chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế của tổng công ty viễn thông quân đội viettel - Pdf 25

- 1 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GRIGGS
CHƯƠNG TRÌNH THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH
DOANH QUỐC TẾ
ooOoo
CHỦ ĐỀ
CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ
TRƯỜNG QUỐC TẾ CỦA TỔNG CÔNG
TY VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI VIETTEL
Nhóm số: 01
1. Nguyễn Mạnh Tùng
2. Trần Thanh Tịnh
3. Nguyễn Tất Quang
4. Vũ Anh Tú
H À N Ộ I 2 0 0 9
MỤC LỤC
- 2 -
Mục Nội dung Trang
Các từ viết tắt 5
LỜI NÓI ĐẦU 6
Giới thiệu nghiên cứu 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Kết cấu của luận văn 8
Chương I Tổng quan về chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế. 8
1.1 Khái quát chung về chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế 8
1.1.1 Sự cần thiết mở rộng hoạt động của doanh nghiệp ra thị
trường quốc tế
8

43
2.2.1 Khái quát chung về quá trình thâm nhập thị trường quốc tế 43
- 3 -
của Viettel
2.2.2 Thực trạng lựa chọn thị trường - quốc gia mục tiêu -
Campuchia
48
2.3 Thực trạng lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường 73
2.4 Thực trạng hoạt động marketing của Viettel 74
2.4.1 Nghiên cứu thị trường - phân đoạn nhóm khách hàng và lựa
chọn đoạn thị trường mục tiêu
74
2.4.2 Chính sách sản phẩm 77
2.4.3 Chính sách giá cả 79
2.4.4 Chính sách phân phối 80
2.4.5 Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh 81
2.5 Đánh giá chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế của Viettel
trong thời gian qua
84
Chương III Các giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược thâm nhập thị
trường quốc tế của Viettel.
88
3.1 Định hướng chiến lược 88
3.2 Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp 89
3.2.1 Đào tạo nguồn nhân lực hướng tới nền kinh tế tri thức 89
3.2.2 Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường 91
3.2.3 Xác định đúng thị trường mục tiêu 92
3.2.4 Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ 92
3.2.5 Xây dựng chính sách giá cước linh hoạt 94
3.2.6 Thiết lập mạng lưới kênh phân phối hợp lý 95

12 VoDSL Voice over Digital Subscriber Line
13 VoIP Voice over Internet Protocol
14 VAS Value-added services
15 W-CDMA Wideband Code Division Multiple Access
16 WLL Wireless local loop
17 WCA 1. Wireless Communications Alliance
18 Wifi Wireless Fidelity
19 Wimax Worldwide Interoperability for Microwave Access
20 PR Public relations
21 PSTN Public switched telephone network
22 3G Third generation technology
23 TC Telecom Combodia
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Mặc dù Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) từ tháng
11/2006 nhưng phải đến cuối năm 2008 cho tới đầu năm 2009 các doanh nghiệp viễn
thông nước ngoài mới thực sự đổ bộ vào Việt Nam theo nhiều hình thức. Tuy nhiên
đây cũng là giai đoạn gấp rút để các doanh nghiệp viễn thông trong nước xác định cho
mình những hướng đi cụ thể để giữ vững được thương hiệu cũng như thị phần trong
chiếc bánh viễn thông đầy hấp dẫn tại Việt Nam. Một số doanh nghiệp viễn thông Việt
Nam đã tìm thấy những cơ hội kinh doanh mới cho riêng mình bằng cách vừa giữ vững
thị trường trong nước đồng thời từng bước vươn ra thị trường quốc tế. Ðến nay, với các
dự án đang triển khai tại nước ngoài, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh
nghiệp viễn thông trong nước đã lên đến hàng trăm triệu USD. Không chỉ dừng lại ở
thị trường trong khu vực như Lào, Cam-pu-chia , nhiều doanh nghiệp viễn thông Việt
Nam đang tiếp tục tìm kiếm những cơ hội kinh doanh, đầu tư tại các nước châu Âu,
châu Mỹ Tranh thủ tìm kiếm, nắm bắt những cơ hội mới tại thị trường quốc tế chính
là cách giúp các doanh nghiệp củng cố tiềm lực để có thể đứng vững, vượt qua được
giai đoạn kinh tế khó khăn hiện nay để từng bước khẳng định mình trên trường quốc tế.
Không nằm ngoài xu thế đó, Tổng công ty viễn thông quân đội Viettel đã tiên

