PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO DUY XUYÊN
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 DUY PHƯỚC
Tác giả : TRẦN THỊ THOẠI
Chức vụ : Giáo viên
Kiêm nhiệm : Chủ tịch công đoàn
Năm học : 2012 – 2013
1
I. Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 5
II. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lí do chọn đề tài:
Đầu năm học 2012-2013, thực hiện việc luân chuyển giáo viên qua các
khối lớp, tôi được nhà trường phân công dạy lớp 5. Đây là năm đầu tiên dạy
khối lớp này nên tôi biết rằng phải sẵn sàng đối mặt với nhiều khó khăn trong
dạy học, bởi lớp 5 là lớp thứ hai trong giai đoạn học tập sâu, số môn học nhiều
hơn, lượng kiến thức tăng nhiều, các em tiếp tục học các bài về lí thuyết một
cách có hệ thống chứ không còn là làm quen dưới hình thức luyện theo mẫu
từng mảng nhỏ như ở lớp 2-3, nhất là trong môn Tiếng Việt.
Sau khi tìm hiểu thực trạng và khảo sát chất lượng đầu năm của học sinh
lớp 5B, nhận thấy yên tâm với chất lượng môn Toán của các em có khả quan
hơn là môn Tiếng Việt nên tôi xác định năm nay sẽ tập trung rèn kĩ năng viết
văn cho học sinh đại trà trong lớp và kĩ năng viết văn cho một số em có khá -
giỏi trong lớp có khả năng học nâng cao hơn so với chuẩn tối thiểu.
Kĩ năng viết văn của học sinh tiểu học là kết quả tổng hợp kiến thức của
nhiều phân môn không chỉ trong môn Tiếng Việt và là kết quả của nhiều kĩ
năng như nghe, nói, đọc, viết, cảm thụ văn học… Để đạt được mục tiêu đó, tôi
đã nghiên cứu áp dụng nhiều biện pháp có tính tổng hợp và thiết thực để tổ
chức cho học sinh rèn luyện một cách có ý thức và đã đạt được một số kết quả
đồng, đó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ lại càng
có vai trò quan trọng hơn.”
Gần đây, trong buổi giảng về “Phương pháp dạy học” vào ngày
13/3/2013, khi bàn về tầm quan trong của việc sử dụng ngôn từ, Giáo sư Ngô
Bảo Châu – một người nổi tiếng thế giới về Toán cao cấp – nhưng ông vẫn
khẳng định tầm quan trọng của kĩ năng viết lách, kĩ năng diễn đạt ý tưởng:
"Những gì mình nói, mình viết phải diễn đạt một cách mạch lạc
nhất, không dùng sáo từ, không dùng từ thừa", GS Ngô Bảo Châu
nói.
Ảnh: Hoàng Thùy.
3
- Là người nghiên cứu về toán nhưng từng viết sách và rất chăm chút khi
sử dụng câu từ, ông đánh giá thế nào về việc Bộ GD&ĐT cho thí sinh dự thi vào
10 trường thuộc khối văn hóa nghệ thuật không phải thi môn Văn?
- Tôi chưa rõ lắm về quyết định của Bộ nên nếu suy luận có thể hồ đồ. Tôi
nghĩ rằng tất cả người làm khoa học và nghệ thuật, việc chăm chút câu từ là vô
cùng quan trọng. Những gì mình nói, viết ra phải tự đặt chuẩn để nỗ lực diễn đạt
một cách mạch lạc nhất, không dùng sáo từ, không dùng từ thừa. Điều đó không
chỉ tôn trọng bạn đọc, người đối thoại mà còn thể hiện sự tôn trọng chính mình.
Việc lựa chọn câu từ thích hợp, diễn đạt mạch lạc sẽ làm cho tư duy sáng
sủa hơn. Ngôn ngữ quyết định suy nghĩ của mình và những người tự bằng lòng
với cách diễn đạt mập mờ, ề à thì suy nghĩ cũng không được tốt lắm.
(Báo VnEpress ngày 13/3/2013)
Các đơn vị của ngôn ngữ như từ, cụm từ, câu ở tiểu học được dạy trong
hoạt động giao tiếp. Từ được xem xét khi nó tham gia tạo cụm từ, tạo câu
Đoạn văn không chỉ được xem xét trong quan hệ với các câu mà còn được xem
xét trong quan hệ với các đoạn khác của bài văn. Các từ, câu, đoạn trong bài
văn lại được xem xét, tìm hiểu trong mối quan hệ với mục đích và nội dung giao
tiếp, trong quan hệ với nhân vật và các tình huống giao tiếp. Từ đó học sinh hiểu
* Ngày 06/9/2012, Tổ Chuyên môn thống nhất ra đề khảo sát đầu năm
nay về Tiếng Việt (Chính tả và Tập làm văn) như sau:
Trường Tiểu học ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM
Số 1 Duy Phước Môn: TIẾNG VIỆT - LỚP 5
Thời gian làm bài: 60 phút
I Chính tả: (5 điểm – Thời gian 20 phút)
1. Điền vào chỗ dấu chấm (1,5 điểm):
a) s hay x:
- nhỏ íu, dòng ông, giọt ương, xôn ao.
b) d hay gi:
- cảm ác, hung ữ, ận hờn, gian ối.
c) êu hay iêu:
- kì d , m tả, đ đặn, k gọi.
