Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
DANH SÁCH NHÓM 1
Phần Chủ thể
1. Lê Thị Mỹ Trang
2. Vũ Thị Huyền Trang
3. Lương Minh Trí
Phần Khách thể
4. Nguyễn Trọng Trí
5. Nguyễn Thị Phương Trang
6. Ninh Ngọc Trâm
Phần Cơ quan quản lý
7. Lê Trọng Kiên
8. Nguyễn Hồng Ngọc Mai Trâm
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 1
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
MỤC LỤC
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 2
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
PHẦN 1
GIỚI THIỆU CHUNG
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 3
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia, đến một giai đoạn nhất định sẽ bộc lộ những
điểm yếu, những khuyết tật mà khi nhìn nhận lại người ta sẽ thấy những sai lầm trong
cách định hướng phát triển. Và cũng trong bối cảnh đó, người ta mới sực nhớ ra rằng, dù
làm bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực nào cũng cần dựa trên nền tảng đạo đức, luân lý để tránh
điều ác, tăng cường điều thiện, củng cố lòng nhân ái của mỗi con người. Kinh doanh là
hoạt động nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp qua mỗi khâu sản xuất, kinh
doanh. Nếu lợi nhuận doanh nghiệp kiếm được phù hợp với luật pháp và đạo đức xã hội
sẽ rất bền vững, và ngược lại, nếu lợi nhuận doanh nghiệp đạt được dựa trên sự “vô
qua các quyết định quản lý kinh doanh. Ðiều này có nghĩa là, hành vi đạo đức kinh doanh
của TCTD được thực hiện và đánh giá thông qua hành vi của người quản lý điều hành
TCTD, là tấm gương phản chiếu giá trị cốt lõi của mỗi TCTD.
Thứ ba, đạo đức kinh doanh ngân hàng dễ bị tha hóa do tác động của lợi nhuận, lòng
tham và sự chi phối của các nhóm lợi ích hơn so với những lĩnh vực kinh doanh khác.
3. NHẬN DIỆN NGUY CƠ VI PHẠM ÐẠO ÐỨC KINH DOANH TRONG HOẠT
ÐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Là thị trường mới nổi và đang cố gắng gồng mình đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của
quá trình hội nhập quốc tế đã làm cho tình trạng vi phạm pháp luật ngày càng tăng với
tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng. Ngoài vi phạm pháp luật, tình trạng vi phạm
đạo đức kinh doanh - tức là những hành vi không bị xử lý bởi các quy định pháp luật
ngày càng trở nên phổ biến càng làm cho niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân
hang ngày càng suy giảm, nguy cơ đổ vỡ trong kinh doanh của hệ thống ngân hang ngày
càng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.
Song hành với việc củng cố, nâng cao ý thức pháp luật trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng thì việc nhận diện nguy cơ vi phạm đạo đức kinh doanh càng trở nên cấp thiết, bởi
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 5
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
lẽ, chỉ khi nhận diện đúng những nguy cơ vi phạm đạo đức kinh doanh sẽ giúp cho nhà
quản trị ngân hàng có được biện pháp xử lý/quản trị tốt nhất.
4. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THỜI
GIAN QUAN
Khi các ngân hàng thương mại công bố báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2011, người ta
thấy bức tranh sáng tối khác nhau về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các TCTD với
các loại hình doanh nghiệp khác. Nếu như các doanh nghiệp khác loay hoay tìm kiếm
nguồn vốn kinh doanh để tránh đứng trước nguy cơ phá sản hoặc thu hẹp quy mô sản
xuất kinh doanh thì các TCTD lại “hân hoan” với nguồn lợi nhuận khổng lồ thu được, nó
hoàn toàn trái ngược với những lời kêu “lỗ” hoặc quá khó khăn của cộng đồng doanh
nghiệp. Ðể tránh những tranh cãi kéo dài không có hồi kết, hang loạt diễn giả đăng đàn
“biện minh” cho con số lợi nhuận của ngân hàng là hoàn toàn “hợp lý” trong điều kiện
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
1. TỔNG QUAN : MẶT BẰNG LÃI SUẤT CHO VAY VÀ HUY ĐỘNG VỐN
HIỆN NAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG
Năm 2011 : Đầu năm tăng cao nhưng cuối năm đã giảm
Ngày 6/6, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã công bố tình hình hoạt động của hệ thống
ngân hàng trong tháng 5/2011. Theo NHNN, lãi suất cho vay VND bình quân thực tế
khoảng 18,3%/năm (tăng 3%/năm so với cuối năm 2010). Trong đó, lãi suất cho vay của
nhóm ngân hàng thương mại nhà nước khoảng 17,3%/năm (cho vay nông nghiệp, nông
thôn và xuất khẩu khoảng 16,6%/năm, cho vay sản xuất - kinh doanh khác khoảng
18,5%/năm); nhóm ngân hàng thương mại cổ phần 19,7%/năm (cho vay nông nghiệp,
nông thôn và xuất khẩu khoảng 18,7%/năm, cho vay sản xuất kinh doanh khác khoảng
19,2%/năm).