Campuchia của Tổng công ty Viettel.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện, khóa luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
khoa học để phân tích lý luận và thực tiễn: phương pháp duy vật biện chứng, phương
pháp tổng hợp thống kê, phương pháp phân tích từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn
khách quan, từ khái quát đến cụ thể, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp đặt
- 8 -
vấn đề và suy luận logic. Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, biểu
đồ để làm tăng thêm tính trực quan của khóa luận.
5. Kết cấu của luận văn
Không kể phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương I : Tổng quan về chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế.
Chương II : Thực trạng chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế của Viettel.
Chương III : Các giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế
của Viettel.
Chương I
TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ
1.1. Khái quát chung về chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế:
1.1.1. Sự cần thiết mở rộng hoạt động của doanh nghiệp ra thị trường quốc
tế.
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường được coi là vấn đề sống còn của mỗi
doanh nghiệp, bởi vậy mà các doanh nghiệp luôn cố gắng có được thị trường và chiếm
lĩnh nó với thị phần lớn. Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, nếu như các
doanh nghiệp chỉ trông chờ vào thị trường nội địa với lượng người tiêu dùng có hạn, và
ngày càng xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh trong nước và nước ngoài thì mong muốn
chiếm được thị phần lớn khó có thể đạt được. Doanh nghiệp có thể khắc phục tình
trạng đó bằng cách chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác hay nghiên cứu cải tiến sản
phẩm…, tuy nhiên thị trường vẫn hạn hẹp vì số lượng người tiêu dùng không tăng lên.
Do đó, tìm kiếm và phát triển ra thị trường nước ngoài sẽ là một giải pháp hay bởi thị
trường bên ngoài biên giới quốc gia là vô cùng rộng lớn với nhu cầu rất đa dạng, phong

Do phạm vi của thị trường nội địa hạn chế, gia tăng đối thủ cạnh tranh,… nên gây
khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, mở rộng ra thị trường
nước ngoài cho phép doanh nghiệp tận dụng những ưu đãi trong các quy định của quốc
- 10 -
gia khác về mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp, giảm cường độ cạnh tranh,… và từ
đó giảm rủi ro trong kinh doanh.
 Đối với sự phát triển của quốc gia:
- Tận dụng được những lợi thế của quốc gia so với các quốc gia khác để nhanh
chóng phát triển kinh tế, nâng vị thế của đất nước trên trường quốc tế:
Trong trao đổi thương mại quốc tế, theo lý thuyết lợi thế so sánh, tất cả các bên
tham gia đều có lợi ngay cả đối với những nước có năng suất lao động thấp hơn.
Những nước này nếu biết chuyên môn hóa vào những lĩnh vực sản xuất có lợi nhất
hoặc ít bất lợi nhất với chi phí cơ hội thấp nhất, thì dù trong điều kiện nào cũng có thể
nhờ ngoại thương mà tiết kiệm chi phí.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và mở rộng giao lưu giữa các nền kinh tế của từng
nước, từng khu vực, sẽ có thêm nhiều cơ hội để các sản phẩm của Việt Nam tham gia
ngày càng sâu vào thị trường thế giới, đồng thời cũng đặt các doanh nghiệp trước nhiều
thách thức. Cần phải khai thác có hiệu quả những lợi thế so sánh của đất nước trong
việc tham gia vào phân công lao động quốc tế, làm cho sản phẩm của Việt Nam ngày
càng đáp ứng nhu cầu thị trường thế giới, thu hút được nhiều vốn, tranh thủ được công
nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước để đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngoài ra, sản phẩm được chuyên môn hóa sẽ có chất lượng
cao, khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài sẽ góp phần nâng cao vị thế, danh tiếng
quốc gia với các quốc gia khác trên toàn thế giới.
- Thâm nhập thị trường nước ngoài có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy sản xuất
trong nước và mở rộng thị trường tiêu thụ:
Xuất khẩu có ý nghĩa lớn đối với các quốc gia có mức thu nhập thấp hơn so với
khu vực và thế giới. Ở những nước đang và chậm phát triển, do mức thu nhập bình
quân đầu người thấp nên sức mua thấp, làm cho thị trường nội địa chật hẹp không đủ
khả năng trang trải cho chi phí sản xuất các mặt hàng theo đúng tiêu chuẩn quốc tế.