2. Nghe – viết (3,5 điểm)
Đường đi Sa Pa (từ Hôm sau đến hết)
II. Tập làm văn (5 điểm - Thời gian 40 phút)
Tả một con vật nuôi trong nhà.
* Kết quả khảo sát đầu năm lớp 5B:
Môn TS G (9-10) K (7-8) TB (5-6) Y (3-4) Kém (1-2)
SL % SL % SL % SL % SL %
Viết 32 6 18,1 9 28,1 12 37,5 5 15,6
Toán 32 9 28,1 10 31,2 11 34,4 2 6,3
Sau vài tuần đầu dạy học ở lớp và qua bài khảo sát chất lượng đầu năm,
tôi nhận thấy nhiều học sinh trong lớp của tôi còn mắc khá nhiều lỗi chính tả
bình thường, một số em viết chữ chưa ngay ngắn, viết câu văn chủ yếu là đủ hai
thành phần chủ vị chứ chưa biết mở rộng câu, ý tưởng và vốn từ còn nghèo. mắc
nhiều lỗi diễn đạt, chưa biết vận dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh,
nhân hóa đã học vào bài làm, dù 2 biện pháp này các em đã được học từ lớp 2,
lớp 3
gũi với học sinh để
luyện tập kĩ năng
đối thoại.
29 TLV: Tập viết đoạn đối thoại (trang 113, tập 2)
Chọn nội dung gần
gũi với học sinh để
luyện tập kĩ năng
đối thoại.
Như vậy, trong 66 tiết Tập làm văn trong Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5,
Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo không dạy 1 tiết và điều chỉnh một số bài tập như trên,
còn lại 66 tiết gồm các kiểu bài như sau:
Báo cáo thống kê: 02 tiết
Đơn từ : 3 tiết
Thuyết trình, tranh luận: 02 tiết
Biên bản: 03 tiết (có tiết giảm tải theo chương chình của Bộ GD)
Chương trình hoạt động: 03 tiết
6
Chuyển đoạn văn thành kịch: 03 tiết
Tập viết đoạn hội thoại: 03 tiết
Ôn tập văn kể chuyện: 03 tiết
Miêu tả: 45 tiết
Trong 45 tiết văn miêu tả, tôi nhận thấy có 3 loại bài được phân bố như sau:
Miêu tả đồ vật: 04 tiết (bắt đầu văn miêu tả từ tuần 14 đến tuần 21)
Miêu tả cây cối: 03 tiết (từ tuần 21 đến tuần 28)
Miêu tả con vật: 03 tiết
Miêu tả cảnh: 18 tiết
Miêu tả người: 17 tiết
Miêu tả cảnh (từ tuần 29 đến tuần 34).
Ba loại văn miêu tả trên là cơ sở để lên lớp 6 học sinh sẽ học văn tả cảnh
1 Quang cảnh làng mạc ngày mùa Tả cảnh vật
2 Sắc màu em yêu Tả cảnh vật
5 Một chuyên gia máy xúc Tả người
7 Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà Tả cảnh
8 Kì diệu rừng xanh Tả cảnh vật
8 Trước cổng trời Tả cảnh vật
9 Đất Cà Mau Tả cảnh
11 Chuyện một khu vườn nhỏ Tả cảnh
12 Mùa thảo quả Tả cảnh
15 Về ngôi nhà đang xây Tả cảnh
21 Tiếng rao đêm Tả người
22 Tả cảnh Tả cảnh
25 Phong cảnh đền Hùng Tả cảnh
25 Cửa sông Tả cảnh
26 Hội thổi cơm ở Đồng Văn Tả cảnh
27 Tranh làng Hồ Tả cảnh
27 Đất nước Tả cảnh
29 Một vụ đắm tàu Tả cảnh
30 Tà áo dài Việt Nam Tả đồ vật
32 Những cánh buồm Tả cảnh
Biện pháp 2: Lồng ghép củng cố kiến thức về Từ và câu, Cảm thụ
văn học qua mỗi bài Tập đọc, Học thuộc lòng lớp 5:
Đây không phải là việc chỉ dành cho học sinh giỏi mà rất cần cho học
sinh đại trà có dịp thực hành củng cố kiến thức đã học trong phân môn Luyện
từ và câu trong tuần hoặc của các tuần trước đó. Việc này được tiến hành ngay
từ đầu năm và bài nào tôi cũng làm như thế.
