Giải pháp nâng cao thị phần tiêu thụ chè trên thị trường quốc tế của Tổng Công Ty chè Việt Nam - Pdf 24

§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
Bước sang thế kỷ mới , thế kỷ 21 với nhiều thành tựu về Văn
Hoá - Xã Hội cũng như Kinh Tế - Chính trị . Đất nước ta đang ngày càng đổi
mới , mọi người , mọi nhà đang tích cực hăng say cùng nhau xây dựng một
đất nước Việt Nam giàu đẹp văn minh . Chúng ta đang cố gắng từng bước ,
từng vững chắc để tiến lên một nước Công Nghiệp Hoá - Hiện Đại Hoá . sắp
tới đây khi chúng ta đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế
giới ( WTO ) một cơ hội mới đang mở ra trước mắt cho đất nước chúng ta .
Các doanh nghiệp kể cả nhà nước cũng như tư nhân có nhiều cơ hội hơn cho
sự phát triển củ mình . Đặc biệt hiện nay ở nước ta các doanh nghiệp nhà
nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế . Nó chiếm vai trò chủ đạo và là động lực thúc đẩy thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước . Nhận thấy vai trò quan trọng
của các doanh nghiệp này trong sự phát triển nền kinh tế , thời gian qua Đảng
và Nhà nước ta đã triển khai nhiều chủ trương và biện pháp nhằm thúc đẩy sự
phát triển và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước . Trong đó
việc đưa ra các giải pháp về tiêu thụ và chế biến trong nước cũng như quốc tế
của các công ty là một trong những vấn đề trọng tâm của chương trình đổi
mới nền kinh tế Việt Nam . Để thực hiện có hiệu quả chương trình này ,
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương và biện pháp nhằm thúc đẩy
các công ty cũng như Tổng công ty thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ của
mình .Hiện nay , việc nâng cao thị phần tiêu thụ sản phẩm của các công ty ở
trong nước cũng như quốc tế đã có những bước chuyển biến quan trọng ,
nhiều doanh nghiệp đã khẳng định được vị trí của mình , thích ứng với cơ chế
thị trường , ổn định và phát triển , góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của
nền kinh tế nước nhà , đưa nước nhà từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu
vực và thế giới .
Nhận thức được đây là một chủ trương tạo nên sức mạnh mới cho sự
phát triển của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng . Nhất là
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt

đen , chè vàng , chè đỏ , chè hoà tan nhanh , chè xi rô .....
Trong lá chè có nhiều sinh tố và chất kích thích hoạt động cơ thể con
người , có cả chất chống phóng xạ . chè xanh có thể giúp giảm lượng
colesteron , điều hoà huyết áp , tăng cường mao dẫn , hạn chế boé phài và là
một thứ thuốc lợi tiểu tốt . Đặc biệt sử dụng chè có khả năng ngăn ngừa bệnh
ung thư , bệnh bạch hầu và bệnh SIDA . Uống nước chè còn có khả năng kéo
dài tuổi thọ . do đó nước chè là một loại nước uống cần thiết cho con người .
Giờ đây nước chè đã trở thành một phần chính không thể thiếu được sau mỗi
bữa ăn của nhiều gia đình ở các nước trên thế giới .
Ở việt nam , từ lâu nước chè đã đi vào cuộc sống hàng ngày của
moị người dân . Uống nước chè đã trở thành tập quán , chè đã trở thành người
bạn tri âm , tri kỷ , đã gắn bó với mọi người dân .
Hiện nay trên thế giới có khoảng 95 nước uống chè . chỉ tính riêng 12
nước nhập khẩu chè nhiều nhất thế giới , hàng năm đă nhập trên 1,15triệu
tấn , trong khi đó chỉ có 28 nước có điều kiện tự nhiên trồng chè . Việt nam là
một trong những nước có điều kiện khí hậu và đất đai thuận tiện cho cây chè
phát triển , do đó cây chè được phát triển rất sớm . Trên đỉnh cao Suối Giàng
tỉnh Nghĩa Lộ hiện nay có những cây chè tuyết cổ thụ có độ tuổi từ 300- 400
năm tuổi , được đồng bào H'Mông trồng , chăm sóc , thu hái từ lâu đời , có
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
cây hai người ôm không xuể . Điều này cho thấy rằng cần phát triển một
ngành chè vững mạnh nói chung và Tổng công ty chè nói riêng .
2. Lịch sử hình thành và phát triển của cây chè việt nam
Theo thư tịch cổ việt nam , cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng : cây
chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ sông hồng và cây chè ở miền núi phía
bắc
Lê Quý Đôn trong sách " vân đài loại ngữ " ( 1773 ) có ghi trong mục
IX , phẩm vật như sau :
".....cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am thiêm , Am Giới và Am Các ,

