ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO NGHIỆM THU Đề tài: “NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT BẢO
QUẢN TRỤ MẦM CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY RỪNG
NGẬP MẶN TRONG KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN
CẦN GIỜ” Đề tài: “Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bảo quản trụ mầm của
một số loài cây rừng ngập mặn trong Khu Dự trữ sinh quyển
rừng ngập mặn Cần Giờ”
Chủ nhiệm đề tài : TS. Viên Ngọc Nam
Cộng tác viên : Th.S Huỳnh Đức Hoàn
Th.S Trần Thị Kiều Oanh
KS. Phạm Văn Quy
KS. Nguyễn Sơn Thụy
KS. Phan Văn Trung i
MỤC LỤC Chương 1: MỞ ĐẦU 1
4.3.2. Tỉ lệ sống 34
4.3.2.1. Tỉ lệ sống sau 1 năm 34
4.3.2.2. Tỉ lệ sống sau 2 năm 35
4.3.3. Chiều cao cây 35
4.3.3.1. Chiều cao cây sau 1 năm 35
4.3.3.2. Chiều cao cây sau 2 năm 36
4.4. Tỉ lệ sống ở các phần khác nhau của trụ mầm Đưng 36
4.4.1. Tỉ lệ nảy chồi 36
4.4.2. Tỉ lệ số cây nảy chồi 38
4.4.3. Số lượng chồi trên cây 39
4.4.4. Sinh trưởng chiề
u cao chồi 40
4.5. Tỉ lệ sống ở các phần khác nhau của trụ mầm Đước 41
4.5.1. Tỉ lệ nảy chồi 41
4.5.2. Chiều cao cây chồi 42
4.6. Phương pháp bảo quản trụ mầm 42
4.6.1. Bảo quản Đước (Rhizophora apiculata) 42
4.6.2. Bảo quản Dà vôi (Ceriops tagal) 46
4.6.3. Bảo quản Dà quánh (Ceriops decandra) 49
4.6.4. Bảo quản Đưng (Rhizophora mucronata) 51
4.7. Quy trình kỹ thuật tạm thời thu hái và bảo quản trụ mầm cây
Đước đôi,
Đưng, Dà vôi, Dà quánh 55
Chương 5: KẾT LUẬN 58
Hình 3.4: Trụ mầm Đưng bẻ gãy theo các nghiệm thức thí nghiệm.
Hình 4.1: Trụ mầm Dà vôi (Ceriops tagal).
Hình 4.2: Kích thước trụ mầm của Đước.
Hình 4.3: Trụ mầm Đưng.
iv
Hình 4.4: Đước trồng sau 1 năm của các nghiệm thức thu hái.
Hình 4.5: (a) Chồi non bị khô (b) Trụ mầm 1/3 ngọn bị cua cắn
Hình 4.6: Chồi Đưng của 2/3 gốc sau 1 năm.
Hình 4.7: Số chồi Đưng trên 1gốc.
Hình 4.8: Các phương pháp bảo quản trụ mầm.
(a) Dưới bóng cây (b) Trong nhà lá và túi nylon
(c) Trên sàn đất (d) Che phủ bởi cát
Danh mục các đồ thị
Đồ thị 4.1: Vị trí trọng tâm của các trụ mầm.
Đồ thị 4.2: So sánh kích th
ước trụ mầm của 4 loài cây ngập mặn.
Đồ thị 4.3: Lượng trụ mầm rơi trung bình theo vùng trong 2005 - 2006
Đồ thị 4.4.: Lượng mưa và trụ mầm rơi từ 10/2004 – 12/2006
Đồ thị 4.5: Tỉ lệ nảy mầm của Đước theo cách thu hái.
Đồ thị 4.6: Đồ thị phân tích Anova tỉ lệ sống của trụ mầm Đước theo các
nghiệm thức và số ngày bảo quản.
Đồ thị 4.7: Tỉ lệ
sống của Đước theo cách và ngày bảo quản.