Ví dụ, vào ngày 20/8/2012, tiết 1 bài Tập đọc đầu tiên của lớp 5 là: “Thư
gửi các học sinh”, chúng tôi chọn vài câu để hỏi nhằm củng cố kiến thức về
“Trạng ngữ - chủ ngữ - vị ngữ” mà các em mới được học ở các tuần cuối lớp 4:
+ Xác định trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ trong câu sau:
- Nơi chôn rau cắt rốn: Bố em nói: “Tết này bố sẽ đưa cả nhà về thăm nơi
chôn rau cắt rốn của mình.”
Hoặc ngày 11/9/2012, trong tiết dạy bài tập đọc “Lòng dân”, sau khi
hướng dẫn hs tìm hiểu nội dung xong, tôi hỏi thêm một câu để củng cố về vốn từ
Tổ quốc: Tìm từ bắt đầu bằng tiếng đồng ?
Đáp án: Từ bắt đầu bằng tiếng đồng: đồng bào, đồng chí, đồng lòng, đồng
hương, đồng thời, đồng bọn, đồng ca, đồng cảm, đồng điệu, đồng dạng, đồng
hành, đồng đội, đồng tình, đồng nghĩa, đồng môn, đồng loạt, đồng nghiệp, đông
tâm, đồng khởi, đồng diễn,
Các từ trên chưa xuất hiện trong bài “Từ đồng nghĩa” nên nó giúp củng
cố, mở rộng kiến thức một cách vừa sức cho học sinh”, chỉ tốn 1 phút mà đạt
hiệu quả cao.
* Về cảm thụ văn học: Tôi và các học sinh giỏi cùng sử dụng tên sách
nâng cao là “Rèn kĩ năng Cảm thụ thơ văn Tiểu học 5” của tác giả Tạ Đức Hiền
– Nguyễn Việt Nga – Phạm Đức Minh.
- Ngày 10/10/2012, khi dạy bài Hạt gạo làng ta, tôi ra bài cho học sinh
giỏi làm vào vở riêng: Trong bài Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông Đà, nhà
9
TN TN
CN
VN
thơ Quang Huy đã miêu tả một đêm trăng vừa tĩnh mịch vừa sinh động trên
công trường sông Đà như sau:
Lúc ấy, cả công trường say ngủ cạnh dòng sông
Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ
Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ
Chỉ còn tiếng đàn ngân nga
Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà.
Khổ thơ trên có hình ảnh nào đẹp nhất ? Hình ảnh ấy cho ta thấy ý nghĩa
Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày.
Qua hai dòng thơ trên, em hiểu công việc của bầy ong có ý nghĩa gì đẹp
đẽ ?
Với mỗi câu trên, tác giả có phần gợi ý trả lời rất dễ hiểu. Tôi cho học
sinh khá giỏi đọc trong lúc học sinh diện Yếu, Trung bình, rèn đọc bài Tập đọc,
rồi yêu cầu học sinh cất sách tự diễn đạt nội dung trả lời theo cách của mình
vào vở dành riêng cho học bồi dưỡng. Có thể nói tiết tập đọc nào tôi cũng
nghiên cứu, tìm một vài câu trong sách Tiếng Việt nâng cao để lồng ghép để
giúp học sinh khắc sâu kiến thức đã học. Đồng thời tôi cũng thường xuyên
theo dõi lúc chấm chữa bài các học sinh giỏi để các em thấy được mức tiến bộ
của mình, đồng thời tôi cũng phát hiện được những kiến thức nào học sinh còn
chưa vững, những kiến thức nào các em đã khắc sâu mà có điều chỉnh hoặc bổ
sung các bài tập phù hợp.
Tương tự như thế, bài Tập đọc – Học thuộc lòng nào từ tuần 1 đến tuần
29 này tôi cũng tìm các ngữ liệu về từ và câu để lồng ghép hướng dẫn học sinh
ôn tập để củng cố và vận dụng vào Tập làm văn. Xin xem các nội dung ở Phụ
lục 1 trang 32 do tôi tự soạn để lồng ghép củng cố được đính kèm ở cuối đề tài.
Biện pháp 3: Làm giàu vốn từ cho học sinh:
Trong phân môn Tập đọc: Theo nội dung tập huấn thay sách, có 7 biện
pháp để cung cấp từ cho học sinh là:
1. Trực quan (bằng hình vẽ, tranh ảnh, vật thật)
2. Dùng động tác: ví dụ GV đứng nghiêm lúc giảng từ "nghiêm", hoặc cho một
học sinh làm động tác "sút bóng" lúc giảng từ "sút bóng"
3. Dùng vật thật, người thật - còn gọi là "trực quan sống"
4. Tìm từ cùng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giảng. Ví dụ: Muốn giảng từ
"hối hả", GV cho HS tìm từ trái nghĩa (hoặc cùng nghĩa) với "hối hả". Nếu HS
tìm được từ "chậm rãi, đủng đỉnh " xem như đã hiểu từ "hối hả".