-> chè Việt Nam -> chè Vân Nam lá to -> chè Trung Quốc -> chè Assam ( ấn
độ )"
Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận: Đại thể cây
chè phát nguyên từ 1 vùng sinh thái hìng cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga,
Manipuri và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía
tây, ngang qua Trung Quốc ở phía đông và theo hướng nam chạy qua các
ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục tây đông từ kinh độ 95
độ đến 120 độ đông, trục bắc nam từ vĩ độ 29 độ đến 11 độ bắc.
- Chè Việt Nam phát triển qua các trời kỳ sau :
a. Thời kỳ trước 1882
Từ xa xưa , người Việt Nam trồng chè dưới 2 loại hình :
- Chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi , tại vùng chè Đồng Bằng Sông
Hồng ở Hà Đông , chè đồi ở Nghệ An
- chè rừng vùng núi , uống chè mạn , lên men 1 nửa , như vùng Hà
Giang , Bắc Hà...
b. Thời kỳ năm 1882- 1945
Ngoài 2 loại chè trên . xuất hiện mới 2 loại chè công nghiệp chè đen
công nghệ truyền thống OTD và chè xanh sao chảo Trung Quốc . Bắt đầu
phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết bị công nghệ hiện
đại . Người dân Việt Nam , sản xuất chè xanh tại hộ gia đình và tiểu doanh
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
điền . Chè đen xuát khẩu sang thị trường Tây Âu , chè xanh sang thị trường
Bắc Phi là chủ yếu . Diện tích chè cả nước là 13305 ha , sản lượng 6.000 tấn
chè khô/ năm .
c. Thời kỳ độc lập ( 1945 - nay )
- Sau 1945 , nhà nước xây dựng các nông trường quốc doanh và hợp
tác xã nông nghiệp trồng chè , chè đen OTD xuất khẩu sang Liên Xô - Đông
Âu , và chè xanh xuất khẩu sang Trung Quốc .
- Đến hết 2004 tổng diện tích chè là 120.000 ha và hơn 90.000 ha là chè

tranh các vung nguyên liệu với nhau dẫn tới giá thanh chè dội lên rất cao .
tron khi chất lượng chè lai giảm . Điều này ảnh hưởng tới giá thành chè xuất
khẩu của việt Nam trên thị trường thế giới .
Năm 2003 cũng là một năm đầy biến cố đối với ngành chè của chúng ta
. chiến tranh gữa Mỹ -Iraq đã làm tổn hại rất lớn đối với ngành chè Việt
Nam , vì Iraq là thị trường tiêu thụ chè lớn nhât của chúng ta trong suốt thời
gian qua. Thị trường nay không tiêu thụ được sản phẩm dẫn tới viẹc sản xuất
cũng như tiêu thụ chè của chúng ta vào thị trường thế giới giảm đi một cách
rõ rệt Nhưng sang năm 2004 thì đã có sự đổi khác , theo thông tin từ bộ
thương mại trong 5 tháng đầu năm 2004 , các đối tác nhập khẩu chè lớn của
Việt Nam là Anh , Đức , Nga , Hoa kỳ ....vẫn tăng lượng nhập khẩu . Bên
cạnh đó nhu cầu nhập chè xanh của Nhật Bản , Trung Quốc cũng tăng , khién
xuất khẩu chè của Việt Nam trong tháng tăng khá . chè Việt Nam hiện có mặt
tại 59 quốc gia và vùng lãnh thổ . Đặc biệt thị trường Iraq đã đi vào phục hồi
và ổ định đồng thời thị trường Trung Quốc cũng tăng trưởng vững chắc . nhu
cầu tiêu thụ chè của thế giới cũng tăng rất khả quan . Theo bộ thương mại đén
hết năm 2004 chúng ta đã xuát khẩu được 97.000 tấn đạt kim ngạch xuất khẩu
93 triệu USD , tăng 68% về lượng và 76% về giá trị so với 2003 .
Tuy nhiên vấn đề càn khắc phục hiện nay là nâng cao chất lượng và đa
dạng hoá sản phẩm chè đẻ đáp ứng nhu cầu của từng loại thị trường . Chẳng
hạn thị trường Nhật Bản đang hứa hẹn nhiều hợp đồng xuất khẩu chè xanh
lớn và ổn định , nhưng đòi hỏi phải có chất lượng cao từ nguồn nguyên liệu
cho đến chế biến , nhất là chè xanh Ô Long được chế biến theo công nghệ của
Nhật Bản . còn Nga thị trường tiêu thụ khoảng 160.000 tấn chè , trong đó
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
90% chè nhập khẩu , thì thương hiệu chè của Việt Nam chưa được người dân
ở đây biết đến , bởi từ trước tới nay , Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Nga
chè nguyên liệu với giá thấp .
II. những yêu cầu của hội nhập