Đồ thị 4.8: Đồ thị kiểm tra (LSD) tỉ lệ sống trung bình của Đước
theo ngày bảo quản.
Đồ thị 4.9: Trung bình tỉ lệ sống theo các nghiệm thức bảo quản Dà vôi.
Đồ thị 4.10: Trung bình tỉ lệ sống Dà vôi theo ngày theo LSD.
Đồ thị 4.11: Trung bình tỉ lệ sống Dà quánh theo nghiệm thức ngày theo LSD.
Đồ thị 4.12: Tỉ lệ sống của Dà quánh theo cách và ngày bảo quản.
Phụ bảng 15: Tương quan tỉ lệ sống cũa Đưng theo thời gian bảo quản (ngày)
Phụ hình 1: Ẩm độ của trụ mầm Đước theo thời gian bảo quản
Phụ hình 2: Ẩm độ của Dà vơi theo thời gian bảo quản
Phụ hình 3: Ẩm độ của Đưng theo thời gian bảo quản
Phụ hình 4: Ẩm độ của Dà qnh theo thời gian bảo quản 1
Chương 1: MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Cần Giờ có diện tích tự nhiên là 71.361 ha, trước chiến tranh nơi đây là
rừng ngập mặn với các loài cây gỗ lớn, giai đoạn 1965-1970 rừng bị hủy hoại
bởi chất độc hóa học, môi trường bị thay đổi, đất đai bị hoang hóa, nguồn thủy
sản bị giảm sút. Từ năm 1978 đến nay đã khôi phục lại hàng chục ngàn hécta
rừng Đước đôi (
Rhizophora apiculata) và nhiều loài cây ngập mặn đã tái sinh
tự nhiên, qua đó rừng đã góp phần cải thiện môi trường sống cho con người và
các loài động thực vật. Đước đôi (Rhizophora apiculata) là loài cây được chọn
để trồng lại rừng ở Cần Giờ là do cây sinh trưởng mạnh, phù hợp với điều kiện
tự nhiên ở địa phương, đã góp phần khôi phục thành công rừng ngập mặn trong
thời gian ngắ
n. Hơn nữa, đây là loài cây có giá trị kinh tế cao, dễ trồng và
nguồn giống sẵn có ở Cà Mau lúc bấy giờ và hiện nay có nhiều giống ở Cần
Giờ. Đến nay, rừng Đước đã sinh trưởng và phát triển tốt trên địa bàn huyện
Cần Giờ, rừng đã và đang phát huy vai trò phòng hộ, cảnh quan, môi trường.
Trứơc đây thông qua công tác chăm sóc tỉa thưa rừng hàng năm, rừng ngập
cách bảo quản trụ mầm đơn giản, ít tốn kém, biết thời vụ thu hái để người dân
có thể áp dụng và phổ biến rộng rãi. Ngoài ra biết được thời gian trụ mầm chín
trong năm tạo điều kiện chủ động cho việc lên kế hoạch thu lượm trụ mầm và
trồng rừng. Đồng thời cũng xác định các cách thu hái trụ mầm có ch
ất lượng
cao, góp phần vào việc bảo quản lâu cũng như việc trồng rừng được thành công.
Các thông tin của trụ mầm về định lượng sẽ giúp cho các nhà quản lý, cán bộ kỹ
thuật lâm nghiệp biết để tính toán sản lượng giống, chất lượng trụ mầm để đem
đi trồng cũng như tiết kiệm và giảm chi phí trồng rừng, giúp các nhà khoa học
trong chương trình nghiên cứu lai tạo, hiệ
n tượng học của trụ mầm trong tương
lai. 3
Chương 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Bảo quản là sự giữ gìn những hạt sống trong thời gian từ khi thu hái đến
khi gieo ươm (Holmes & Buszewics, 1956 được trích dẫn bởi Willan R. L,
1985). Việc gieo ươm tùy thuộc vào ngày trồng theo từng loài cây nhưng do
điều kiện thời tiết hay yếu tố nào đó người ta không thể trồng ngay đúng ngày
nên cần phải bảo quản hạt giống để khi có đủ điều kiện thì trồng.