hoạch định một quá trình từ việc xác định mục tiêu, định hướng thâm nhập, đến việc
xây dựng chiến lược marketing mix bao gồm các bước sau:
- 12 -
- Xác định những quan điểm mục tiêu, định hướng thâm nhập thị trường bao
gồm: các mục tiêu lâu dài và mục tiêu ngắn hạn. Từng doanh nghiệp xuất nhập khẩu
khi xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường thế giới phải quán triệt những quan điểm
mục tiêu định hướng thâm nhập thị trường thế giới của cả nước, của địa phương nói
chung và của doanh nghiệp nói riêng nhằm đảm bảo phát triển xuất khẩu theo định
hướng đã định. Việc xác định mục tiêu này là khác nhau ở từng doanh nghiệp.
- Xác định thị trường - quốc gia mục tiêu: phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến
việc lựa chọn các phương thức thâm nhập thị trường thế giới của các doanh nghiệp. Để
từ đó làm căn cứ xác định quốc gia mục tiêu và xác lập chiến lược thâm nhập thị
trường của doanh nghiệp.
- Lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường hợp lý.
- Triển khai hoạt động marketing trong từng giai đoạn cụ thể.
- Quyết định cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
1.2.1. Xác định các thị trường cần nghiên cứu
Khi quyết định vươn ra thị trường thế giới, bước đầu tiên doanh nghiệp cần thực
hiện là tiến hành lựa chọn thị trường - quốc gia mục tiêu. Để làm được điều này, doanh
nghiệp cần có cái nhìn tổng quát về thị trường thế giới và lên danh sách những thị
trường nước ngoài mình quan tâm. Sau đó, doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu,
phân tích cụ thể, so sánh các cơ hội và thách thức của từng nước ứng viên. Kết hợp
cùng việc phân tích các nguồn lực hiện có, doanh nghiệp sẽ quyết định có lựa chọn
quốc gia đó là thị trường mục tiêu hay không.
1.2.2. Phân tích môi trường kinh doanh của nước sở tại
Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô của quốc gia bản địa là tổng thể các yếu tố
bên ngoài doanh nghiệp, sẽ có tác động nhiều mặt đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, ảnh hưởng đến việc hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường của doanh
nghiệp.
 Môi trường kinh tế:

thống pháp luật minh bạch, công bằng, đầy đủ, hoàn thiện, sẽ tạo điều kiện cho doanh
nghiệp kinh doanh lâu dài và ổn định.
 Môi trường xã hội và nhân khẩu:
Bao gồm những vấn đề về dân số, mật độ dân cư, cơ cấu dân số theo giới tính, lứa
tuổi, quy mô gia đình… Sự thay đổi các yếu tố này sẽ tác động đến nhu cầu tiêu dùng
hàng hóa và dịch vụ, do đó sẽ quyết định quy mô của thị trường.
 Môi trường văn hóa, con người:
Nhân tố văn hóa, con người là tổng hòa của các yếu tố: văn hóa, tôn giáo, tín
ngưỡng, đời sống tâm linh của con người, thái độ của con người với bản thân, với người
khác và với cộng đồng,… nó quyết định đến hành vi, liên quan đến tập quán, thói quen,
thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường. Do vậy, để có thể xây dựng được chiến lược
thâm nhập thị trường phù hợp và khả thi thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có những hiểu
biết cặn kẽ về các yếu tố văn hóa, quan điểm tiêu dùng của mỗi độ tuổi, nghề nghiệp, của
dân cư các vùng ….
Môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố như tài nguyên, đất đai, vấn đề ô nhiễm
môi trường…,Đó là hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng nhiều mặt đến vấn đề
nguồn lực đầu vào cần thiết cho sản xuất kinh doanh, đến vấn đề tiêu thụ đầu ra của
doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp không thể không chú ý đến những ảnh hưởng của
yếu tố môi trường tự nhiên này.
 Môi trường khoa học, công nghệ:
Tìm hiểu về môi trường khoa học, công nghệ thực chất là tìm hiểu về trình độ và
xu hướng phát triển công nghệ ở trong và ngoài nước để có phương án lựa chọn công
nghệ phù hợp. Doanh nghiệp phải nắm được xu hướng thay đổi công nghệ để kịp thời
cải tiến công nghệ sản xuất ra sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng hơn, có
tính cạnh tranh ngày càng cao hơn.
 Môi trường cạnh tranh:
Khi gia nhập vào thị trường nước ngoài, việc đối mặt với các đối thủ cạnh tranh là
điều tất yếu. Sự cạnh tranh đó không chỉ bó hẹp trong quy mô của một nước mà nó
mang tính chất toàn cầu. Mức độ cạnh tranh tại thị trường quốc tế rất gay gắt, cạnh