5. Dùng ví dụ, liên hệ thực tế hoặc nêu tình huống để minh hoạ cho từ cần giảng.
Ví dụ muốn giảng từ "nhẫn tâm" thì GV có thể nêu việc “con đuổi mẹ già ra
sống ở vỉa hè” vừa đăng trên báo để hs thấy người con “nhẫn tâm”.
lớp thành quá nhiều nhóm đối tượng, nên tôi chia học sinh trong lớp thành 3
nhóm là “nhóm A” (Giỏi) – “nhóm B” (TB-Khá) và “Nhóm C” (Yếu).
Qua vài tuần dạy học và khảo sát chất lượng đầu năm, tôi xác định được
07 em có năng lực tự học tốt, có thể bồi dưỡng nâng cao (nhóm A), gồm:
STT Họ và tên học sinh Đặc điểm
1 Lê Trung Tài Giỏi đều 2 môn TV & Toán
2 Hồ Thị Lan Giỏi đều 2 môn TV & Toán
3 Phạm Đình Nam Giỏi Toán; cần rèn kĩ năng viết văn
4 Lê Đức Tuấn Giỏi Toán; cần rèn kĩ năng viết văn
5 Nguyễn Thị Thanh Trà Giỏi Toán; cần rèn kĩ năng viết văn
6 Nguyễn Thị My My Giỏi Toán; cần rèn kĩ năng viết văn
Danh sách 5 học sinh yếu (nhóm C), gồm:
STT Họ và tên học sinh Đặc điểm
1 Nguyễn Tam Hiếu Yếu đều 2 môn TV & Toán
2 Lê Hoàng Linh Yếu đều 2 môn TV & Toán
3 Nguyễn Quốc Huy Yếu Tiếng Việt; cần rèn kĩ năng viết văn
4 Hứa Văn Trường Vũ Yếu Tiếng Việt; cần rèn kĩ năng viết văn
5 Lê Đại Tới Yếu Toán; cần rèn kĩ năng viết văn
12
Hiện nay, sách Tiếng Việt nâng cao lớp 5 có nhiều loại đang lưu hành
như:
1. Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 (Trần Mạnh Hưởng – Lê Hữu
Tỉnh (NXB Giáo dục)
2. Tiếng Việt nâng cao 5 (Lê Phương Nga – Trần Thị Minh Phương – Lê
Hữu Tỉnh (NXB Giáo dục)
3. Những bài văn hay lớp 5 (Trần Đức Niềm – Lê Thị Nguyên)
4. 155 Bài làm văn hay Tiếng Việt 5 (NXB TPHCM của nhiều tác giả)
5. Rèn kĩ năng Cảm thụ thơ văn Tiểu học 5 (Tạ Đức Hiền – Nguyễn Việt
Nga – Phạm Đức Minh)
d) Chỉ màu đen: đen đen, đen kịt, đen đúa, đen thui, đen ngòm, đen
nhánh, đen đủi (Xin xem phụ lục 2 – trang 36)
13
Biện pháp 5: Rèn viết câu sinh động, gợi tả, gợi cảm, giàu hình ảnh và
nhạc điệu:
Trong phân môn Tập làm văn, tôi rèn cho học sinh cho học sinh kĩ năng
viết những câu văn sinh động, gợi tả, gợi cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu:
Từ cách dẫn dắt, gợi mở của giáo viên và từ một ý cho trước hay từ một
câu đơn (chỉ có một cụm chủ ngữ, vị ngữ), giáo viên hướng dẫn học sinh tập mở
rộng câu bằng cách thêm các thành phần phụ cho câu như: trạng ngữ, bổ ngữ,
động từ, tính từ, từ láy, từ tượng hình, từ tượng thanh,… Sử dụng các hình ảnh,
chi tiết sinh động biểu cảm; các biện pháp nghệ thuật như: nhân hoá, so sánh,
điệp từ, điệp ngữ, hoán dụ, phóng đại,… làm cho cách diễn đạt câu văn, đoạn
văn, thêm cụ thể, sống động giúp người đọc như cùng cảm nhận với mình.
Yêu cầu rèn luyện kĩ năng này có thể thực hiện ở các tiết học luyện từ và
câu hoặc tiết trả bài tập làm văn. Bài tập luyện viết câu sẽ giúp học sinh có ý
thức viết văn ngày càng chặt chẽ về ý tứ, sinh động, giàu xúc cảm,…từ đó giúp
các em thêm hứng thú học tập môn tiếng Việt nói chung và phân môn tập làm
văn nói riêng. Sau đây là một số ví dụ (bài tập) về cách dùng từ, viết câu văn
sinh động mà tôi thường xuyên hướng dẫn các em thực hiện:
*Bài tập 1: Từ những câu văn đã cho, viết lại cho sinh động, gợi cảm xúc
bằng cách thêm biện pháp nghệ thuật:
- Bông hoa hồng xinh đẹp.
+ Bông hoa hồng xinh đẹp đang tươi cười và thì thầm toả hương thơm. (Biện
pháp nhân hoá).
- Các em học sinh quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân trường.
+ Các em học sinh quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân trường tựa
như một đàn bướm xinh tung tăng bay lượn. (Biện pháp so sánh).