Việc b
rừng ngập m
ặn thì các trụ mầm dễ bị phá hủy hơn do mất ẩm độ, do đó nên
việc trồng rừng ngay sau khi thu hái trụ mầm từ trên cây thì kết quả hơn. Điều
này cho thấy rằng việc giữ ẩm độ của trụ mầm là yếu tố quan trọng trong việc
bảo quản trụ mầm (Jitt K., 1988).
Các cây trong rừng ngập mặn đa số thuộc họ Rhizophoraceae nên việc
bảo qu
ản giống không phải là bảo quản trái của cây mà là bảo quản trụ mầm
(vivipary) chính là cây con đã được nảy mầm trên cây do các phôi trong trụ
mầm liên tục phát triển và không có thời gian ngủ (Tomlinson, 1986; Jitt. K,
1988) các tác giả này cũng cho rằng việc nảy mầm nhanh của hạt là phổ biến ở
cây rừng mưa nhiệt đới do đó thời gian sống của hạt giống thường không lâu,
vào khoảng vài tuần lễ. Niti Rittibhonbhun và cs (1990) đã cho biết thời gian trồng rừng ở tỉnh
Trang, miền Nam của Thái Lan là từ tháng 4 - 7, trồng rừng ngay sau khi thu
lượm trụ mầm không quá một tuần thì tỉ lệ thành rừng sẽ cao.
Jitt Kongsangchai (1988) đã nghiên cứu thời gian trụ mầm rụng của một
Trái
Vòng cổ
Trụ mầm
Hình 2.1: Hình thái trái và trụ mầm của cây rừng ngập mặn thuộc Họ Đước
Bangladesh. Nhìn chung công việc nghiên cứu gieo ươm, kỹ thuật trồng rừng
ngập mặn
đã được nhiều tác giả ở nhiều nước nghiên cứu nhưng việc bảo quản
các trụ mầm của cây rừng ngập mặn thì còn hạn chế. 6
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Về nghiên cứu giống cây lâm nghiệp ở Việt Nam đã được nhiều tác giả
nghiên cứu như loài cây Keo lá tràm, Bạch đàn, Keo tai tượng, Sao, Dầu …,
Công ty Giống và Phục vụ trồng rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn cũng đã xuất bản nhiều tài liệu liên quan đến kỹ thuật giống cây rừng.
Riêng về rừng ngập mặn cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu đế
n hệ sinh thái
rừng ngập mặn như Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị sản (1993), Phan
Nguyên Hồng và cọng sự (1999), Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền
(1987), Nguyễn Văn Thôn và Lâm Bỉnh Lợi (1972), Viên Ngọc Nam (1994,
1996, 1998, 2004), Hoàng Văn Thơi (2001) cũng đã nghiên cứu nhiều vấn đề
trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, trong đó có đề cập nhiều đến giải phẫu, sinh
lý, kỹ thuật trồng rừng ngập mặn, sinh thái, sinh khối … Vũ Văn Cương (1964)
cũ
ng đã nghiên cứu các quần xã thực vật rừng ngập mặn của vùng Vũng Tàu và
Cần Giờ.
Trong khi theo dõi hiện tượng học của loài Đước đôi ở Lâm viên Cần
Giờ, Lê Thị Trễ (1996) đã nêu chu trình sinh sản của Đước đôi theo tháng
nhưng chưa có số liệu đầy đủ về lượng trụ mầm rơi trong các tháng 7, 8 và 9.