xuất, kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ đã xác định. Xác định đúng khả năng, thực lực
- 16 -
của mình chính là bước quan trọng giúp doanh nghiệp tạo được tính cạnh tranh cho sản
phẩm của mình sau này.
Kết quả phân tích các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh của nước ứng viên sẽ
được xem xét cùng với các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp để doanh nghiệp đưa
ra quyết định lựa chọn thị trường- quốc gia mục tiêu.
1.2.4. Lựa chọn thị trường - nhóm khách hàng mục tiêu.
Sau khi tiến hành phân tích môi trường bên ngoài (nước nhập khẩu) và khả năng
tham gia thị trường quốc tế của doanh nghiệp, chúng ta xác lập được một danh sách
các quốc gia/thị trường theo tiềm năng và triển vọng của các thị trường đó. Tiếp đến,
cần phải xác định các quốc gia/thị trường mục tiêu dựa trên 3 căn cứ sau:
- Tiềm năng của cầu thị trường
- Cường độ cạnh tranh
- Mục tiêu và nguồn lực của doanh nghiệp
Sau khi xác định được quốc gia/thị trường mục tiêu, doanh nghiệp cần phải phân
đoạn thị trường và đi đến quyết định về đoạn thị trường mục tiêu cuối cùng mà doanh
nghiệp sẽ tập trung thâm nhập. Để phân đoạn thị trường, doanh nghiệp phải nghiên cứu
thị trường, xây dựng chi tiết các tiêu thức phân đoạn và lựa chọn phân đoạn. Mục đích
cuối cùng là tìm ra những đặc điểm riêng biệt của các đoạn thị trường mục tiêu. Doanh
nghiệp có thể sử dụng nguyên tắc địa lý, nhân khẩu học, tâm lý học, … để phân đoạn
thị trường. Sau khi thị trường được phân đoạn theo những tiêu chí đã định, doanh
nghiệp sẽ tiến hành lựa chọn phân khúc thị trường phù hợp với mục đích theo đuổi của
mình. Doanh nghiệp phải có được các tiêu chí làm căn cứ so sánh, đánh giá rồi từ đó
chọn ra một thị trường tiềm năng nhất và phù hợp với khả năng của công ty nhất để
tiến hành chiến lược thâm nhập.
1.2.5. Lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường quốc tế.
Sau khi quyết định tiến hành tiêu thụ ở một nước nào đó, điều quan trọng đối với
những nhà quản trị chiến lược của công ty là phải lựa chọn được phương thức tốt nhất để
thâm nhập thị trường đã chọn. Bởi có như vậy thì công ty mới có thể xác định một cách

khác, công ty có thể có được lợi thế đáng kể về quy mô sản xuất qua khối lượng bán
toàn cầu của mình.
- Hiệu quả của chiến lược xuất khẩu là nhằm hướng tới làm cho sản phẩm thích
ứng và thỏa mãn được nhu cầu của người tiêu dùng và sự ưa thích của thị trường. Đồng
thời làm cho các chính sách giá cả, phân phối và xúc tiến được liên kết chặt chẽ với
nhau trong một chiến lược marketing tổng thể.
 Nhược điểm:
- Các sản phẩm xuất khẩu được sản xuất từ cơ sở của công ty chính quốc có thể
không phù hợp với nhu cầu và điều kiện thị trường địa phương.
- Chi phí vận chuyển cao có thể làm cho việc xuất khẩu trở nên không kinh tế,
đặc biệt đối với các sản phẩm cồng kềnh. Ngoài ra, các hàng rào thuế quan cũng có thể
làm giảm lợi nhuận của công ty.
- Những rủi ro bắt nguồn từ nguyên nhân ít kinh nghiệm xuất khẩu, ít am hiểu
thị trường của các công ty mới bước chân vào kinh doanh quốc tế.
Các công ty có thể tiến hành xuất khẩu hàng hóa của mình theo 2 phương thức: tự
tiến hành những hoạt động xuất khẩu - xuất khẩu trực tiếp, hoặc sử dụng dịch vụ của
những người trung gian marketing quốc tế - xuất khẩu gián tiếp.
- Xuất khẩu trực tiếp:
Hình thức xuất khẩu trực tiếp xuất hiện khi doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu trực
tiếp cho người mua hay người nhập khẩu ở thị trường nước ngoài. Có nhiều dạng xuất
khẩu trực tiếp như : phòng xuất khẩu của công ty chịu trách nhiệm bán hàng ở nước
ngoài, chi nhánh thương mại, người bán hàng lưu động, hoặc đại lý và nhà phân phối
đặt ở nước ngoài.
- Xuất khẩu gián tiếp:
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức khi doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm ra thị
trường nước ngoài thông qua các tổ chức độc lập trong nước. Đó là các trung gian bán
buôn trong nước, các công ty thương mại, các đại lý đặt trong nước, người mua thường
trú, người môi giới xuất nhập khẩu, đại lý xuất khẩu của người sản xuất, công ty quản
lý xuất khẩu.
(bỏ bảng 1.1)