- Tôi yêu những người dân đi biển làng tôi, mặt biển trong xanh dậy sóng và
+ Những cánh hoa nhỏ xíu đung đưa trong làn gió sớm.
Ngoài cách viết câu, dùng từ, ngữ nêu trên; trong giảng dạy giáo viên cần
hướng dẫn học sinh chú ý đến các đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt là đa dạng
về kiểu loại (từ đơn, từ ghép, từ láy), phong phú về ý nghĩa (từ một nghĩa, từ
nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa,…), linh hoạt về cách sử dụng (từ dùng
trong sinh hoạt, trong sách vở khoa học, từ địa phương, từ nghề nghiệp,…).
Biện pháp 6: Học tập văn mẫu, lập mạng từ chốt - áp dụng vào thực
hành viết văn:
15
Các bài văn mẫu không những phong phú, đa dạng trong cách mở bài,
thân bài, kết bài mà còn giúp cho học sinh mở rộng, phát triển thêm rất nhiều
các kĩ năng dùng từ đặt câu, xây dựng đoạn văn, sử dụng từ ngữ gợi hình, gợi tả,
trau chuốt hành văn,
Trước khi tôi nhận lớp 5 này, đa số phụ huynh đã mua cho con mình tất cả
các sách vở, kể cả sách nâng cao Toán và tiếng Việt. Trong số 32 học sinh trong
lớp, có đến 27 em có sách Toán và Tiếng Việt nâng cao. Có thể nói đó là một
thực tế không ngăn cấm được ở địa bàn Trường TH Số 1 Duy Phước.
Lê-nin đã từng dạy : “Không có sách thì không có tri thức ”, tôi thấy các
sách nâng cao Tiếng Việt do các chuyên gia của Bộ Giáo dục biên soạn và nhà
xuất bản Giáo dục phát hành có nội dung rất tốt, nó có thể giúp giáo viên giảm
thuyết giảng, nó là phương tiện để giáo viên tổ chức hoạt động tự học cho học
sinh. Hàng chục bộ sách nâng cao đã được phụ huynh mua cho học sinh, nếu
GV biết sử dụng đúng cách thì nó sẽ có ích cho việc dạy học rất nhiều.
Vì vậy, trước khi làm một đề văn, tôi cho học sinh đọc nhiều lần bài văn
mẫu làm ngữ liệu có ngay trong sách giáo khoa để học được ý tưởng của tác giả,
sau đó chọn khoảng 25 – 30 từ mà em cho là hay ghi ra nháp. (Tôi lưu ý HS nên
chọn viết ra các từ láy, từ gợi tả, gợi cảm mà em thích). Để phát triển kĩ năng
viết văn cho học sinh, tôi yêu cầu các em nhìn mạng từ chốt để tự viết câu, đoạn
văn, bài văn có chứa các từ em cho là hay. Khuyến khích học sinh tự diễn đạt
“Ông bà ta thường nói: “Ba tháng biết lẩy, bảy tháng biết bò, chín tháng
lò dò biết đi”, bé Cún con của chú Nam hàng xóm của em đang ở tuổi tập đi tập
nói.
Cún vừa được một tuổi, bé thật bụ bẫm đáng yêu. Bốn cái răng trắng tinh
nhô ra mỗi khi Cún cười. Mái tóc mềm mại như tơ được cắt tỉa gọn gàng ôm lấy
khuôn mặt bầu bĩnh của bé. Đôi mắt Cún tròn, đen lay láy và hàng mi dài uốn
cong một cách tự nhiên. Mỗi khi em sang chơi, bé Cún cười tít mắt rồi vẫy vẫy
đôi tay lũn cũn dễ thương. Cún ngoan lắm, thường bắt chước làm theo. Nếu có
ai gọi thì bé: “D ạ” rất lễ phép, còn nếu ai bảo Cún gọi bà thì Cún gọi:
“b à ơ i” ngọng líu ngọng lô. Cún ngoan nhưng cũng có nhiều tật xấu, nào
là cắn, làm nũng, ngửa cổ ăn vạ, lúc thì đòi đi chơi, lúc lại đòi mẹ bế. Khóc một
lúc là Cún lại lấy đồ chơi ra “sắp sắp” “xếp xếp” trên nền nhà. Khi tập đi, bé
rất thích, cứ cắm đầu cắm cổ mà chạy, ngã huỵch thì Cún lại đứng dậy và đi
tiếp. Cún không bao giờ quậy phá linh tinh và không nghịch dại nguy hiểm.
Em rất quý bé Cún vì bé luôn đem lại những tiếng cười sảng khoái cho
mọi người.”
Cũng với bài văn trên, mạng từ chốt của em Nam như sau:
“xinh - tập nói - tập đi - mắt đen láy - gọn gàng - khuôn mặt bầu bĩnh -
ngoan nhưng hay làm nũng - đòi mẹ bế - thích tập đi - cắm đầu cắm cổ - té ngã -
đứng dậy và đi tiếp - không bao giờ quậy phá - bảo – quý bé.”