Okawa Satosi, Hatori Sinji và Kogo Motohiko (1996), nghiên cứu điều
kiện tốt nhất để bả
o quản giống cây Bần chua (Sonneratia caseolaris) lấy giống
ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình cho thấy cây ra rễ tốt nhất ở nhiệt độ từ 20 –
trồng trực tiếp các trụ mầm của loài Đước,
Đưng. Tác giả đã nêu lên cách nhận
biết trụ mầm đã chín bằng cách các vòng cổ nối liền với qủa và trụ mầm có
màu khác nhau (Chan H. T, 1990 và Dioscoro M. Melana và cs, 2000) và thu
hoạch trụ mầm thì thu lượm ở dưới sàn rừng hay trên cây. Khi trồng rừng cần
phải lựa chọn trụ mầm còn tốt để trồng, bỏ những trụ mầm bị loài Poecilips
fallax đục lỗ trong trụ mầm bằng cách thấy phân của sâu thả
i ra bên ngoài.
Dự án bảo vệ và phát triển những vùng đất ngập nước ven biển miền Nam Việt
Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000) đã đưa ra tiêu chuẩn khi
thu mua trái Đước để trồng rừng của dự án như sau:
- Trụ mầm phải còn sống, không bị khô, không gãy dập
- Trụ mầm phải rụng tự nhiên từ cây bố mẹ và vỏ có màu xanh xám/đen
(Trụ mầm màu xanh còn đang ở trên cây thì không phù hợp bởi vì chúng
ch
ưa đủ độ chín).
- Trụ mầm phải thẳng không cong queo (không chấp nhận trụ mầm cong,
gãy).
- Độ dài của trụ mầm phải đạt ít nhất 21 cm trở lên.
- Đường kính trụ mầm ít nhất từ 1cm trở lên.
8
- Lá mầm của trụ mầm chưa phát triển (không chấp nhận những trụ mầm
mà lá mầm đã bắt đầu phát triển vì chúng quá già).
- Ngọn của trụ mầm, đầu lá mầm phải còn nguyên vẹn (không bị gãy, hư
hỏng).
- Trụ mầm không bị sâu bệnh, côn trùng cắn phá.
- Không có các tổn thương, hư hỏng có thể nhìn thấy được tại bất kỳ
phần nào của trụ mầm.
Đặ
%
Trọng
lượng
174 139 79,8 801,3 80,1 35 20,1 198,6 19,8
Như thế qua nghiên cứu cho thấy số lượng trụ mầm thu lượm trong tự
nhiên chỉ có 79,8% trụ mầm là đạt chất lượng để trồng rừng. Dà vôi thay lá
quanh năm, có 2 vụ trái cho trụ mầm là vào tháng 5 và tháng 8 nhưng tập trung
nhiều nhất là tháng 8. Qua nghiên cứu số lượng trụ mầm rơi trong các bẫy
lượng rơi cho thấy số lượng trụ mầm tùy thuộc vào kích cở đường kính của cây
cho trái, ở cấp kính 4 – 6 cm thì cho 0,64 t
ấn/ha/năm trong khi đó cấp kính 6 –
8 cm thì sản lượng trụ mầm nhiều hơn là 1,42 tấn/ha/năm. Tốt nhất là thu lượm
trụ mầm trong các quần thụ tự nhiên có đường kính (D
1,3
) lớn hơn 6 cm. Tác
giả đã bảo quản trụ mầm trong 5 tuần và cho thấy kết quả ở bảng sau:
9
Bảng 2.2: Tỉ lệ nảy mầm của trụ mầm Dà vôi theo các cách tồn trữ
Bình quân 3 lần lập lại về tỉ lệ nảy mầm (%)
theo thời gian tồn trữ
Phương pháp tồn trữ
3 ngày 1 tuần 2 tuần 3 tuần 4 tuần 5 tuần
Trong bóng râm
không tưới
96,7 95,7 94,7 94,2 92,7 88,3 10
Chương 3: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu
- Xác định được biện pháp bảo quản trụ mầm của một số loài cây rừng ngập
mặn được lâu, đơn giản và ít tốn kém nhằm phục vụ công tác trồng rừng và
phổ biến cho dân.
- Dự báo được sản lượng trụ mầm sản xuất tương ứng với vị trí và khu vực
khác nhau ở Cần Giờ.