đều có một khối quan hệ thương mại lành mạnh thì chắc chắn khả năng cùng
tồn tại hoà bình , cùng có lợi sẽ bền vững hơn . hơn nữa thương mại thuận lợi
cũng giúp cuộc sống người dân ở mọi nơi trên thế giới có cuộc sống khá giả
hơn . niềm tin là chìa khoá giúp tránh được viễn cảnh bạo lực trên thương
trường . khi các chính phủ đều tin rằng các nước khác sẽ không tăng cường
các hàng rào mậu dịch thì chính họ cũng không có ý định lam như vậy . họ
cũng sẽ ở trong một tâm trạng tốt hơn nhiều để cùng hợp tác . hệ thống
thương mại WTO đóng vai trò sống còn trong việc tạo ra và củng cố niềm tin
đó .
Hai là : trong quá trình tự do hoá và đa phương hoá thương mại , dù có
tích cực đến đâu cũng không tránh khỏi những cuộc tranh chấp quyền lợi lẫn
nhau . nếu cứ để phó mặc thì những cuộc tranh chấp này có thể kéo dài và dẫn
tới những cuộc xung đột nghiêm trọng . WTO sẽ đóng vai trò trọng tài duy
nhất giả quyết các mâu thuẫn thương mại đó một cách xây dựng . từ ngày
thành lập tới nay WTO đã giải quyết hơn 200 vụ tranh chấp thương mại gữa
các quốc gia thành viên chứng minh đièu đó .
Ba là : Hoạt động của WTO hoàn toàn dựa trên những nguyên tắc
chung chứ không phải là sức mạnh , cho nên đã làm giảm bớt thật sự những
bất bình đẳng , giúp cho các nước nhỏ có nhiều tiếng nói hơn , và đồng thời
cũng giải thoát cho những nước lớn khỏi sự phức tạp trong những thoả thuận
và các hiệp định thương mại với vô số đối tác thương mại của họ . thêm vào
đó , các nước nhỏ có thể hoạt động hiệu quả hơn nếu họ tận dụng những cơ
hội để thành lập các liên minh và góp chung các nguồn lực . Một vài nước
cũng đã làm viẹc này .
Bốn là : Thương mại tự do sẽ làm giảm bớt chi phí cuộc sống . chúng ta
đều là những người tiêu dùng . giá cả mà chung ta trả cho thức ăn , quần áo ,
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
những vật dụng cần thiết , những xa xỉ phẩm , và tất cả mọi thứ khác đều chịu
sự tác động của chính sách thương mại . Chủ nghĩa bảo hộ dẫn đến độc quyền

