TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN
TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2
Đề tài : CỔ PHIẾU
Người thực hiện: ĐINH ĐỨC DƯƠNG
Lớp: TCNH K10C
Năm học: 2011 – 2012
Tp.HP, ngày 1 tháng 1 năm 2012
1
CHƯƠNG 1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN
1. Ở Việt Nam
- Thời gian đầu Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Tp.HCM chỉ tổ chức 3
phiên giao dịch một tuần, biên độ giao động giá là 2%.
- Ngày 01/03/2002, TTGDCK tăng phiên giao dịch từ 3 phiên lên 5 phiên/tuần
- 08/03/2005 Khai trương trung tâm GDCK Hà Nội.
- Sau đó, Chính phủ ký quyết định 599/QĐ-TTG ngày 11/05/2007 chuyển đổi
Trung tâm giao dịch chứng khoán TP HCM thành Sở giao dịch chứng khoán TP
- 08/08/2007, Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM chính thức khai trương.
- Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCK Hà Nội) được thành lập theo Quyết định
số 01/2009/QĐ-TTG ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
2. Tác động tiêu cực của thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Có lẽ do có quá nhiều lợi điểm khi nền kinh tế có thị trường chứng khoán khiến không ít
người không chú ý đúng mức đến những tác động tiêu cực của thị trường chứng khoán.
Trong thực tế, mặt bất lợi của thị trường chứng khoán cũng không phải ít. Tựu trung,
Những tác động tiêu cực này thể hiện trên bốn điểm chính như sau:
Một là, bằng cách cho phép những người giàu có đầu tư để gia tăng thêm của cải mà
dường như không phải lao động để có, thị trường chứng khoán khuyến khích sự phân
phối của cải bất bình đẳng trong xã hội. Trên phương diện này, có thể xem thị trường
chứng khoán như những sòng bạc hoặc những trường đua ngựa khổng lồ;
-Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu cổ phiếu đối với một công ty cổ phần.
2. Đặc điểm
- Cổ phiếu có bản chất là một công cụ góp vốn (equity instruments) và do các công ty cổ
phần phát hành. Khi cần huy động vốn, công ty cổ phần chia số vốn cần huy động thành
nhiều phần nhỏ bằng nhau, gọi là các cổ phần (share/stock). Người mua những cổ phần
này được gọi là cổ đông (share/stockholder). Với số cổ phần đã mua, các cổ đông được
cấp một giấy chứng nhận sở hữu, giấy này gọi là cổ phiếu.
- Vốn mà công ty cổ phần huy động được từ việc phát hành cổ phiếu được xem là vốn
thuộc sở hữu của công ty. Những cổ đông khi mua các cổ phần của công ty đã thực hiện
việc góp vốn để công ty kinh doanh và do vậy trở thành những người đồng sở hữu công
ty. Tỷ lệ sở hữu công ty phụ thuộc vào số cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Do cổ phiếu
được xem là giấy xác nhận quyền sở hữu của các cổ đông đối với những cổ phần này nên
có thể coi cổ phiếu là chứng chỉ xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu về số vốn mà một
cổ đông góp vào công ty cổ phần.
- Là người chủ sở hữu công ty, các cổ đông có những quyền cơ bản sau đây:
• Quyền tham gia quản lý công ty: Quyền này được thực hiện bằng cách các cổ đông bầu
ra một Hội đồng quản trị để thay mặt mình quản lý, điều hành công ty. Các cổ đông
không chỉ có quyền bầu ra Hội đồng quản trị (Board of Directors) mà còn có thể tham gia
ứng cử làm thành viên của Hội đồng quản trị. Số lượng phiếu bầu tỷ lệ với số lượng cổ
phần mà cổ đông nắm giữ. Do vậy những người nắm giữ càng nhiều cổ phần của công ty
thì càng có nhiều khả năng trở thành thành viên của Hội đồng quản trị. Ngoài ra, hàng
năm công ty còn tổ chức Đại hội cổ đông (Annual shareholder meetings) để họp các cổ
đông lại, bàn về các chiến lược hoặc kế hoạch kinh doanh lớn của công ty.