- Xác định thời gian trụ mầm chín và phương pháp thu hái trụ m
ầm có chất
lượng cao.
- Nắm bắt thông tin về trụ mầm của 4 loài cây nghiên cứu như: trọng lượng,
ẩm độ, kích thước, trọng tâm …
3.2. Nội dung
Tập trung nghiên cứu vào 4 loài cây rừng ngập mặn có trụ mầm phổ biến tại
Cần Giờ là Đước (Rhizophora apiculata), Dà vôi (Ceriops tagal), Dà quánh
(Ceriops decandra), Đưng (Rhizophora mucronata). Nội dung nghiên cứu
gồm:
1. Nắm bắt thông tin về trụ mầm của từng loài: Trọ
ng lượng 1.000 trụ mầm, số
lượng trụ mầm/kg, chiều dài và đường kính chỗ lớn nhất của trụ mầm, độ
ẩm của trụ mầm, xây dựng các mối tương quan giữa chiều dài trụ mầm với
trọng lượng …
2. Điều tra sản lượng trái theo cấp tuổi, vị trí và xác định tỉ lệ và lượng trái đạt
tiêu chuẩn (theo tiêu chuẩn dự án trồng rừng tại
a. Bố trí thí nghiệm
Trọng lượng (Ðước, Đưng lấy 50 trụ mầm, Dà vôi và Dà quánh lấy mỗi
loài 100 trụ mầm). Dùng công thức tính của ISTA để tính toán. Cân 8
mẫu, đối với Đưng và Đước cân mỗi lần 50 trụ mầm, đối với Dà vôi và
Dà quánh cân mỗi lần 100 trụ mầm, từ đó tính ra độ lệch chuẩn, hệ s
ố
biến động và giá trị trung bình. Nếu hệ số biến động trong 8 lần cân nhỏ
hơn 4 thì giá trị trung bình được chấp nhận, nếu lớn hơn 4 thì phải cân
thêm 8 mẫu nữa và tính lại độ lệch chuẩn cho cả 16 mẫu.
12
Hàm lượng nước của trụ mầm (mỗi loài 5 trụ mầm) đem về phòng thí
nghiệm để sấy ở nhiệt độ 103
0
C trong thời gian từ 17-20 giờ và tính toán
hàm lượng nước theo công thức:
Hàm lượng nước % = Trọng lượng ban đầu – Trọng lượng khô
Trọng lượng ban đầu
Cân, đo và tính trọng tâm của trụ mầm: Trụ mầm được đo chiều dài và
đường kính. Trụ mầm chia làm 5 đoạn có chiều dài bằng nhau và đo
đường kính ở giữa đoạn.
Đo chiều dài, đường kính trụ mầm
Ðiều kiện thí nghiệm: Trụ mầm, cân điện tử, thước đo, thước Palmer
điện tử
b. Các chỉ tiêu theo dõi
Trọng lượng 1.000 trụ mầm, số lượng trụ mầm/kg, trọng lượng bình quân
của trụ mầm, chiều dài và đường kính bình quân của trụ mầm, vị trí trọng
tâm của trụ mầm, hàm lượng nước.
bố trí theo hướng song song với hướng bờ sông.
• Vật liệu thí nghiệm: Khung gỗ, lướ
i nylon (1 x 1 mm), dây nylon, thước
đo trụ mầm, sơn, bảng tên, túi nylon. Hình 3.1: Bẫy thu trụ mầm rơi ở trong rừng
14
+ Chỉ tiêu theo dõi : Tổng số lượng trái rơi theo tháng và năm. Phân chia theo
kích thước để phân cấp trái đạt tiêu chuẩn để trồng rừng. Thời gian nào trong
năm có lượng trụ mầm rụng nhiều và tỷ lệ sử dụng cao. Một số nhân tố ảnh
hưởng đến sản lượng trụ mầm.
+ Chỉ tiêu kỹ thuật cần đạt: Số liệu theo tháng trong vòng 27 tháng.