- 20 -
1.2.5.2. Chuyển nhượng giấy phép (Licence)
Việc chuyển nhượng giấy phép là người sản xuất ký hợp đồng với bạn hàng nước
ngoài với nội dung trao cho họ quyền sử dụng một quy trình sản xuất, một nhãn hiệu,
một sáng chế hay bí quyết kinh doanh có giá trị thương mại.
 Ưu điểm:
- Người cấp giấy phép có điều kiện thâm nhập thị trường với rủi ro nhỏ nhất,
còn người được cấp giấy phép không phải bắt đầu từ đầu bởi vì họ đã có ngay kinh
nghiệm sản xuất, hàng hóa hay tên tuổi đã nổi tiếng. Thật vậy, một công ty với công
nghệ, bí quyết và có trình độ chất xám cao có thể sử dụng các thỏa ước cấp giấy phép
để làm tăng thêm khả năng lợi nhuận của mình mà không phải tiến hành bất cứ một
hoạt động đầu tư nào với một chi phí rất hạn chế. Các chi phí ở đây bao gồm chi phí ký
kết thỏa ước và kiểm soát việc thực hiện chúng. Chuyển nhượng giấy phép là lựa chọn
hấp dẫn cho doanh nghiệp thiếu vốn để phát triển ở nước ngoài hay những doanh
nghiệp không muốn bỏ nguồn lực vào thị trường không quen thuộc hoặc thị trường
nước ngoài bất ổn về chính trị.
- Ngoài ra, việc cấp giấy phép cũng có thể đẩy mạnh việc phổ biến của các sản
phẩm và công nghệ mới. Ví dụ: khi hãng máy tính APPLE đưa ra phần mềm kĩ thuật
số trợ giúp cá nhân Newton vào mùa thu 1993, công ty đã cấp giấy phép sản xuất sản
phẩm này cho hãng SHARP, MATSUSHITA và một số công ty khác. Các nhà quản lý
của APPLE tin tưởng rằng những hãng này sẽ tạo ra các sản phẩm có liên quan và do
vậy có thể thúc đẩy sự tiêu thụ của Newton.
 Nhược điểm:
- Nhược điểm tiềm ẩn của việc cấp giấy phép là công ty không kiểm soát được
người được cấp giấy phép như là đối với một xí nghiệp do chính mình thành lập. Nói
cách khác, phương thức này không tạo ra cho công ty một sự giám sát chặt chẽ cần có
đối với các chức năng sản xuất và marketing cũng như chiến lược ở các thị trường
nước ngoài.
- Ngoài ra, khi sử dụng hình thức chuyển nhượng giấy phép, người sản xuất phải
chia sẻ bí quyết công nghệ cho người nước ngoài. Nếu người được cấp giấy phép thành