Tuy lãi suất huy động tăng cao ở những tháng đầu năm, nhưng từ tháng 9/2011, hầu hết
các NHTM thực hiện nghiêm túc quy định của NHNN về trần lãi suất huy động bằng
VND ở mức không quá 14%/năm. Lãi suất liên ngân hàng ở mức cao trong 4 tháng đầu
năm nhưng đã giảm từ tháng 5/2011, đặc biệt là đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp,
nông thôn, xuất khẩu từ mức phổ biến 18-21%/năm xuống còn 16-19%/năm.
Năm 2012: 6 lần giảm lãi suất huy động và cho vay
Lần đầu tiên vào ngày 13/3, mức điều chỉnh từ 14% về 13%/năm theo yêu cầu giảm lãi
suất huy động của Thủ tướng chính phủ.
Tiếp đó, đến ngày 11/4, lãi suất huy động cũng giảm thêm 1%, về 12% /năm.
Ngày 28/05/2012, Ngân hàng Nhà nước quyết định đưa trần lãi suất huy động - cho vay
lần lượt về còn 11% và 14% một năm, đồng thời hạ một loạt lãi suất điều hành.
Từ ngày 11/6/2012, trần lãi suất huy động VND đã giảm từ mức 11%/năm xuống còn
9%/năm. Bên cạnh đó, theo thông tư 19/2012/TT-NHNN được ban hành ngày 8/6/2012,
NHNN đã cho phép các NHTM tự quyết định lãi suất huy động kỳ hạn dài (từ 12 tháng
trở lên). Đây là một bước đi hợp lý của NHNN, giúp các NHTM tự cân đối được cơ cấu
tiền gửi theo kỳ hạn của mình.
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 9
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
doanh nghiệp chỉ có thể vay với lãi suất thấp.
Lãi suất huy động tăng tất yếu dẫn đến lãi suất cho vay tăng
Các khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại NH hưởng lãi suất kỳ hạn 12 tháng chỉ khoảng 0,68
- 0,7%/tháng nhưng khi đi vay trong 12 tháng thì phải chịu lãi suất vay đến 1 -
1,3%/tháng. trong phần cộng thêm 0,3 - 0,5%/tháng bao gồm cả các chi phí của NH như
chi phí cơ sở vật chất, lương nhân viên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc Khoản chênh lệch này còn
tùy thuộc vào thời gian vay dài hay ngắn, mức độ rủi ro như thế nào.
Thu nhập của hầu hết các NH hiện nay vẫn chủ yếu do hoạt động tín dụng đem lại. Chính
vì vậy trong bối cảnh giá cả cứ tăng thì chi phí của các NH bỏ ra tăng hơn trước, buộc
NH phải điều chỉnh tăng lãi suất cho vay
Về phía các NHTM thì cho rằng do môi trường đầu tư lúc này rủi ro cao nên lãi suất cho
vay phải cao để bù đắp rủi ro .
Việc tỷ lệ nợ xấu tăng cao đang khiến các ngân hàng phải tăng cường trích lập dự phòng
và quan điểm cho rằng môi trường kinh doanh hiện nay đang ẩn chứa nhiều rủi ro nên lãi
suất cho vay phải cao để bù đắp được rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu.
3. CÁC CHƯƠNG TRÌNH ƯU ĐÃI LÃI SUẤT
ACB và HD Bank :
Nhằm hỗ trợ khách hàng có nguồn vốn, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, Ngân
hàng Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) và Ngân hàng Á Châu (ACB) đã
triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách
hàng cá nhân.
Theo đó, từ nay đến 30/4/2013, HDBank dành 1.500 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi từ 11-
12%/năm cho các doanh nghiệp có nhu cầu bổ sung vốn lưu động phục vụ các phương
án, dự án sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu. Lãi suất ưu đãi được áp dụng cố định
trong suốt kỳ hạn vay.
