai của lợi nhuận cổ phần mỗi kỳ (σ
2
) nhân với số kỳ trước khi quyền chọn đáo
hạn (s
2
t).
- Lãi suất (rf) nhân với độ dài của kỳ quyền chọn (t) (Khi thời gian đáo hạn càng ngắn,
giá càng tiến về gần với giới hạn dưới, và vào ngày cuối cùng, giá của chứng chỉ đặc
quyền chạm bằng với giới hạn dưới)
- 7 -

Giá trị thực tế của chứng
chỉ đặc quyền khi đáo hạn
Giá trị lý thuyết (giới
hạn dưới của chứng
chỉ đặc quyền)
Giá thực hiện 15$ Giá cổ phiếu
Giá trị của chứng chỉ độc quyền
Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
1.3 Hai vấn đề phức tạp: Cổ tức và loãng giá
Nếu các chứng chỉ đặc quyền không có các đặc trưng bất thường và cổ phần không
chi trả cổ tức, có thể ước tính giá trị của quyền chọn bằng công thức Black-Scholes đã trình


Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
Số cổ phần đang lưu hành (N) 1 triệu
Giá cổ phần hiện hành (S) 12$
Số chứng chỉ đặc quyền được phát hành bởi mỗi cổ phần 0,10
đang lưu hành (q)
Tổng số chứng chỉ đặc quyền đã phát hành (Nq) 100.000
Giá thực hiện của chứng chỉ đặc quyền (EX) 10$
Thời gian đến khi đáo hạn của chứng chỉ đặc quyền (t) 4 năm
Độ lệch tiêu chuẩn hàng năm của thay đổi giá cổ phần (s) 0,40
Lãi suất (r) 10%
Cổ phần United không chi trả cổ tức
Giả dụ là nếu không có các chứng chỉ đặc quyền, nợ trị giá 1,5 triệu đô la. Như vậy các nhà
đầu tư đang phải trả 0,5 triệu đô la cho các chứng chỉ đặc quyền này:
Chi phí cho các CCĐQ = Tổng tài trợ – Giá trị các khoản vay không kèm các CCĐQ
500.000 = 2.000.000 – 1.500.000
Nhà đầu tư phải trả cho mỗi chứng chỉ đặc quyền
Bảng 1.1 - Cho thấy giá trị thị trường của tài sản và nợ của United trước và sau khi phát
hành.
- 9 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
Bảng tổng kết tài sản giá trị thị trường của United Glue (triệu đô la)
TRƯỚC KHI PHÁT HÀNH
Tài sản hiện hữu $16 $4 Nợ vay hiện hữu
$12
Cổ phần thường (một triệu cổ
phần thường với giá mỗi cổ phần
$12)
Tổng cộng $16 $16 Tổng cộng

Gắn các dữ liệu của United vào công thức này, ta có:
d1 = ln [12/(10/1,1
4
)]/(0,4 x ) + 0,4 x
= 1,104
d2 = 1,104 – 0,4 x 0,704
Bảng phụ lục cuối sách cho thấy rằng N(d1) = 0,865 và N(d2) = 0,620.Vì vậy, giá trị ước tính của chứng chỉ đặc quyền
là: 0,865 x 12 – 0,620 x (10/1,1
4
) = 6,15$
- 11 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
chọn mua hay quyền chọn bán, không có thay đổi trong tài sản của công ty hoặc số cổ phần
đang lưu hành. Nhưng, các chứng chỉ đặc quyền của United được thực hiện, số cổ phần
đang lưu hành sẽ tăng thêm Nq = 100.000. Tài sản cũng tăng thêm số tiền thực hiện (Nq x
EX = 100.000 x 10$ = 1.000.000$). Nói cách khác, sẽ có loãng giá. Chúng ta cần khấu trừ
loãng giá này khi định giá các chứng chỉ đặc quyền.
Gọi giá trị của vốn cổ phần của United là V, ta có:
Giá trị của vốn cổ phần = V = Giá trị của tổng tài sản United – Giá trị của nợ
Nếu các chứng chỉ đặc quyền được thực hiện, giá trị vốn cổ phần sẽ tăng thêm số
tiền thực hiện, trở thành V + NqEX. Đồng thời, số lượng cổ phần cũng sẽ tăng đến N + Nq.
Vì vậy, giá cổ phần sau khi các chứng chỉ đặc quyền được thực hiện sẽ là:
Giá cổ phần sau khi thực hiện =
Khi đáo hạn, người nắm giữ chứng chỉ đặc quyền có thể chọn để cho chứng chỉ đặc
quyền hết hạn hoặc thực hiện các đặc quyền này và nhận được giá cổ phần trừ cho giá thực
hiện. Như vậy, giá trị của các chứng chỉ đặc quyền sẽ bằng giá cổ phần trừ cho giá thực
hiện hay trừ cho 0, lấy giá nào cao hơn. Ta có thể viết theo một cách khác là:
Giá trị chứng chỉ đặc quyền khi đáo hạn = Max (Giá cổ phần – giá thực hiện, 0)
= Max ( , 0)