gia nhập tổ chức thương mại thế giơi ( WTO ) . Thực tế mà nói một khi chúng
ta gia nhập được tổ chưc này thì việc mở rộng hợp tác quốc tế với các nước
trên thế giới cũng như các quốc gia trong khối ASEAN ngày càng thuận lợi
hơn . Nhưng bên cạnh đó vì là một nước đang trong giai đoạn phát triển lên
con đường công nghiệp hoá , hiện đại hoá đồng thời lại vừa mới chập chững
bước vào WTO ắt hẳn sẽ gặp không ít khó khăn thử thách . Những khó khăn
đấy không chỉ là bó hẹp trong một ngành , một lĩnh vực mà là trong toàn bộ
nền kinh tế nói chung .
WTO đem đến cho người tiêu dùng nhiều sự lụa chọn hơn , theo đó là
phạm vi đối tác , chất lượng , số lượng hàng hoá để lựa chọn cũng rộng hơn .
Tự do hoá thương mại , mở rộng cách của xuất , nhập khẩu cho phép chúng ta
có nhiều sự lựa chọn hơn . Thậm chí chất lượng của hàng hoá sản xuất nội địa
có thể nâng lên do chính sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu . Một số ngành kinh
tế nói chung và Ngành chè nói riêng là một ngành kinh tế còn non trẻ , sản
phẩm của chúng ta chưa gây được tiếng vang lớn trên thị trường trên thế giới .
các sản phẩm cũng đạt chất lượng chưa cao , nhiều lúc không đáp ứng đựoc
những yêu cầu của các thị trường lớn và khó tính như : Trung Đông, EU
....Mặt khác hiện nay trên thế giới cũng có nhiều loại chè phổ biến và nổi
tiếng , được mọi người ưa dùng như : lipton , Dimah ...Do đó khi chúng ta hội
nhập WTO các sản phẩm chè cũng như các mặt hàng khác không tránh khỏi
việc bị các sản phẩm cuả các nước khác chèn ép .
Việc nỗ lực gia nhập WTO của chúng ta đã là một điều khó khăn , đến
khi gia nhập được và tạo cho sản phẩm của mình một chỗ đứng còn là khó
khăn hơn gấp nhiều lần . Hiện nay trên thế giới có rất nhiều sản phẩm chè nổi
tiếng do đó chúng ta phải tạo dựng được thương hiệu chè Việt Nam trên thị
trường quốc tế thì lúc đó các sản phẩm của chúng ta mới vững mạnh và gây
được tiếng vang trên trường quốc tế .
2. Hội nhập AFTA vời ngành chè
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT

§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nứoc . khi các nước cắt giảm dầm
thuế thì hàng hóa của Việt Nam sẽ có cơ hội tốt để thâm nhập vào khu vực thị
trường rộng lớn .
Tham gia AFTA , Việt Nam có điều kiện để mở rộng thị trường ưu đãi
của AFTA . Hiện nay , khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là từ
các nước thành viên của ASEAN các mặt hàng được chúng ta ưu tien nhập về
là máy móc , thiết bị và nguyên liẹu phục vụ cho nhu cầu sản xuất công
nghiệp mà Việt Nam chưa tự đáp ứng được hay chi phí quá cao .
Tham gia vào AFTA các mặt hàng này sẽ được giảm thuế nhập khẩu từ
mức 0-5% . Như vậy , diện các mặt hàng nhập khẩu được mở rộng nhanh
chóng . Hơn nữa , do cơ cấu các danh mục tham gia CEPT bao gồm cả hàng
nông sản thô và cả nống sản chế biến nên nếu Việt Nam tăng cường sản xuát
hàng nông sản thì sự cắt giảm về thuế sẽ trở thành yếu tố kích thích cho các
doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất các loại mặt hàng này để xuất khẩu sang
ASEAN và các nước ngoài khu vực , từ đó phát huy được lợi thế so sánh
tuyệt đối của Việt Nam trong việc sản xuất các loại hàng hoá này với nước
khác . Mặt khác ASEAN còn là cầu nối để Việt Nam tiếp cạn với thị trường
thế giới , ít bị phụ thuộc vào một số thị trường lớn , khó tính như Nhật Bản ,
Tây Âu .
Tham gia vào AFTA , Việt Nam có điều kiện thay đổi cơ cáu kinh tế ,
nhất là cơ cáu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá chú trọng vào xuất khẩu ,
tăng tỷ trọng hàm lượng kỹ thuật trong hàng hoá xuát khẩu
Tham gia AFTA Việt Nam có cơ hội để phát triẻn sản xuất công nghiệp
, thương mại , dịch vụ và nông nghiệp tạo nên cơ cấu kinh tế thích hợp , đồng
thời thúc đẩy sự cạch tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường khu vực và
thế giới .
Một trong những cái lợi của Việt Nam khi tham gia vào AFTA là đầu
tư nước ngoài sẽ tăng lên , ngành công nghiệp ché biến Việt Nam có điều kiện
để xuất khẩu mạnh sang thị trường ASEAN . các nhà đầu tư nứoc ngoài đầu