3
• Quyền sở hữu tài sản ròng39 của công ty: Các cổ đông sở hữu công ty theo tỷ lệ cổ
phần nắm giữ. Do vậy, khi tài sản ròng của công ty tăng lên do làm ăn có lãi, giá trị các
cổ phần mà cổ đông nắm giữ cũng tăng lên theo. Khi công ty cổ phần ngừng hoạt động,
cổ đông được tham gia phân chia tài sản còn lại của công ty.
Ví dụ: Tổng tài sản ban đầu của một công ty cổ phần là 10 tỷ VNĐ. Một cổ đông
mệnh giá 10.000 đ/cổ phiếu. Sau 5 năm hoạt động, giá trị tài sản ròng của công ty
theo sổ sách kế toán là 1 tỷ đồng. Khi đó giá trị của mỗi cổ phần theo sổ sách sẽ là
20.000 đ, ta nói giá trị ghi sổ của cổ phiếu công ty bây giờ là 20.000 đ/cổ phiếu.
4
Giá trị thị trường (Market value): là giá cả của cổ phiếu khi mua bán trên thị
trường.
3 Phân loại cổ phiếu
a. Căn cứ vào hình thức phát hành, cổ phiếu có hai loại: cổ phiếu vô danh và cổ phiếu ký
danh.
Lúc mới ra đời cổ phiếu tồn tại dưới dạng ký danh có ghi tên người sở hữu nó, sau này
khi thị trường cổ phiếu phat triển loại cổ phiếu này gây trở ngại cho việc lưu thông và
chuyển nhượng cổ phiếu. Do đó, loại cổ phiếu vô danh không ghi tên người sở hữu ra đời
và ngày càng phổ biến.
b. Căn cứ vào quyền lợi được hưởng, cổ phiếu có hai loại: cổ phiếu thường (hay cổ phiếu
phổ thông) và cổ phiếu ưu đãi.
Cổ phiếu thường hay cổ phiếu phổ thông (Common stock): có mức cổ tức phụ
thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Vì vậy, cổ đông mua loại cổ phiếu này rất
quan tâm đến hoạt động của công ty và họ thường là những người đứng đầu trong ban
quản trị chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của công ty. Giá cũng biến động nhiều
hơn so với cổ phiếu ưu đãi.
- Là loại cổ phiếu có đầy đủ các đặc trưng đã nêu trên của cổ phiếu. Đó là:
• Không qui định trước số cổ tức cổ đông sẽ nhận được. Giá trị cổ tức nhiều hay ít còn
tuỳ vào tình hình lợi nhuận của công ty và kế hoạch chia lợi nhuận của Hội đồng quản trị.
Trong trường hợp công ty làm ăn thua lỗ thì chẳng những cổ tức không được chia mà cổ
đông còn bị hao hụt về vốn góp. Nguyên tắc của các cổ đông cổ phiếu thường là “lời ăn,
lỗ chịu”.
• Chỉ được chia lãi sau khi công ty đã thanh toán lãi trả cho những người nắm trái phiếu
và cổ phiếu ưu đãi.
• Thời hạn cổ phiếu là vô hạn.
• Được hưởng quyền tham gia quản lý công ty cùng các quyền khác nhằm duy trì quyền
giữ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết (CPUĐBQ). Không giới hạn hiệu lực về mặt thời gian
nhưng các cổ đông sáng lập (CĐSL) có giới hạn trong thời gian 3 năm sẽ chuyển đổi
thành CPPT và cũng có thể do đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) quyết định.
Hạn chế: không được chuyển nhượng.
♦ CPƯĐ cổ tức: là CP được trả cổ tức cao hơn cổ tức của CPPT hoặc mức ổn định
hằng năm (cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi CP bằng tiền mặt hoặc
bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện các
nghĩa vụ tài chính khác). Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức
thưởng thì được ghi trên CP của cổ phiếu ưu đãi cổ tức (CPƯĐCT). CĐƯĐCT được
ưu tiên thanh toán giá trị tài sản còn lại trước CĐPT và CĐƯĐBQ sau khi công ty đã
thanh toán hết cho chủ nợ và cổ phiếu ưu đãi hoàn lại (CĐƯĐHL) trong trường hợp
công ty giải thể hoặc phá sản.