Độ lệch tiêu chuẩn của
tài sản ban đầu=Tỷ lệ trong
cổ phần thườngxĐộ lệch tiêu chuẩn
- 13 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
Công thức Black-Scholes cho ta giá trị của quyền chọn mua cổ phần với giá 12,5$
là 6,64$ và độ lệch tiêu chuẩn là 0,41. Giá trị của chứng chỉ đặc quyền của United bằng giá
trị của 1/(1+q) quyền chọn đối với cổ phần của doanh nghiệp tương ứng này. Như vậy, giá
trị của chứng chỉ đặc quyền là x giá trị của quyền chọn mua đối với doanh nghiệp
tương ứng
= x 6,4 = 6,03$.
Giá trị này hơi thấp hơn giá trị mà chúng ta đã tính được khi bỏ qua không tính đến
loãng giá, nhưng vẫn không có lợi cho United.
Từ những điều vừa đề cập có vẻ giống như bạn cần biết giá trị của các chứng chỉ
đặc quyền của United để tính giá trị của chúng. Không phải như vậy. Công thức không đòi
hỏi giá trị của chứng chỉ đặc quyền mà cần V, giá trị của vốn cổ phần của United (tức là cổ
phần cộng với chứng chỉ đặc quyền). Khi biết được giá trị vốn cổ phần, công thức sẽ tính
được là tổng giá trị vốn cổ phần này sẽ được phân ra bao nhiêu cho cổ phần và bao nhiêu
cho chứng chỉ đặc quyền. Như vậy, giả dụ là nhà bao tiêu của United khuyến cáo là
cổ phần28,5%= x38Bây giờ, giả sử là tài sản sau khi phát hành có rủi ro bằng nhau. Ta có:
Độ lệch tiêu chuẩn của
tài sản sau phát hành=Tỷ lệ trong cổ phần
thường sau phát hànhxĐộ lệch tiêu chuẩn
cổ phần ( *)28,5= x41%Lưu ý là trong thí dụ của chúng tôi, độ lệch tiêu chuẩn của lợi nhuận cổ phần trước khi
phát hành chứng chỉ đặc quyền hơi thấp hơn độ lệch tiêu chuẩn của gói gồm cổ phần và chứng chỉ đặc quyền. Tuy
nhiên, những người nắm chứng chỉ đặc quyền chịu rủi ro này nhiều hơn theo tỷ lệ tương ứng so với các cổ đông, vì
vậy gói trái phiếu – chứng chỉ đặc quyền có thể hoặc làm tăng hoặc làm giảm rủi ro của cổ phần.
- 14 -