cùng với việc cắt giảm thúe quan , đơn giản hoá thủ tục xuất nhập khẩu thì giá
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
cả hàng hoá sẽ hạ . Hiện nay hoàng hoá của chúng ta còn chịu nhiều loại thuế
và các chi phí khác không cần thiết ,thêm vào đó là trình độ quản lý của
chúng ta còn nhiều hạn chế . chính những điều này góp phần đẩy hàng hoá
của Việt Nam cao hơn so với sản phẩm cùng loại của nhiều nước trong khu
vực . chính vì vậy vấn đề đặt ra đói với nhiều doanh nghiệp của Việt Nam
hiện nay là phải chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu , loại bỏ những chi
phí không cần thiết , nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ lãnh đạo doanh
nghiệp , tập trung xuất khẩu những hàng hoá nằm trong danh mục cắt giảm
thuế CEPT . có như vậy thì các doanh nghiệp mới có điều kiện để phát triển ,
có lợi về giá cả hàng hoá khi xuất khẩu sang thị trường ASEAN .
Hội nhập vào thị trường ASEAN , một thách thức đặt ra đối với chúg ta
là vừa có thể xây dựng được một chính sách quản lý nhà nước thích hợp nhằm
bảo đảm một " sân chơi bình đẳng " cho các doanh nghiệp trong nước và khu
vực nhưng lại không mất đi chức năng quản lý nhà nước về thương mại . đơn
giản hoá các thủ tục hành chính vá hàng hoá của Việt Nam có thể xâm nhập
vào thị trường ASEAN một cách nhanh chóng hơn , hiệu quả hơn .
2.3. điều kiện hội nhập afta với ngành chè
Trong giai đoạn đầu của hội nhập , Việt Nam cần xuất nhập khẩu
những mặt hàng , những sản phẩm tạo điều kiện bổ sung kinh tế giữa các
quốc gia như xuất khẩu gạo , chè , dầu mỏ , thiếc và nhập khẩu các thiết bị ,
máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp , công nghiệp chế biến , sản xuất
hàng tiêu dùng , sản phẩm hoá chất , công nghệ sản xuất xe máy ...
Thực hiện việc cắt giảm nhanh các mặt hàng trong quan hệ mậu dịch
của khối vì tỷ trọng xuất nhập khẩu của Việt Nam còn bé so với thị trường thế
giới và khu vực . Đồng thời tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đặc biệt là
việc " ban hành quy chế đầu tư nước ngoài " để các doanh nghiệp chủ động
đầu tư ra nước ngoài , trước hết là khối ASEAN , do đó ngành chè của chúng

1 Diện tích chè tổng số (ha)
-Diện tích kinh doanh
5.608
5.454
5.825
5.553
6.246
5.553
5.792
5.121
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
-Diện tích KTCB
-Diện tích trồng mới
51
103
96
196
414
297
447
224
2 Năng suất chè (tấn/ha) 6,99 7,71 8,82 10,10
3 Tổng sản lượng chè búp
tươi tự sản xuất (tấn)
38.143 42.670 48.976 51.737
Nguồn số liệu:Tổng công ty chè
Sau 5 năm tổ chức lại mô hình Tổng công ty nhà nước, Tổng
công ty chè Việt Nam đã đạt được những bước phát triển đáng kể so với
những năm trước đây. Nhờ kết quả đầu tư của năm 2001 và những năm trước

