BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
BÀI TIỂU LUẬN KẾ TOÁN CÔNG
Đề tài số 30:
MỐI QUAN HỆ GIỮA KHO BẠC NHÀ
NƯỚC VÀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM
GVHD: Phạm Quang Huy
SVTH : Lê Nguyễn Hoàng
Oanh
Lớp : Kế
toán ngày –K20
Tp.HCM, ngày 08 tháng 10 năm 2012
MỤC LỤC
TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
………………………………….1
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
………………………………………………………2
I. Tổng quan về Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Nhà
nước……………… 2
1. Kho bạc Nhà
nước………………………………………………………2
2. Ngân hàng Nhà
nước……………………………………………………5
II. Mối quan hệ giữa Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước
KẾT LUẬN……………………………………………………………………….13
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………… 14
TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Nước Việt Nam sau bao nhiêu năm chiến tranh với nhiều biến cố đau thương nay
đã và đang trở thành nước phát triển, mở rộng cửa giao thương và hội nhập với
nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là quốc gia đi theo chính Đảng -
xét, quyết định như:
Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị
quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ; dự thảo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhà nước;
Chiến lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành
động, đề án, dự án quan trọng về quản lý quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài
chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước.
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định gồm: Dự thảo thông tư và
các văn bản khác về lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhà nước; hay Kế hoạch hoạt
động hàng năm của Kho bạc Nhà nước.
- Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy phạm nội
bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước.
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc lĩnh vực quản lý quỹ ngân sách nhà nước,
các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước sau khi được cấp có
thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt.
2
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực quản lý của Kho bạc
Nhà nước.
- Quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác được
giao theo quy định của pháp luật:
- Được trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại Kho bạc Nhà nước để nộp
ngân sách nhà nước hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho ngân
sách nhà nước theo quy định của pháp luật; từ chối thanh toán, chi trả các khoản
chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức hạch toán kế toán ngân sách nhà nước, các quỹ và tài sản của Nhà
nước được giao quản lý, các khoản vay nợ, viện trợ, trả nợ của Chính phủ và chính
quyền địa phương theo quy định của pháp luật; báo cáo tình hình thực hiện thu,
chi ngân sách nhà nước cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước liên
quan theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Huy động vốn; Vụ Kế toán nhà nước; Vụ Kho quỹ; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Tổ
chức cán bộ; Vụ Tài vụ - Quản trị; Văn phòng; Thanh tra; Sở Giao dịch Kho bạc
Nhà nước; Cục Công nghệ thông tin;
Tổ chức sự nghiệp như: Trường Nghiệp vụ Kho bạc; Tạp chí Quản lý Ngân
quỹ Quốc gia.
- Cơ quan Kho bạc Nhà nước ở địa phương:
Kho bạc Nhà nước ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Kho
bạc Nhà nước cấp tỉnh) trực thuộc Kho bạc Nhà nước;
Kho bạc Nhà nước ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
Kho bạc Nhà nước cấp huyện) trực thuộc Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh.
Kho bạc Nhà nước được tổ chức điểm giao dịch tại các địa bàn có khối lượng
giao dịch lớn theo quy định của Bộ Tài chính.
- Kho bạc Nhà nước có Tổng giám đốc và không quá 03 Phó Tổng giám đốc do Bộ
trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo quy định của pháp
4
luật. Tổng giám đốc là người đứng đầu Kho bạc Nhà nước, chịu trách nhiệm trước
Bộ trưởng Bộ Tài chính và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Kho bạc Nhà
nước.
(Trích dẫn từ Quy định 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/08/2009 về quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc
Bộ Tài chính).
2. Ngân hàng Nhà nước
2.1Chức năng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng
trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động
ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng
của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng
và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.
2.2Nhiệm vụ, quyền hạn
lập doanh nghiệp đặc thù nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng
Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát ngân hàng; xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và
ngân hàng theo quy định của pháp luật.
- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với tổ chức tín dụng vi phạm
nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, gặp khó khăn về
tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng, gồm mua cổ phần
của tổ chức tín dụng; đình chỉ, tạm đình chỉ, miễn nhiệm chức vụ người quản lý,
người điều hành của tổ chức tín dụng; quyết định sáp nhập, hợp nhất, giải thể tổ
chức tín dụng; đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt; thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản đối với tổ
chức tín dụng.
6
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng chính sách, kế hoạch và
tổ chức thực hiện phòng, chống rửa tiền.
- Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật
về bảo hiểm tiền gửi.
- Chủ trì lập, theo dõi, dự báo và phân tích kết quả thực hiện cán cân thanh toán
quốc tế.
- Tổ chức, quản lý, giám sát hệ thống thanh toán quốc gia, cung ứng dịch vụ
thanh toán cho các ngân hàng; tham gia tổ chức và giám sát sự vận hành của các
hệ thống thanh toán trong nền kinh tế.
- Quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh
vàng.
- Quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước.
- Quản lý việc vay, trả nợ, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài theo quy định của
pháp luật.
- Chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan chuẩn bị nội dung, tiến hành đàm
phán, ký kết điều ước quốc tế với tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế mà Ngân hàng
Nhà nước là đại diện và là đại diện chính thức của người vay quy định tại điều ước
trường mở thông qua mua, bán giấy tờ có giá
- Phát hành tiền giấy, tiền kim loại; xử lý tiền rách nát, hư hỏng; Ban hành, kiểm
tra nghiệp vụ phát hành tiền; Thực hiện cấm các hành vi bị trái phép như làm và
vận chuyển tiền giả, hủy hoại đồng tiền trái phép…
- Cho vay, bảo lãnh, tạm ứng cho ngân sách
- Thanh toán và ngân quỹ: Mở tài khoản và thực hiện giao dịch trên tài khoản;
Tổ chức,quản lý, vận hành, giám sát hệ thống thanh toán quốc gia; Cung cấp dịch
vụ ngân quỹ; Làm đại lý cho Kho bạc Nhà nước
- Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối …
8
(Trích dẫn từ Luật 46/2010/QH12 thông qua 16 tháng 6 năm 2010 quy định về tổ
chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
9
II. Mối quan hệ giữa Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước
Từ những khái niệm ban đầu ta khó thấy mối quan hệ giữa Kho bạc Nhà nước và
Ngân hàng Nhà nước bởi Kho bạc thuộc Bộ tài chính, giúp Bộ tài chính quản lý và
thực hiện Quỹ Ngân sách quốc gia, còn Ngân hàng là cơ quan thuộc trực tiếp
Chính phủ, giúp Chính phủ trong việc quản lý tiền tệ, hoạt động ngân hàng và
ngoại hối, thực hiện chức năng phát hành tiền.
Tuy nhiên theo Quy định 108/2009 của Thủ tướng và Luật 04/2010 do Quốc hội
ban hành ghi rõ rằng:
- Kho bạc được phép mở tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản thanh toán tại Ngân
hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại để thực hiện các nghiệp vụ thu, chi,
thanh toán của mình.
- Ngân hàng Nhà nước thì thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà
nước. Ngoài ra, Ngân hàng nhà nước còn làm đại lý cho Kho bạc trong việc tổ
chức đầu thấu, phát hành, lưu ký và thanh toán tín phiếu, trái phiếu kho bạc.