chi trả tương đương 38,17$ mỗi cổ phần.
Vào thời điểm phát hành, giá cổ phần của ALZA vào khoảng 28$. Vì vậy, giá
chuyển đổi cao hơn giá cổ phần: 36%.
TPCĐ thường được bảo vệ đối với việc chia nhỏ cổ tức hay chi trả cổ tức bằng cổ
phần . Giả sử ALZA chia cổ tức 1 thành 2, tỷ lệ chuyển đổi sẽ tăng lên 52,4 và giá chuyển
đổi sẽ hạ xuống còn 1000$/52,4 = 19,08$.
2.2 Con thú bằng thủy tinh chuyển đổi
Một trong các loại chuyển đổi bất thường nhất là trái phiếu quyền chọn lãi suất dễ
thanh tiêu (liquid yield option note - LYON). Đây là một loại trái phiếu có thể mua và
bán, có lãi suất coupon bằng 0. Một số doanh nghiệp đã phát hành LYON, trong đó có
ALZA
Năm 1994, ALZA đã phát hành LYON với giá 35,47%; thời hạn 20 năm, lãi suất
coupn bằng 0; có thể chuyển đổi bất kỳ lúc nào thành 12,99 cổ phần. Khi ALZA
phát hành
trái phiếu chuyển đổi này, trái phiếu doanh nghiệp có tỉ suất sinh lợi 10%.
- 16 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
Quyền chọn
1
Các nhà đầu tư chuyển đổi
ngay lập tức hoặc chờ 20 năm
sau mới chuyển đổi
Quyền chọn
2
Bắt đầu năm 1999,
công ty có quyền thu hồi
trái phiếu trước thời hạn
bằng tiền mặt
Quyền chọn

P
5
= 46%
hoặc năm 2004:
P
10
= 60%
hay năm 2009:
P
15
= 77%
Trong quyền chọn bán (quyền chọn thứ 3), ngay cả nếu lãi suất tăng và giá các trái
phiếu khác sụt giảm, những người nắm giữ LYON vẫn có một giá đảm bảo trong 3 năm
này để họ có thể bán trái phiếu của mình. Rõ ràng các nhà đầu tư thực hiện quyền bán sẽ từ
bỏ cơ hội để chuyển đổi trái phiếu của mình thành cổ phần, lợi thế của việc chuyển đổi
đáng được tận dụng khi giá chuyển đổi của trái phiếu thấp hơn giá thực hiện quyền bán
nhiều lần
2.3 Chứng khoán chuyển đổi bắt buộc
Trong những năm gần đây, một số công ty đã phát hành cổ phần ưu đãi hay nợ
được tự động chuyển đổi thành vốn cổ phần sau nhiều năm. Đầu tư vào chứng khoán này,
nhà đầu tư hưởng được lợi tức hiện tại cao hơn cổ đông thường nhưng bị giới hạn về số
cổ phần họ sẽ nhận. Như vậy, họ chỉ được hưởng phần tăng giá của cổ phần thường cho
- 17 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
đến mức giới hạn này. Khi giá cổ phần tăng cao hơn mức giới hạn này, số cổ phần mà
người nắm giữ chứng khoán chuyển đổi nhận được bị giảm theo tỷ lệ tương ứng.
2.4 Định giá trái phiếu chuyển đổi
Chủ sở hữu của một trái phiếu chuyển đổi sở hữu một trái phiếu và một quyền
chọn mua cổ phần của doanh nghiệp. Để thực hiện quyền chọn mua, đòi hỏi người sở hữu

chuyển đổi có thể được đổi lấy 1.000 cổ phần thường và, vì vậy, sẽ có một
giá trị chuyển
đổi là 1.000 x 1 = 1.000 USD.
Trái phiếu chuyển đổi của Kojak cũng không thể bán với giá thấp hơn giá trị
chuyển đổi của nó. Nếu làm như vậy, các nhà đầu tư khôn ngoan sẽ mua TPCĐ, nhanh
chóng đổi nó lấy cổ phần thường và bán cổ phần thường. Lợi nhuận của họ sẽ bằng với
chênh lệch giữa giá trị chuyển đổi và giá của TPCĐ