Hạn chế: CĐƯĐCT không có quyền biểu quyết, họ không tham gia vào ĐHĐCĐ.
♦ CPƯĐ hoàn lại: loại CP này dành cho CĐ sở hữu chúng quyền được rút vốn ra
khỏi công ty bất kì lúc nào hoặc theo điều kiện ghi trên CP. Có thể chuyển nhượng
hoặc bán CP lại cho công ty.
Hạn chế: tuy có thể chuyển nhượng tự do nhưng không được rút vốn, CĐƯĐHL
không có quyền biểu quyết, không được tham gia vào ĐHĐCĐ và không có quyền đề cử
người vào HĐQT và ban kiểm soát.
c. Căn cứ vào phương thức góp vốn, cổ phiếu có hai loại: cổ phiếu hiện kim và cổ phiếu
hiện vật
Cổ phiếu hiện kim dành cho những cổ đông góp vốn bằng tiền, cổ phiếu hiện vật dành
cho những cổ đông góp vốn bằng tài sản như may móc, thiết bị, nhà xưởng…
d. Căn cứ vào hình thức phát hành và lưu hành:
- Cổ phiếu được phép phát hành
- Cổ phiếu đã phát hành
- Cổ phiếu quỹ
- Cổ phiếu đang lưu hành
6
4.CHỨC NĂNG CỦA CỔ PHIẾU
bản là "tiền có giá trị theo thời gian, một đồng tiền của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn
một đồng tiền của ngày mai, một đồng đầu tư vào trong doanh nghiệp (DN) này có mức
sinh lời khác với một đồng đầu tư trong DN khác. Do đó, giá trị của DN được xác định
bằng các luồng thu nhập dự kiến mà DN đó thu được trong tương lai được quy về giá trị
hiện tại bằng cách chiết khấu chúng bằng một mức lãi suất chiết khấu phù hợp với mức
độ rủi ro của DN đó.
7
- Do vậy, trong phương pháp DCF có 3 thông số cơ bản nhất cần được xác định, đó là
luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai, mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập
đó và thời hạn tồn tại dự tính của DN. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở những
nước mà TTCK phát triển, nơi thường có đầy đủ thông tin về lịch sử cũng như thông tin
hiện tại và dự báo hợp lý về tình hình tài chính và rủi ro của doanh nghiệp. Hiện nay, việc
áp dụng công thức này ở Việt Nam cũng được nhiều người chấp nhận bởi giá CP tính
theo phương pháp này phản ánh được tương đối đầy đủ mọi mặt bản chất hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty so với các phương pháp khác và đứng trên quan điểm của
nhà đầu tư thì, ngoài việc tính toán theo phương pháp này rất đơn giản, nó còn đáp ứng
đúng suy nghĩ, nguyện vọng của họ khi đầu tư vào một DN.
- Tuy nhiên, tại Việt Nam việc áp dụng công thức này có một số khó khăn làm cho việc
ước tính nguồn thu trong tương lai của các công ty khó có thể chính xác như: Tình hình
môi trường kinh doanh có nhiều biến động; Các DN Việt Nam trong đó có các công ty
đang niêm yết đều chưa quen với việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, đặc biệt
là còn xa lạ với việc dự báo chi tiết luồng tiền dài hạn ra, vào công ty Do đó, chúng ta
sẽ điều chỉnh lại công thức này theo hướng 5 năm và cộng giá trị tài sản ròng được tính
vào thời điểm niêm yết.
- Công thức được điều chỉnh sẽ là:
P = Po + E1/(1+r) + E2/(1+r)2 + E3/(1+r)3 + E4/(1+r)4 + E5/(1+r)5
6. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU
Sự tác động của các nhân tố tới giá cổ phiếu như thế nào cũng còn rất nhiều tranh luận.