Việc Kho bạc Nhà nước mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện
các nghiệp vụ thu chi ngân sách quốc gia là điều bình thường nhưng vấn đề ở đây
là mở tài khoản tiền gởi tại Ngân hàng Nhà nước và cả tại các ngân hàng thương
Đối với chính sách tài khóa, quản lý tiền ngân sách một cách chặt chẽ và hiệu
quả có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với điều hành kinh tế vĩ mô. Theo nguyên lý
điều hành của nền kinh tế thị trường, thông thường khi nền kinh tế phát triển quá
nóng, Chính phủ sẽ thắt chặt chính sách tài khóa bằng cách giảm chi tiêu công và
tăng thuế. Hiệu ứng của biện pháp này cũng giống như chính sách tiền tệ là giảm
cung vốn cho nền kinh tế. Khi đó, nguồn vốn của ngân sách phải được quản lý
chặt chẽ, nhờ vậy lạm phát có thể được kìm hãm, tạo nên thế cân bằng trong kinh
tế vĩ mô. Thế nhưng, điều gì sẽ xảy ra khi nguồn vốn ngân sách được duy trì trên
tài khoản của Kho bạc mở tại ngân hàng thương mại? (mặc dù đó là tài khoản giao
dịch hay tài khoản tiền gửi). Rõ ràng, điều dễ nhận thấy là nguồn tiền này sẽ ra
11
lưu thông thông qua con đường tín dụng của ngân hàng thương mại. Như vậy,
chính sách tài khóa thắt chặt chi tiêu công của Chính phủ sẽ kém hiệu quả. Trong
trường hợp này sẽ xảy ra hiệu ứng thay thế, có nghĩa nguồn vốn đầu tư từ ngân
sách giảm sẽ được bù đắp bằng nguồn tín dụng của ngân hàng.
Chúng ta thử đặt ngược lại tình hình là nếu nền kinh tế suy giảm, Chính phủ
phải áp dụng chính sách tài khóa “nới lỏng”, tăng chi tiêu công thì điều gì sẽ xảy
ra nếu phần lớn nguồn vốn nằm tại ngân hàng thương mại. Trường hợp này sẽ làm
phát sinh hai tình huống mà tình huống nào cũng đều nguy hiểm cả. Nếu nguồn
vốn đó đã được các ngân hàng thương mại đầu tư vào nền kinh tế thông qua kênh
tín dụng thì các ngân hàng sẽ rút tiền về để thanh toán cho ngân sách. Động thái
này của ngân hàng thương mại cũng giống như động thái trên đây của Chính phủ
là nguồn vốn đã đầu tư vào nền kinh tế phải được rút về để đáp ứng nhu cầu rút
tiền của Kho bạc, vì vậy tiền Kho bạc đưa ra nền kinh tế trong trường hợp này lại
làm vai trò “thay thế’ cho phần vốn vay bị thu hồi. Còn nếu trường hợp nguồn
vốn tín dụng đã cho vay không thu hồi kịp để đáp ứng lệnh rút tiền của Kho bạc
thì ngân hàng thương mại phải nỗ lực huy động vốn trên thị trường để cân đối.
Nếu vậy, điều gì sẽ xảy ra? Điều không khó dự đoán đó là một phần lớn nguồn tài
chính từ thị trường sẽ chạy vào ngân hàng thương mại thông qua kênh huy động
vốn. Hậu quả là trong một khối lượng vốn nhất định xảy ra trạng thái cân bằng
đã hiệu quả chưa? Đó là câu hỏi khó và là vấn đề cấp bách mà các nhà lãnh đạo và
các chuyên gia đang hết sức quan tâm.
Hiện tại thì bộ máy chính phủ Việt Nam có thể nói là chuyên chế và rườm rà về
thủ tục nên đã gây cản trợ không ít cho sự phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên để
Việt nam hoàn chỉnh bộ máy Chính phủ thì có lẽ cần thêm rất nhiều thời gian; và
việc trước tiên hết là cải cách hai cơ quan chủ quan Kho bạc Nhà nước và Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, làm sao đó phát huy hết tiềm năng của mình trong việc
quản lý ngân sách quốc gia và hệ thống tiền tệ, ngân hàng và ngoại hối đạt hiệu
quả cao nhằm đưa đất nước đi đến con đường phát triển bền vững và ổn định.
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quy định 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/08/2009 về quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính
2. Trích dẫn từ Luật 46/2010/QH12 thông qua 16 tháng 6 năm 2010 quy định về
tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
3. Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại ngân hàng thương mại nhìn từ góc độ chính
sách tiền tệ và chính sách tài khóa trên phương diện lý thuyết. TS.Phan Văn Tính
– www.sbv.gov.vn
4. Công văn số 319/TTg-KTTH ngày 3/3/2008 được ký bởi Phó Thủ tướng
Nguyễn Sinh Hùng
15