Hình 2.1 (c)
- 20 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ

Hình 2.1 (c) Lúc đáo hạn, người nắm giữ TPCĐ có thể chọn để nhận chi trả phần
vốn của trái phiếu hay chuyển đổi thành cổ phần thường. Giá trị của TPCĐ, vì vậy, là giá
trị cao hơn của giá trị trái phiếu và giá trị chuyển đổi của nó.
Như vậy, có hai giới hạn dưới của giá của TPCĐ:
• Giá trị trái phiếu
• Giá trị chuyển đổi
- 21 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
2.4.2 Giá trị trước lúc đáo hạn
Chúng ta cũng có thể vẽ một hình tương tự như hình 1.2 khi trái phiếu chuyển đổi
chưa đến đáo hạn. Bởi vì ngay cả các công ty khỏe mạnh sau này cũng có thể bị ốm và
không có khả năng thanh toán cho các trái phiếu của mình, nếu các điều khác giống nhau,
giá trị trái phiếu sẽ thấp hơn khi trái phiếu còn có một khoảng thời gian nào đó trước đáo
hạn. Như vậy giá trị trái phiếu trước đáo hạn được biểu diễn bởi đường cong trong hình 2.2
(a)
Hình 2.2 (a): Trước khi đáo hạn, giá trị trái phiếu của TPCĐ của Kojack gần với giá

cổ đông. Ngược lại, phải phân chia lợi nhuận ròng giữa một số lớn hơn các cổ phần. Và
các công ty bắt buộc phải trình bày trong các báo cáo tài chính của mình việc lợi
nhuận sẽ chịu tác động của việc chuyển đổi này như thế nào.
Bạn cũng phải nhớ là chủ sở hữu các trái phiếu chuyển đổi không được hưởng cổ
tức từ cổ phần thường. Nếu các cổ tức nào cao hơn tiền lãi từ trái phiếu, sẽ có lợi khi
- 24 -

Chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi – Nhóm 3 GVHD: GS-TS Trần Ngọc Thơ
chuyển đổi trước ngày thực hiện cuối cùng để nhận được phần lợi tức tiền mặt tăng thêm.
.2.6 Chuyển đổi bắt buộc
Các công ty thường giữ lại một quyền chọn để mua lại hay “thu hồi theo lệnh gọi”
(tức thu hồi trước khi đáo hạn) TPCĐ với một giá ấn định trước. . Nếu công ty thu hồi trái
phiếu, chủ sở hữu có một thời gian ngắn, thường khoảng 30 ngày, để chuyển đổi trái
phiếu hay bán lại cho công ty. Nếu một trái phiếu được hoàn trả, nhà đầu tư sẽ nhận
được giá thu hồi bằng tiền mặt. Nhưng nếu giữ cổ phần cao hơn giá thu hồi, nhà đầu tư sẽ
chuyển đổi trái phiếu thay vì hoàn trả nó. Như vậy, một thu hồi theo lệnh gọi có thể bắt
buộc chuyển đổi nếu giá cổ phần đủ cao.
Hầu hết, các trái phiếu chuyển đổi đều cung cấp khoảng thời gian không có thu
hồi cho hai hay nhiều năm. Trong thời gian này, công ty không được phép thu hồi trái
phiếu. Tuy nhiên, nhiều trái phiếu chuyển đổi có thể được thu hồi sớm, trước khi chấm
dứt khoảng thời gian không có thu hồi, nếu giá cổ phần tăng đủ cao để cung cấp một
lợi nhuận chuyển đổi khá cao.
Ví dụ:
Một TPCĐ vơi một giá thu hồi theo lệnh gọi 40$ có thể được thu hồi sớm nếu giá cổ
phần giao dịch cao hơn 65$ trong ít nhất là 2 tuần.
Thu hồi trái phiếu trước khi đáo hạn rõ ràng không tác động đến kích cỡ của
chiếc bánh của công ty, nhưng có thể ảnh hưởng đến kích cỡ của những lát bánh của
cá nhân. Vì vậy, nếu muốn tối đa lát bánh của cổ đông, phải tối thiểu hóa lát bánh của
những chủ sở hữu trái phiếu chuyển đổi. Có nghĩa là bạn không thu hồi trước hạn
trái phiếu nếu chúng có giá trị thấp hơn giá thu hồi và cho phép các trái phiếu giữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status