tốt.
Những người làm chè khẳng định: "Cho đến nay trên đất trung du,
miền núi này, chưa có cây nào thích hợp và mang lại hiệu quả kinh tế nh cây
chè". Nhưng cái sức sống của ngành chè không chỉ đơn thuần tạo ra của cải,
lợi nhuận mà là tạo được sự thống nhất giữa yêu cầu kinh tế với nhu cầu xó
hội, như là cái cốt lừi của phương pháp kinh doanh xó hội chủ nghĩa trong
điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Đó là đa khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, tạo công ăn việc làm cho hàng chục vạn lao động, việc
khai thác tiềm năng dồi dào của đất đai, khí hậu để tăng thêm của cải cho xó
hội; việc bảo vệ mụi trường thiên nhiên phủ xanh đất trống đồi núi trọc, việc
góp phần đáng kể làm sáng tỏ con đường phát triển kinh tế - xó hội ở trung du
và miền nỳi mà Đảng đó đề ra.
Mục tiêu đến năm 2010 mà những người làm chè trong cả nước cần
vươn tới là có hon 150.000 ha chè kinh doanh, sản xuất ra 150.000 tấn sản
phẩm chè các loại với chất lượng ngày một cao hơn, trong đó dành 120.000
tấn xuất khẩu để đạt kim ngạch khoảng 200 triệu USD, nhằm nâng cao thêm
một bước cuộc sống của người làm chè nói riêng và góp phần đẩy nhanh tốc
độ phát triển kinh tế - xó hội ở trung du, miền nỳi núi chung".
Để làm được điều này, vấn đề đặt ra hiện nay đối với ngành chè là tiếp
tục bổ sung và hoàn thiện cỏc mụ hỡnh tổ chức sản xuất kinh doanh để tạo ra
động lực kinh tế ngày càng mạnh mẽ hơn. Mặt khác, phải tạo ra được những
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
giống chè tốt; đi vào thâm canh cùng với đa dạng hoá cây trồng, đa dạng hoá
sản phẩm; phải hiện đại các nhà máy chế biến chè, tạo nguồn vốn lớn, mở
rộng được thị trường trong nước và ngoài nước trước sự cạnh tranh quốc tế
gay gắt... Sự nỗ lực của bản thân ngành chè chưa đủ mà cần có sự hỗ trợ của
Nhà nước, của các cấp, các ngành, các địa phương bằng những chính sách và
việc làm cụ thể, thiết thực.
2. Tình hình chế biến trong thời gian qua

công ty có năng lực chế biến 22.000 tấn/ năm chiếm 32% cả nước.
Hiện nay, sản phẩm chế biến của ta gồm 3 loại chính là chè đen
orthodox, chè đen CTC và chè xanh. Chất lượng sản phẩm trong những năm
qua tăng lên rõ rệt, nhất là sản phẩm của các nhà máy chế biến có công suất
từ 12 tấn/ ngày với thiết bị đồng bộ. Nếu loại trừ yếu tố chất lượng nguyên
liệu chè búp tươi thì khâu chế biến đạt loại chất lượng trung bình của thế giới,
một số nhà máy với thiết bị hiện đại của Nhật Bản, Đài Loan, ấn Độ đạt chất
lượng loại khá.
Nhìn chung công nghiệp chế biến chè của nước ta cũng như của Tổng
công ty thời gian qua tuy tăng mạnh về năng lực (trừ các doanh nghiệp nhà
nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài) mới chỉ chú
trọng đến quy mô sản lượng, mà ít quan tâm đến đầu tư đồng bộ và đầu tư
chiêu sâu để nâng cao chất lượng sản phẩm. Sự bựng nổ về số lượng nhà mỏy
chế biến khụng theo quy hoạch dẫn tới sự thiếu chủ động và tranh nhau vựng
nguyờn liệu. Lấy ví dụ về sự bùng nổ này là năm 2001, tỉnh Thái Nguyên mới
cú 18 doanh nghiệp chế biến, nhưng 8 thỏng đầu năm nay, Thỏi Nguyờn đó
xuất hiện thờm 11 nhà mỏy nữa. Sở nụng nghiệp ngay lập tức đó kiến nghị sở
khoa học đầu tư tỉnh ngưng cấp phép xây dựng thêm nhà máy. Các nhà máy
được trang bị bằng thiết bị của Liên Xô (cũ) nay đã quá già cỗi, nhà xưởng
đã hết thời hạn khấu hao và sử dụng, việc cải tạo và mở rộng lại rất khó khăn
Hiện nay toàn ngành chè chưa có một nhà máy nào đạt ISO 9000 và
HACCAP. Các xưởng chế biến thủ công bán cơ giới mini và lò thủ công quá
nhiều , các cơ sở này sản xuất ra chất lượng chè quá thấp, không đủ tiêu
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
chuẩn vệ sinh thực phẩm. Với mức đầu tư thấp các mini này đã cạnh tranh
mua nguyên liệu chè búp tươi rất mạnh với các nhà máy chế biến hiện đại-
điều này đã làm nản lòng các nhà đầu tư quy mô lớn và thiết bị hiện đại, ảnh
hưởng rất xấu đến chất lượng và uy tín của chè Việt Nam trên thị trường xuất
khẩu, giảm hiệu quả kinh tế chung của toàn ngành.