3.2.2.3. Phương pháp thu hái (trên cây, trên sàn rừng, trên mặt nướ
c).
Phương pháp nghiên cứu: Trồng các trụ mầm thu theo các phương pháp rồi
trên đất ngập triều hàng ngày để theo dõi tỉ lệ sống sau 1 năm, dùng thống kê
toán học để phân tích và kết luận.
- Mô tả thí nghiệm: Thu hái trụ mầm ở trên cây, trên sàn rừng và trên mặt
nước do thủy triều đem đến. Trên cơ sở lượng trái thu được đem về chọn lựa
3.2.2.4. Tỉ lệ sống ở các phần khác nhau của trụ mầm
- Phương pháp nghiên cứu: Trồng trực tiếp trên đất nơi có thủy triều ngập
hàng ngày. Sau 1 năm so sánh kết quả dựa trên phân tích thống kê toán học.
- Mô tả thí nghiệm: Thí nghiệm đối với những loài cây có trụ mầm lớn như
Đưng, Đước. Những trụ m
ầm được bẽ gãy theo tỉ lệ và trồng để xem xét tỉ lệ Hình 3.2: (a) Thu hái trụ mầm ở trên cây (b) Thu trụ mầm bằng cách rung cây
(
a
)
(
b
)
Hình 3.3: Thu trụ mầm trên mặt nước
16
sống và khả năng nảy chồi của từng loài. Trên cơ sở những phần nào của trụ
mầm có khả năng mọc chồi và sống để phổ biến tận dụng trong công tác trồng
rừng nhằm tiết kiệm kinh phí khi nguồn giống ít như Đưng.
Hình 3.4: Trụ mầm Đưng bẻ gãy theo các nghiệm thức thí nghiệm
17
phần của trụ mầm, tỉ lệ sống sau 1 năm, số chồi/ cây.
3.2.2.5. Nghiên cứu các phương pháp bảo quản trụ mầm của 4 loài cây
rừng ngập mặn: Đước, Đưng, Dà quánh, Dà vôi.
- Phương pháp bảo quản trụ mầm: Những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thọ của
trụ mầm trong bảo quản là độ chín của trụ mầm, không bị tổn thương mầm
bệnh, không khí, ẩm độ, hàm lượng nước của trụ mầm, ánh sáng, nhiệt độ …
do đó việc bố trí các nghiệm thức đều dựa vào các yếu tố trên để xem xét.
Ở đề tài này, chúng tôi chọn phương pháp bảo quản ở nhiệt độ và ẩm độ
bình thường và bảo quản ẩm không kiểm tra hàm lượng nước và nhiệt độ.
Để kiểm tra chất lượng của các phương pháp bảo quản thông qua t
ỉ lệ nảy
mầm theo thời gian và tỉ lệ sống của trụ mầm bằng cách trồng trực tiếp trên đất
có ngập triều (Đước, Đưng) và trên đất cao (Dà vôi và Dà quánh).
- Thời gian: Theo dõi 1 năm
- Phương pháp nghiên cứu: Với 4 loài cây thí nghiệm. Mỗi loài cây bố trí 5
nghiệm thức (mỗi nghiệm thức có 110 trụ mầm) cứ sau 10 – 15 ngày lấy 100
trụ mầm đem trồng và 5 trụ mầm về phòng thí nghiệm
để phân tích hàm lượng
nước.
- Mô tả thí nghiệm
- Đối tượng thí nghiệm
: Trụ mầm của Đước, Đưng, Dà quánh và Dà vôi
- Công thức thí nghiệm: Gồm 5 nghiệm thức sau:
• NT 1: Bảo quản trụ mầm bằng cách đặt trụ mầm dày khoảng 10 cm trên
sàn đất trong nhà lưới (hàng ngày tưới nước 1 lần).
• NT 2: Trên sàn đất trong nhà lưới phủ một lớp cát dày 10 cm (hàng ngày
tưới nước 1 lần).