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 11
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
Không chỉ được hỗ trợ nguồn vốn tốt, doanh nghiệp còn nhận được các ưu đãi thiết thực
từ các dịch vụ miễn phí do HDBank cung cấp như: dịch vụ quản lý dòng tiền, dịch vụ
ngân hàng trực tuyến, miễn giảm phí dịch vụ thu, chi hộ, miễn phí chi hộ lương cho cán
quy trình vay vốn từ VietinBank.
Đặc biệt, trong khuôn khổ chương trình, VietinBank dành rất nhiều quà tặng Lìxì “Phát
lộc kinh doanh” trị giá 680.000 VND cho các khoản vay từ 300 triệu đồng trở lên, thời
hạn tối thiểu 3 tháng, giải ngân trước ngày 31/1/2013.
Song song với chương trình tín dụng “Xuân phát tài” là chương trình tiền gửi “Xuân phú
quý” với trên 450 ngàn giải thưởng có tổng trị giá trên 14 tỷ đồng. Thông qua 2 chương
trình này, VietinBank mong muốn khởi đầu năm 2013 bằng những ưu đãi tốt nhất dành
cho khách hàng, chúc khách hàng có một năm mới an khang, thịnh vượng.
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 13
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
PHẦN 3
NHÓM KHÁCH THỂ
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 14
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
1. TÌNH HÌNH CHUNG
1.1 Lãi suất cho vay của Ngân hàng quá cao
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 15
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
2012 là năm mà nền kinh tế chịu nhiều tổn hại do hệ thống ngân hàng (NH) bất chấp các
quy định của luật pháp, đẩy lãi suất lên quá cao. Khoảng 2 tháng đầu năm 2013, lãi
suất ngân hàng có thời điểm lên tới 25%, thậm chí là 30%.
Ngân hàng Nhà nước đã liên tiếp có những động thái quyết liệt chưa từng có để lập lại
trật tự kinh doanh trong ngành ngân hàng. Đó là những yêu cầu về việc thực hiện
nghiêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và đặc biệt là chỉ thị về việc thực hiện đúng trần
lãi suất huy động. Các chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng và trần lãi suất là một phần
cực kỳ quan trọng để đáp ứng yêu cầu về chống lạm phát và ổn định vĩ mô. Các chỉ
tiêu này được ghi rõ trong các nghị quyết điều hành của chính phủ, của Ngân hàng
Nhà nước và thậm chí đã được luật hóa. Đi cùng đó là những yêu cầu về thực hiện và
cảnh báo xử lý nếu vi phạm. Tuy nhiên, điều này đã không được thực hiện một cách
đầy đủ và nghiêm túc. Kỷ luật và cao hơn là pháp luật kinh doanh đã bị phá vỡ.
1.2 Tác động đến Doanh nghiệp
Việc các ngân hàng lộng hành, chạy đua tăng lãi suất huy động, đẩy lãi suất cho vay lên
cao đã đưa nền kinh tế vào tình trạng nguy hiểm. Đối tượng chịu thiệt hại đầu tiên là các
doanh nghiệp.
DN chỉ chịu được lãi suất vay vốn ở mức nào đấy, cao quá thì khó khăn và cao hơn nữa
thì phá sản. Khi lãi suất quá cao, hàng loạt doanh nghiệp (DN) thoi thóp do không thể
tiếp cận vốn. Nhiều chuyên gia nhận định: Mức lãi suất năm qua là quá sức chịu đựng
của các DN. Lãi suất cao chính là yếu tố ảnh hưởng đến sự sống còn và kìm hãm sự phát
triển của DN.
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 17
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
Tiến sĩ Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, cho rằng
gánh nặng lãi suất mà nền kinh tế đang phải trả cho ngành ngân hàng (NH) hiện rất đáng
lo. “Lãi suất cho vay cao khó kích thích doanh nghiệp (DN) đầu tư mở rộng sản xuất,
kinh doanh và còn làm tăng nợ xấu đối với DN đang cố gắng phục hồi sản xuất…”
Trước bối cảnh lãi suất không ngừng gia tăng, của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành
nhận định: “Hiện nay lãi suất cho vay vẫn đang quá cao, khiến nền kinh tế đang
từng bước lâm vào tình thể mất ổn định, doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá
sản vì chi phí sản xuất tăng vọt, giá thành leo thang”.
Không vay được cũng chết mà vay được cũng chết, đó là tình trạng của các doanh nghiệp
do tín dụng bị siết chặt và lãi suất quá cao hiện nay. Nguồn vốn tích lũy kém, lệ
thuộc chủ yếu vào vốn ngân hàng (NH) trong khi lãi suất (LS) quá cao, tiền tệ bị
siết Đó là lý do khi NH lâm bệnh, hàng loạt doanh nghiệp đứng bên bờ vực phá
sản.