thụ bình quân đầu người của nước ta còn thấp xa so với nhiều nước trên thế
giới. Tỷ lệ chè tiêu thụ trong nước chiếm rất nhỏ trong tổng sản lượng chè của
Tổng công ty, và lại có phần giảm đi qua các năm :
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
Biểu : Sản lượng chè nội tiêu của Tổng công ty
Năm 2001-2004
Đơn vị:Tấn
Ch
ỉ tiêu
2001 2002 2003 2004
Sản
lượng
Tỷ lệ
%
Sản
lượng
Tỷ lệ
%
Sản
lượng
Tỷ
lệ %
Sản
lượng
Tỷ
lệ
%
Sản
lượng

1.1.2. Diễn biến về thị trường
Nếu như trước đây ở nông thôn chủ yếu uống chè tươi ( nấu trực tiếp từ
lá, cành chè ), số ít người thuộc tầng lớp trên quen dùng “trà Tàu” (loại chè
chế biến từ Trung Quốc nhập vào) thì ngày nay cả dân thành thị và dân nông
thôn cũng đã quen sử dụng chè gói, ngoài Bắc quen uống trà nóng còn trong
Nam lại uống trà đá là chủ yếu. Các loại chè ướp hương: nhài, sen, ngâu
chiếm khoảng 10% chè nội tiêu đã tăng lên nhanh chóng và chè nhài đã trở
nên phổ biến. Tại thị trường nội tiêu có tới trên 90% chè xanh được bán dưới
dạng chè đựng trong túi hoặc hộp 100 gr. Trong khi đó mức tiêu thụ nội tiêu
chè đen chỉ chiếm 1%, thị phần chủ yếu là chè túi nhúng Lipton nhập khẩu.
1.1.3. Diễn biến giá cả và đối thủ cạnh tranh
Với quy mụ sản xuất và xuất khẩu như hiện nay, nhưng chố Việt Nam
đang bị cạnh tranh gay gắt ngay tại thị trường nội địa bởi cỏc nhón hiệu chố
Dimah, Lipton, Qualiti… của nước ngoài. Những sản phẩm chè này được giới
trẻ Việt Nam rất ưa chuộng và uống nhiều trong các quán trà giải khát đặc
biệt ở những thành phố lớn.
Sản phẩm chố chủ yếu của cỏc doanh nghiệp hiện nay là chố
đen cú độ ẩm cao, giỏ thấp và chưa cú nhón hiệu tờn tuổi "Cả những vựng
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn C«ng Hoµng ViÖt
§Ò ¸n tèt nghiÖp Khoa : KH-PT
chố đặc sản nổi tiếng của Việt Nam như chố Thỏi Nguyờn, chố Tõn Cương,
chố Suối Giàng ... cũng mới một số nơi như chố Tõn Cương, manh nha đăng
ký xuất xứ hàng hoỏ trong nước, chứ chưa cú đăng ký tờn tuổi trờn thế giới".
Do chất lượng thấp lại khụng đồng đều nờn giỏ chố của ta thường thấp hơn
giỏ thế giới 15-20%. Do đú, "phần lớn cỏc nhà nhập khẩu nước ngoài thớch
nhập chố của Việt Nam ở dạng sơ chế rồi mang về thờm hương liệu, cải tiến
mẫu mó, bao bỡ và bỏn ra thị trường với tờn gọi mới". Những yếu kộm của
sản xuất, chế biến và xuất khẩu chố Việt Nam đang được Vinatas cựng cỏc
doanh nghiệp trong ngành xõy dựng dự thảo về tiờu chuẩn xõy dựng nhà mỏy
chế biến chố đen, quy trỡnh cụng nghệ và yờu cầu kỹ thuật từ khõu vận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status