Rất khó để có thể xác định nhân tố nào sẽ ảnh hưởng tới giá cổ phiếu trong một trường
hợp nhất định. Giá của cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, cả những yếu tố vĩ mô
mức thu nhập. Tuy nhiên, giá cổ phiếu không phải lúc nào cũng có mối quan hệ chặt chẽ
với thu nhập. Có những thời điểm, giá cổ phiếu tăng nhanh hơn thu nhập; vào những thời
điểm khác, nó bị tụt lại đằng sau thu nhập. Đôi khi trên thực tế, nó lại biến động theo
chiều hướng ngược lại với thu nhập. Do vậy, dù một người theo dõi rất sát thị trường đã
dự đoán đúng xu hướng thay đổi của thu nhập, nhưng không có gì bảo đảm rằng anh ta
có thể dự đoán chính xác xu hướng biến đổi của giá cổ phiếu. chúng ta nên quan tâm đến
thu nhập của công ty trong một thời gian dài khoảng 2 đến 5 năm trong quá khứ.
d/ Cổ tức: những người theo trường phái này cho rằng cổ tức là nhân tố cơ bản, chủ yếu
thứ hai sau thu nhập, trong việc xác định giá chứng khoán. Thực chất điều này không
khác gì một câu thành ngữ cổ xưa “1 con chim trong nhà có trị giá bằng 2 con chim trong
rừng”. Tuy nhiên, cổ tức không đóng vai trò quan trọng đối với loại cổ phiếu tăng trưởng
là loại cổ phiếu mà người ta coi sự tăng giá của chúng là rất quan trọng, thường xuyên
mang lại lợi suất đầu tư cuối cùng lớn hơn nhiều so với cổ tức hiện tại. Một công ty tăng
trưởng có khả năng sử dụng số vốn này có hiệu quả hơn cho các cổ đông, là những người
luôn phải tìm kiếm cơ hội đầu tư. Trong tất cả các nhân tố báo chí sử dụng để giải thích
về sự biến động giá hàng ngày của từng cổ phiếu, các thông tin về cổ tức luôn được xếp ở
vị trí quan trọng gần đầu.
e/ Lãi suất: mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là gián tiếp và luôn thay đổi.
Nguyên nhân là do luồng thu nhập từ cổ phiếu có thể thay đổi theo lãi suất và chúng ta
không thể chắc chắn liệu sự thay đổi của luồng thu nhập này có làm tăng hay bù đắp cho
mức biến động về lãi suất hay không. Để giải thích rõ vấn đề này, chúng ta sẽ xem xét
các khả năng có thể xảy ra khi tỷ lệ lạm phát tăng, cụ thể như sau:
Lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát tăng và thu nhập công ty theo đó cũng tăng vì công ty có
thể tăng giá cho phù hợp với mức tăng của chi phí. Trong trường hợp này, giá cổ phiếu
có thể khá ổn định vì ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng tỷ suất lợi nhuận đã được đền bù
một phần hay toàn bộ bởi phần tăng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập và cổ tức.
9
Lãi suất tăng, nhưng luồng thu nhập dự tính thay đổi rất ít do công ty không có khả năng
tăng giá để phù hợp với chi phí tăng, do vậy, giá cổ phiếu giảm. Tỷ suất lợi nhuận quy
định có thể tăng nhưng tỷ lệ tăng trưởng của cổ tức là không đổi, nên mức chênh lệch
cảnh kỹ thuật. Thực tế đã chứng minh, lạm phát thấp có tương quan nghịch khá rõ ràng
đối với việc giá trị cổ phiếu (lạm phát thấp, hệ số nhân giá trị cao và ngược lại).
h/ Chính sách thuế của Nhà nước đối với thu nhập từ chứng khoán: Nếu khoản thuế
đánh vào thu nhập từ chứng khoán cao (hoặc tăng lên) sẽ làm cho số người đầu tư giảm
xuống, từ đó làm cho giá chứng khoán giảm.