Ông Phạm Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch Hiệp hội DN TPHCM, cho biết: Khoảng 5 năm trở
lại đây, lãi suất luôn là gánh nặng đối với các DN. Nếu giai đoạn năm 2009-2010 DN
còn sức lực, cầm cự được thì từ năm 2011 trở đi đều chịu đựng không nổi, kiệt quệ…
Chỉ trong 2 năm 2011-2012, số lượng DN phá sản, ngừng hoạt động lên đến 100.000
DN và chưa dừng lại trong những tháng đầu năm 2013.
Theo các doanh nghiệp, lãi suất cho vay phải hạ về mức 10%/năm thì doanh nghiệp mới
các ngân hàng). Các ngân hàng nhỏ có khó khăn về thanh khoản đã bắt buộc phải vay với
lãi suất cắt cổ này để giải quyết tạm thời nhu cầu vốn. Song, cùng với đó thì nhiều ngân
hàng nhỏ khác đã không chịu được lãi suất quá cao này, và phải quay ra huy động vốn
trên thị trường dân cư. Bởi lẽ, nếu lãi suất huy động từ dân cư có là 20%/ năm, thì vẫn
thấp hơn lãi suất 25% trên thị trường liên ngân hàng.
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 19
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
Động thái này đã đẩy lãi suất huy động từ dân cư tăng mạnh, thậm chí vượt trần cho phép
14%/ năm. Trong bối cảnh đó, một số Ngân hàng thương mại đã lạm dụng kẽ hở của các
cơ quan quản lý để tăng lãi suất huy động, rồi đẩy lãi suất cho vay lên vượt trần quy định.
Từ một vài trường hợp ban đầu, các ngân hàng thương mại bắt đầu cuốn vào cuộc chạy
đua huy động vốn với mức lãi suất có lúc lên đến gần 20%. Đến nay, Ngân hàng Nhà
nước đã chính thức thừa nhận hầu hết các ngân hàng đều có vi phạm trần lãi suất huy
động.
Khi đã huy động cao thì phải đẩy lãi suất cho vay lên cao. Theo đó, lãi suất cho vay
cũng tăng mạnh khiến nhiều doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn hoặc
phải chịu chi phí vay cắt cổ. Hệ lụy là trật tự của hoạt động ngân hàng thương mại
bị phá vỡ, tất cả đua nhau đẩy lãi suất huy động và lãi suất cho vay, khiến chi phí sản
xuất tăng vọt.
Phân tích cung cầu thị trường vố và tác động của việc “ làm giá”
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 20
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
Ở đây, chúng tôi muốn bàn sâu về việc các ngân hàng lớn bắt tay nhau làm giá để
hưởng chênh lệnh. Chính để hưởng phần lợi nhuận đó, các ngân hàng lớn,
không ngần ngại gạt đi các lợi ích chung của nền kinh tế và xã hội. Các ngân
hàng này không chỉ không cân nhắc đến việc hỗ trợ để cùng doanh nghiệp vượt
qua một năm khó khăn, mà ngược lại, trục lợi từ bối cảnh kinh tế ảm đạm và
đẩy mọi khó khăn cho doanh nghiệp. Như vậy, trên bàn cân giữa đạo đức kinh
doanh và lợi nhuận, các nhà lãnh đạo ngân hàng không ngần ngại chọn ngay lợi
nhuận. Có phải đây là một dấu hiệu của một lối kinh doanh ích kỷ, vô trách
Làm một phép so sánh hệ số này giữa các ngân hàng thế giới trong giai đoạn khủng
hoảng tài chính toàn cầu 2008, ta thấy rõ ràng rằng các ngân hàng Mỹ cũng chỉ xoay
quanh mức 3,5 – 4,5% còn các ngân hàng châu Âu còn thấp hơn, ở khoảng 1,5 – 2,1%.
Đối với các NHTM VN từ năm 2008 đến 2010 thì NIM của các ngân hàng chỉ xoay
quanh mức 2,5 – 4%. Tuy nhiên, bước sang năm 2011 và năm 2012 thì với chênh lệch lãi
suất giữa huy động và cho vay như thế này thì hệ số NIM của các NHTM VN cũng đã lên
tới 5 – 7%.