- Việc bán quyền kinh doanh có thể làm giảm uy tín và hạn chế khả năng phối
hợp chiến lược toàn cầu của công ty bởi trên thực tế, những người mua quyền kinh
doanh thường không quan tâm đầy đủ đến chất lượng dịch vụ cung cấp. Để khắc phục
nhược điểm này, công ty có thể thành lập công ty con ở mỗi thị trường hay khu vực mà
nó đang mở rộng hoạt động.
1.2.5.4. Liên doanh ( Joint Venture)
Việc tham gia liên doanh với một hoặc một số đối tác nội địa có thể coi là một
hình thức mở rộng hơn các hoạt động xuất khẩu và cấp giấy phép khi thâm nhập vào
một thị trường nước ngoài. Liên doanh là một sự liên kết những người góp vốn trong
nước và nước ngoài nhằm mục đích xây dựng một công ty thương mại sở tại do họ
cùng sở hữu và cùng quản lý. Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua một phần công ty sẵn
có, công ty sở tại có thể mua một phần xí nghiệp sở tại của công ty nước ngoài, hay cả
hai bên cùng góp sức thành lập một xí nghiệp liên doanh hoàn toàn mới.
 Ưu điểm:
Ưu điểm của lựa chọn này là việc chia sẻ rủi ro giữa các đối tác, cũng như tăng
cường khả năng kết nối các công tác mang tính hiệu quả dây chuyền lại với nhau, ví dụ
như việc nâng cao năng lực marketing quốc tế và hoạt động sản xuất. Tuy nhiên khi
lựa chọn phương thức này công ty cần có sự hiểu biết sâu sắc về thị trường nội địa, hệ
thống phân phối sản phẩm và cần có khả năng tiếp cận với các nguồn nhân công và
nguồn nhiên liệu có giá rẻ. Đối với các công ty trong nước khi tham gia liên doanh với
các đối tác nước ngoài, họ có thể nắm giữ các bí quyết về công nghệ, sản xuất và ứng
dụng. Hay các công ty thiếu vốn cũng có thể liên doanh với nhau để cùng tài trợ cho
một dự án. Ngoài ra, trong trường hợp chính phủ của đất nước sở tại đưa ra các luật lệ
nhằm bảo vệ các công ty trong nước, ngăn cấm sự kiểm soát của các công ty nước
ngoài, song lại cho phép liên doanh thì hình thức liên doanh được coi là phương thức
tốt để thâm nhập thị trường nước đó.
 Nhược điểm:
- 23 -
- Các bên đối tác có thể có những bất đồng ý kiến về vốn đầu tư cơ bản,
marketing và những nguyên tắc hoạt động khác.Ví dụ: trong khi nhiều công ty Mỹ

chọn các chiến lược của mình từ việc cấp phép hay tham gia liên doanh, song chiến
lược đầu tư trực tiếp thường có tốc độ bành trướng thị trường nhanh hơn, kiểm soát và
thu được lợi nhuận nhiều hơn.
 Nhược điểm:
Tuy nhiên việc đầu tư trực tiếp thường là phương thức tốn kém nhất để phục vụ
thị trường nước ngoài. Công ty mẹ phải chịu toàn bộ chi phí và rủi ro của việc thành
lập các công ty con ở nước ngoài. Có 2 loại rủi ro: rủi ro kinh tế vĩ mô và rủi ro kinh tế
vi mô. Loại thứ nhất ít gặp hơn nhưng nếu có nó sẽ ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của
cả công ty. Đó là những vấn đề kinh tế và chính trị lớn có ảnh hưởng đến một nước và
là mối đe dọa đối với các khoản tiền đầu tư đã bỏ ra. Nó có nguồn gốc là những sự kiện
chính trị hay quân sự, hoặc một sự bất ổn định về tài chính, dẫn đến hạn chế tự do
chuyển nhượng vốn, lao động,…Hay cũng có thể là những quy định của chính phủ
nước sở tại về thuế hay những điều chỉnh, hạn chế tự do hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.5.6. Một số phương thức khác
Ngoài các phương thức thâm nhập thị trường thế giới nêu trên, các doanh nghiệp
có thể thâm nhập thị trường thông qua một số phương thức khác như: giao thầu sản
xuất, quản lý theo hợp đồng.
- Giao thầu sản xuất: là sự hợp tác hoặc chế tạo hoặc lắp ráp sản phẩm do nhà
xuất khẩu thực hiện ở nước ngoài. Nhà xuất khẩu ký kết hợp đồng với những người sản
xuất ở nước sở tại về việc sản xuất hàng hóa bằng lao động của doanh nghiệp sản xuất,
sau đó hàng hóa sẽ được tiêu thụ tại chính nước của doanh nghiệp sản xuất đó. Ưu
điểm của hình thức này là tạo cho công ty khả năng triển khai hoạt động nhanh hơn, ít
rủi ro hơn, có thể giảm giá thành sản phẩm nếu giá nhân công và nguyên liệu tại nơi
sản xuất thấp; mở ra triển vọng hợp tác với người sản xuất sở tại hay mua luôn xí
nghiệp của họ. Tuy nhiên hình thức này cũng có những hạn chế. Đó là ít kiểm soát
- 25 -

Trích đoạn Một số phương thức khác Chính sách sản phẩm xuất khẩu Chính sách giá cả Chính sách khuếch trương và xúc tiến thương mạ Nhóm giải pháp từ phía Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status