i/ Các yếu tố kinh tế khác .Trong những năm gần đây, các chỉ số hàng đầu thường được
các nhà dự báo chứng khoán nhắc tới bao gồm số liệu về việc làm, những thay đổi về
10
hàng tồn kho, và những biến động về lượng cung tiền. Lãi suất cơ bản (thường là lãi suất
trái phiếu chính phủ) trong những năm gần đây đã thu hút sự chú ý đáng kể cho dù từ lâu
nó chỉ được coi là một nhân tố không đáng kể chứ không phải là nhân tố hàng đầu. Bởi vì
giá chứng khoán là một trong những chỉ số được coi trọng nhất trong 12 chỉ số hàng đầu,
nên các nhà dự báo cho rằng tốt nhất nên dự tính lãi suất cơ bản theo giá chứng khoán
hơn là dự đoán giá chứng khoán theo những thay đổi của lãi suất cơ bản.
Các chỉ số quan trọng khác bao gồm vốn vay liên ngân hàng, các khoản vay thương mại
và dịch vụ, giao dịch vốn trên thị trường tiền tệ, và các số liệu về giao dịch và thanh toán
của quỹ tương hỗ.
2) Nhóm yếu tố phi kinh tế
Những yếu tố phi kinh tế bao gồm sự thay đổi về các điều kiện chính trị, ví dụ chiến
tranh hoặc thay đổi cơ cấu Chính phủ, thay đổi về thời tiết và những nhân tố tự nhiên
khác, và thay đổi về điều kiện văn hoá, như tiến bộ về công nghệ v.v… Tuy nhiên, những
yếu tố này chỉ có ảnh hưởng lớn đối với giá chứng khoán ở những nước có nền kinh thế
thị trường phát triển, thị trường sẽ đánh giá những chính sách này. Trong điều kiện Việt
Nam, nền chính trị ổn định, mặt khác thị trường chứng khoán còn chưa phát triển, thì yếu
tố này ít có tác động.
3) Nhóm yếu tố thị trường
Các yếu tố thị trường, là những nhân tố bên trong của thị trường, bao gồm sự biến động
thị trường và mối quan hệ cung cầu có thể được coi là nhóm yếu tố thứ ba tác động tới
giá cổ phiếu. Sự biến động thị trường là một hiện tượng chờ đợi thái quá từ việc dự tính
quá cao giá trị thực chất của cổ phiếu khi giá cổ phiếu cao nhờ sự phát đạt của công ty, và
- Thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả: với
nguyên tắc hoạt động chủ đạo trên TTCK là công khai, công bằng và trung thực, mọi
thông tin về doanh nghiệp đều được công chứng kiểm tra đánh giá. TTCK vừa tạo điều
kiện vừa bắt buộc các doanh nghiệp không những phải hoạt động sản xuất kinh doanh
đúng pháp luật mà còn phải hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Vai trị chống lạm phát của TTCK: TTCK còn làm giảm áp lực lạm phát, Ngân hàng
TW với vai trị điều hịa hệ thống tiền tệ sẽ tung ra nhiều trái phiếu kho bạc bán trên
TTCK với lãi suất cao để thu hút bớt số tiền lưu hành, nhờ đó số tiền sẽ giảm bớt và áp
lực lạm phát cũng giảm đi.
- Hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển: có thể nói, hai loại định chế
tài chính này đi đơi với nhau như hình với bĩng. Thật vậy, TTCK là điều kiện không thể
thiếu trong việc đưa cổ phiếu ra công chứng giúp cho quá trình phát hành và lưu hành cổ
phiếu đạt hiệu quả.
Nhược điểm
- Thị trường chứng khoán luôn chứa đựng yếu tố đầu cơ.
Đầu cơ là một yếu tố có tính toán của những người đầu tư. Họ có thể mua chứng khoán
với hy vọng là giá chứng khoán sẽ tăng lên trong tương lai, và qua đó thu đ ược lợi
nhuận. Yếu tố đầu c ơ dễ gây ảnh hưởng dây chuyền làm cho cổ phiếu có thể tăng giá giả
tạo. Sự kiện này càng dễ xảy ra khi có nhiều người cùng cấu kết với nhau để đồng thời
mua vào hay bán ra một loại chứng khoán nào đó, dẫn đến sự khan hiếm hay dư thừa
chứng khoán một cách giả tạo trên thị trường, làm cho giá chứng khoán có thể tăng lên
hay giảm xuống một cách đột biến, gây tác động xấu đến thị trường.