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 22
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
Thời điểm Quốc gia NIM
Khủng hoảng toàn cầu 2008 Mỹ 3,5 – 4,5%
Châu Âu 1.5-2.1%
Việt Nam 2.5 -4%
2011~2012 Việt Nam 5 – 7%
Thời điểm Quốc gia NIM
Khủng hoảng toàn cầu 2008 Mỹ 3,5 – 4,5%
Châu Âu 1.5-2.1%
Việt Nam 2.5 -4%
2011~2012 Việt Nam 5 – 7%
Như vậy, với tỷ lệ chênh lệch lãi suất giữa huy động và cho vay là 5% đến 7%, liệu Việt
Nam đã đạt được kỷ lục thế giới chưa?
b) Một lập luận khác mà các ngân hàng đưa ra là: “Môi trường kinh doanh hiện ẩn
chứa nhiều rủi ro nên lãi suất cho vay phải cao, chênh lệch giữa LS huy động và
cho vay phải rộng để bù đắp được rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu”
Thực ra, trong nền kinh tế, lĩnh vực nào đang ẩn chứa nhiều rủi ro? Có thể khẳng định,
chính lĩnh vực phi sản xuất mà đa phần là lĩnh vực BĐS đang là ngành chứa đựng nhiều
rủi ro nhất. Tuy nhiên, kể từ giữa năm 2011 trở đi, chính phủ và NHNN đã có chủ trương
siết chặt tín dụng vào lĩnh vực BĐS và các biện pháp này vẫn tiếp tục được thực hiện
trong năm 2012 và dự kiến sẽ kéo dài thêm một vài năm tới. Như vậy, phần rủi ro nhất
của thị trường phần nào đã bị các quy định của NHNN khóa van. Vậy còn lại là lĩnh vực
ví dụ điển hình là ngành chế biến gỗ. Trong khi lợi nhuận cua toàn ngành
chỉ đạt ở mức 10% thì lãi suất đã lên tới 18%/năm nên DN có vay được
vốn cũng làm không đủ để nuôi NH. Vì vậy, tốt hơn hết là duy trình quy
Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 24
Văn hóa Doanh nghiệp Nhóm 1 – Lớp QTKD Đêm 3 – 21
mô như cũ hoặc thậm chí thu hẹp để phù hợp hơn với bối cảnh thiếu vốn
và lãi suất tăng cao.
- Lãi suất cao làm giảm khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp trong
nước so với các doanh nghiệp nước ngoài với nguồn vốn FDI dồi dào
và rẻ do mang từ nước ngoài vào.
Như vậy, thay vì là cầu nối giữ doanh nghiệp với thị trường vốn, các Ngân hàng, vì
mục tiêu lợi nhuận ích kỷ đã không ngần ngại phá vỡ đạo đức kinh doanh và đẩy
các Doanh nghiệp và nhiều tình thế khó khăn, đẩy nền kinh tế Việt nam vào một
mức tranh ảm đạm mà khó lòng phục hồi và khởi sắc được khi không có đủ vốn để
mở rộng và đầu tư.
3. PHÊ PHÁN ĐỐI VỚI CƠ QUAN QUẢN LÝ
Nói một cách công bằng, tình trạng lãi suất bất hợp lí, không ổn định một cách dai dẳng
như hiện nay không phải hoàn toàn chỉ do các ngân hàng. Chúng ta cũng cần nói đến
vai trò của nhà nước trong việc kiểm soát lãi suất.
Điều hành thiếu nhất quán do mắc kẹt giữa các mục tiêu khác nhau về tăng trưởng/lạm
phát… Cụ thể là trong việc định hướng giảm lãi suất cho vay. Trong những năm qua,
có lúc thắt chặt tín dụng đột ngột, lãi suất cho vay cao kéo dài, Chủ trương và hỗ trợ
không nhất quán, Các lĩnh vực, nội dung được hỗ trợ lãi suất cũng thường xuyên thay
đổi, khiến DN không xoay sở kịp.
Trong khi đó, các chế tài để xử lí vi phạm dối với Ngân hàng chưa đem lại hiệu quả như
mong muốn. Ngay cả khi có chủ trương tạo điều kiện để DN tiếp cận vốn, vẫn
còn không ít ngân hàng viện nhiều lý do và đưa ra những điều kiện ngặt nghèo khiến
doanh nghiệp khó tiếp cận được lãi suất thấp. Chính vì vậy, cần phải có các chính
sách rõ ràng, kiểm tra chặt chẽ và có biện pháp chế tài từ phía Ngân hàng Nhà nước
để tránh tái diễn nạn lách trần lãi suất.