Dựa vào mạng từ chốt của mình, em Nam viết thành bài văn:
“Dì của em có một bé trai rất xinh tên là Hoàng Huy. Bé Huy đang ở tuổi
tập nói và đã biết đi tập tễnh. Em không có em ruột nên rất thích bé.
17
Mắt bé tròn to, đen lay láy như hai hòn bi ve. Những sợi tóc mềm mại như
sợi tơ tằm được cắt tỉa gọn gàng. Khuôn mặt bầu bĩnh với làn da trắng hồng
mịn màng. Những khi em đi học về, Huy vừa cười tít mắt vừa chạy ào tới đón
lấy chiếc kẹo kim từ tay em. Bé rất thích chơi trò bán bánh. Bánh làm bằng đất
in trong chén nhựa, đặt vào mấy lá mận rụng trong sân nhà. Bé Huy rất ngoan
Mưa ngớt dần rồi tạnh. Bầu trời sáng và xanh như được một bàn tay thần
kì quét lên một lớp sơn mới. Cầu vồng hiện ra, cong cong, lóng lánh bảy sắc
màu. Cây cối sạch bụi đang hào hứng vươn mình đón lấy những tia nắng ấm áp,
tinh khôi. Ao đầy nước, bè rau muống xanh non mơn mởn những ngọn hồng tía,
mập mạp.
Tôi vui vẻ bước ra bờ ao hái rau muống chuẩn bị cho bữa cơm chiều.
Cơn mưa rào mùa hạ thật đáng yêu phải không các bạn ?”
18
Mạng từ chốt của em Phượng:
“thầm nghĩ – im lìm – không khí ngột ngạt – xám nhạt – giăng kín – điên
cuồng – tung tóe – mù mịt - ầm ì – vỡ tan – nháo nhác – rối rít – tục tục – lũ lượt
– vội vã – sợi mưa – những vòng sóng – sầm sập – dày đặc – tia chớp – vặn vẹo
– bàn tay thần kì – hào hứng – hồng tía.”
Bài văn của em Phượng sau khi học tập cái hay của văn mẫu:
“Trong tự nhiên, mưa nắng lắm khi thất thường. Ngoài trời, những chú
chuồn chuồn bay là là trên mặt ao. Ngồi trong nhà nhìn ra, tôi chợt thầm nghĩ,
có lẽ trời sắp mưa rồi !
Không khí ngột ngạt lắm, chị gió không thấy đến, cây cối đứng im lìm
trông như những cây cột giữa trời. Những đám mây xám nhạt đang ùn ùn kéo
đến giăng kín bầu trời. Bất chợt chị gió bay đến như đang giận dữ, điên cuồng
cuốn những chiếc lá rơi ngoài sân rải tung tóe khắp nơi. Bụi bặm cũng bị cuốn
đi mù mịt. Những đám mây ầm ì, nặng nề như muốn vỡ tan ngay. Gà mẹ nháo
nhác tìm chỗ trú ẩn, tục tục gọi con rối rít. Đàn kiến lũ lượt kéo lên chái bếp.
Mọi người trong nhà chạy ra sân vội vã thu dọn những dây quần áo ngoài sân.
Mưa đến. Mưa rơi lộp độp, lộp độp. Lúc đầu là những sợi mưa thưa thớt
rớt lộp độp trên tàu lá chuối, rơi rải rác xuống mặt ao như những vòng sóng và
giọt nào rơi xuống đất liền bị mặt đất hút lấy ngay. Rồi chỉ một lát sau, mưa
sầm sập đổ xuống như trút nước. Mưa dày đặc không còn nhìn rõ được thứ gì.
Lâu lâu lại có những tia chớp sáng lóe lên rạch ngang bầu trời. Tiếng sấm nổ
Rồi trời dần sáng ra và mưa cũng tạnh hẳn. Bàu trời xanh như được một
bàn tay thần kì quét lên lớp sơn mới. Cầu vồng đã xuất hiện, cong cong, lóng
lánh với bảy sắc màu. Cây cối vươn mình đón những tia nắng ấm áp, tinh khôi.
Ao đã đầy nước, bè rau muống xanh mơn mởn vươn lên những ngọn hồng, đỏ
tía.
Tôi rất vui khi được chứng kiến cơn mưa mùa hạ ở làng quê. Cơn mưa ấy
thật đáng yêu quá !”
- Ngày 11/012013, trong tiết 2 tuần 19, khi dạy Tập làm văn bài “Luyện
tập tả người”, sau khi học chung phần lý thuyết, tôi yêu cầu học sinh: “Đọc bài
văn “Tả bạn của em” và viết ra nháp khoảng 25 – 30 từ em cho là hay.”
Bài văn mẫu:
“Tình bạn !
Ôi ! Mỗi khi nghĩ đến hai tiếng ấy lòng em lại gợn lên bao kỉ niệm đẹp về
bạn Thúy Hằng của em.