- Hoạt động giao dịch nội gián thường xảy ra trên thị trường chứng khoán.
Một cá nhân nào đó lợi dụng việc nắm bắt những thông tin nội bộ của doanh nghiệp,
cũng như các thông tin mật không được hoặc chưa được phép công bố và sử dụng các
thông tin đó cho giao d ịch chứng khoán nhằm thu lợi bất chính gọi là giao dịch nội gián.
Các giao dịch nội gián được xem là phi đạo đức về mặt thương mại, vì người có nguồn
tin nội gián sẽ có lợi thế trong đầu tư so với các nhà đầu tư khác để thu lợi bất chính cho
riêng mình. Điều này sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư. Như vậy sẽ tác động tiêu cực tới
tích luỹ và đầu tư.
đầu tư này sẽ âm thầm đặt lệnh mua gom lại ở giá thấp.Thủ thuật này nếu được thực hiện
vào những phút cuối cùng của khớp lệnh định kỳ trên sàn sẽ mang lai hiệu quả cao cho
đối tượng.
c/Lệnh ma
Hầu hết các công ty chứng khoán hiện nay đều lơi lỏng trong việc để nhân viên môi giới
nhận lệnh khách hàng qua điện thoại di động mà không có băng ghi âm nhất là “ưu ái”
đối với khách hàng VIP mua trả chậm. Đây là một hình thức cho sử dụng đòn bẩy tài
chính theo kiểu T+ và các khách hàng VIP nhanh chóng thu được một khoảng lợi nhuận
khổnh lồ mà không cần có tiền trong tài khoản. Khi sử dụng dịch vụ mua hàng trả chậm
này, thông thường khách hàng VIP phải gọi điện thoại thẳng cho nhân viên môi giới của
mình để được phép đặt lệnh giao dịch( vì các hình thức khác như giao dịch qua internet,
gọi số điện thoại bàn chung của công ty chứng khoán để đặt lệnh.v.v…. thì tài khoản
khách hàng phải có đủ số tiền để mua theo khối lượng cổ phiếu yêu cầu)Đây chính là
rủi ro đến cho cả hai phía công ty chứng khoán và nhà đầu tư trong trường hợp nếu giá cổ
13
phiếu giảm mạnh và nhà đầu tư không đủ tiền trả hoặc nhân viên môi giới đưa ra khối
lương giao dịch, giá mua/bán cổ phiếu không đúng ý nhà đầu tư….Ngoài ra hiện nay
cũng có không ít nhà đầu tư giao tài khoản của mình cho nhân viên môi giới tự quyết
định mua bán.
Chính những ưu nhược điểm trên đã làm cho thị trường chứng khoán luôn gặp vấn đề
rắc rối, thông tin không chính xác gây ảnh hường đến nhiều đối tượng trong đó có công
ty chứng khoán
2. Kiến nghị
• Thị trường chứng khoán sẽ ngày càng phát triển, sẽ có tác dụng tốt cho nền kinh tế
nhưng rất cần sự can thiệp, hướng dẫn, quản lý nhà nước thông qua Luật Chứng
khoán, thông qua việc kiểm tra kiểm soát các cơ quan tài chính trung gian, yêu cầu
thông tin trung thực, kịp thời, đầy đủ từ các công ty sản xuất phát hành cổ phiếu. Việc
tăng cường quản lý sẽ tránh được các đổ vỡ dây chuyền và làm cho thị trường vận
hành đúng hướng có tác dụng tích cực.
• Người tham gia thị trường chứng khoán, mua hoặc bán cổ phiếu cần am hiểu, tìm
1) Các yếu tố kinh tế 8
2) Nhóm yếu tố phi kinh tế 11
3) Nhóm yếu tố thị trường 11
15