Bạn Thúy Hằng năm nay khoảng mười một tuổi, thân hình mảnh mai,
khuôn mặt trái xoan, sống mũi cao, đôi má lúm đồng tiền, trông bạn rất dễ mến,
nhìn vào đôi mắt to tròn đen lay láy với hai hàng mi cong tự nhiên, em có cảm
tưởng như Thúy Hằng là một cô bé “lai” được sinh ra từ một phương trời Tây.
Đặc biệt Hằng có mái tóc vàng hoe hoe mịn màng như những sợi tơ óng ánh
càng làm cho người ta dễ nhầm lẫn. Hằng sinh ra trong một gia đình mà bố mẹ
là người địa phương em. Bố là kĩ sư xây dựng, còn mẹ là một cô giáo tiểu học.
Thúy Hằng ăn mặc bình dị, không chải chuốt, kiểu cách như những cô bé
ở thị thành nhưng gọn gàng, sạch sẽ tươm tất. Đối với công việc được giao,
Hằng rất có trách nhiệm, khi nào cũng đến lớp trước và về sau khi tan học. Bạn
nào có để quên sách vở hay đồ dùng học tập, Hằng thường giữ giùm để buổi
học tới gởi lại cho bạn. Trong lớp có bạn ốm đau, Hằng thường đến hỏi thăm và
chép bài giùm bạn.
Ở nhà, Hằng sắp xếp thời gian hợp lí và thực hiện nghiêm túc giờ nào
việc ấy, và còn tranh thủ giúp bố mẹ làm những công việc vặt trong gia đình.
Bạn là con chim đầu đàn của lớp 5A. Thầy cô, bạn học đều rất khen ngợi. Riêng
“kỉ niệm – mảnh mai – đen láy – vàng hoe hoe – sợi tơ óng ánh – bình dị
– chải chuốt – gọn gàng –tươm tất – trách nhiệm – sắp xếp thời gian hợp lí –
thực hiện nghiêm túc – con chim đầu đàn – thân thiết – đức tính tốt – tấm gương
sáng – phấn đấu”
Nhìn mạng từ chốt mình vừa viết ra, em Quốc viết thành bài văn sau:
“Tình bạn! Mỗi khi nhắc đến hai chữ ấy, lòng em lại rộn lên bao kỉ niệm
về bạn Diễm Như.
Như năm nay khoảng mười một tuổi, bạn có thân hình mảnh mai như một
diễn viên nhí. Khuôn mặt hình trái xoan, sóng mũi cao, hàng lông mi công tự
nhiên. Đôi mắt Diễm Như đen lay láy như mắt bồ câu. Mái tóc mịn màng, vàng
hoe hoe như những sợi tơ óng ánh. Đặc biệt Diễm Như ăn mặc rất bình dị,
không chải chuốt như những học sinh khác ở thành thị nhưng bạn ấy rất gọn
gàng, sạch sẽ tươm tất. Là lớp trưởng nên Diễm Như rất có trách nhiệm với lớp.
Bạn sắp xếp thời gian rất hợp lí. Bạn đi học rất sớm và thường là người ra về
cuối cùng. Nếu có ai để quên đồ dùng học tập, Như giữ giùm và đem trả lại cho
các bạn. Bạn là người thực hiện nghiêm túc giờ nào ra việc ấy. Ngoài giờ học,
21
về nhà, Diễm Như còn tranh thủ giúp mẹ các việc vặt cho gia đình: rửa chén,
quét nhà, nấu cơm, Bố của Diễm Như là kĩ sư xây dựng, mẹ Như là giáo viên
của trường trung học. Diễm Như là con chim đầu đàn của lớp 5A, là người bạn
thân thiết nhất của em. Vì có những đức tính tốt nên Như được thầy cô khen
ngợi.
Diễm Như là một tấm gương sáng để các bạn noi theo. Em sẽ cố gắng
phấn đấu để trở thành học sinh xuất sắc toàn diện như Diễm Như.”
- Ngày 15/01/2013, trong tiết 2 tuần 20, khi dạy Tập làm văn bài “Tả
người (kiểm tra viết)”, sau khi học chung phần lý thuyết, tôi yêu cầu học sinh:
“Đọc bài văn “Tả một nữ nghệ sĩ hài được yêu thích” và viết ra nháp khoảng
25 – 30 từ em cho là hay.”
Bài văn mẫu ở sách “Những bài văn hay lớp 5” như sau:
bà già trông rất ngộ. Vì vậy các nhà báo thường đặt cho chị cái tên “ Bà già
Thúy Nga”.
Chị không đóng các vai hài mà chị còn thâm nhập vào các chương trình
âm nhạc. Bài chị hát luôn tạo ra tiết tấu thật vui nhộn, sinh động trong lời ca có
một vài điệu nhảy ngộ nghĩnh.
Trong những fan trung thành em cũng là một trong những thành viên đó.
Em ước sau này cũng là một nghệ sĩ hài giống chị Thúy Nga. Vì em hiểu rằng
làm nghệ sĩ hài không dễ chút nào nhưng cố gắng thì sẽ thành công.”
Cùng bài văn mẫu trên, em Tuấn viết mạng từ chốt như sau:
“dán mắt vào ti vi – sảng khoái – nhỏ nhắn – kết hợp – thu hút – đỏng đảnh –
chua ngoa – âu yếm – thâm nhập – tiết tấu – vui nhộn – sinh động – ngộ nghĩnh
– trung thành.”
Đây là bài văn của em Tuấn:
“Dường như tuần nào,cứ vào mỗi trưa thứ bảy, thì em dán mắt vào ti vi
để xem chương trình “Gặp nhau cuối tuần” trên đài VTV3. Đặc biệt là những
chương trình “Gặp nhau cuối tuần” trên đài VT3. Đặc biệt là những chương
trình có chị Thúy Nga đóng, lúc ấy nếu có rủ đi công viên nước thì chắc chắn là
em không đi đâu.
Chị Thúy Nga tuy còn trẻ nhưng rất tài giỏi. Chị luôn mang đến những nụ
cười sảng khoái cho người xem. Nhờ có thân hình nhỏ nhắn với khuôn mặt hình
trái xoan và mái tóc óng mượt như nhung kết hợp với giọng nói dịu dàng nên
chị thu hút rất nhiều khán giả. Chị không chỉ đóng vai những cô gái đỏng đảnh,
chua ngoa mà chị còn đóng vai các cụ già nên báo chí thường gọi chị với cái
tên thật âu yếm: “Bà già Thúy Nga”. Có khi chị còn thâm nhập vào thị trường
âm nhạc nữa đấy nhé ! Những bài hát của chị thường có tiết tấu nhanh, vui
nhộn và cử chỉ diễn xuất sinh động, ngộ nghĩnh đáng yêu. Chị có một lán da
trắng như tuyết. Đôi mắt bồ câu long lanh truyền cảm. Khi hát khuôn mặt chị
biểu hiện rõ cảm xúc của mình. Giọng hát trong trẻo, hồn nhiên và dễ thương
làm sao !
Em là một trong những fan hâm mộ trung thành của chị. Em ước sao khi
nó lên móc cẩn thận cho thẳng thớm, không bị nhàu. Em sẽ giữ gìn nó thật cẩn
thận để nó luôn mang màu trắng tinh khôi.”
Sau khi đọc nhiều lần bài văn mẫu để học được ý tưởng của tác giả, sau
đó chọn khoảng 25 – 30 từ mà em cho là hay ghi ra nháp, em Trà viết ra các từ
chốt sau:
“ nhàm chán – mềm mại – rộng rãi – thoải mái – nóng nực – khéo léo –
nghịch ngợm – nhừ đòn – đều đặn – xinh xắn – hãnh diện – đồng phục – thẳng
thớm – trắng tinh khôi.”
Nhìn mạng từ chốt, em Trà tự viết bài văn:
“Chiếc áo sơ mi trắng và quần tây màu xanh dương thường là đồng phục
đồng hành cùng em đến trường. Ngày nào, tôi cũng mặc bộ quần áo này đến
trường nhưng không hề có cảm giác nhàm chán gì cả.
Chiếc áo làm bằng vải ka-tê trắng nên khi chàm vào có cảm giác rất mềm
mại. Chiếc áo không bị nhăn nên mẹ em không phải ủi nhiều. Cổ áo to tròn
rộng rãi nên rất thoải mái khi mặc. Cái măng-sét ôm khít vào cổ tay rất vừa
vặn, khi nóng nực em thường xắn lên cho mát hơn. Từng đường chỉ được may
rất khéo léo. Chỗ gần vai bên cánh tay trái có cái lô-gô của trường em. Như
vậy, mọi người khi nhìn vào có thể biết em tên gì và học trường nào. Khi có cái
bảng tên lúc ấy các bạn sẽ ngoan hơn. Vì nếu nghịch ngợm, quấy phá thì bạn
khác sẽ mách với thầy cô, lúc ấy sẽ bị nhừ đòn đấy.
Được may đều đặn là những đường chỉ trắng tinh. Hàng khuy nối đuôi
nhau thẳng tắp trông thật xinh xắn.
24
Em luôn hãnh diện và tự hào khi mặc bộ đồng phục này. Khi đi học về,
em cẩn thận cởi áo treo lên móc cho thẳng thớm. Em sẽ luôn giữ gìn cho bộ
quần áo trắng tinh khôi.”
Cùng bài văn mẫu trên, em Hồng viết ra nháp các từ chốt:
“sơ mi – ka tê trắng – rộng rãi – măng sét – cổ tay – nóng nực – khéo léo
– nghịch ngợm – đường kim mũi chỉ – co giãn – đùa giỡn – hề hấn – thẳng tắp –
học sinh đại trà viết một đoạn văn có “7-10 câu”. Đó là yêu cầu với học sinh đại
trà.
Thường thì các em viết khoảng 3-5 dòng là đủ 7-10 câu.
25