Nghiên cứu hiệu quả của phản ứng hòa hợp có sử dụng kháng globulin người để nâng cao chất lượng an toàn truyền máu - Pdf 25

83

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Lịch sử phát hiện và đặc điểm một số nhóm máu hệ hồng cầu 3
1.1.1. Nhóm máu hệ ABO 5
1.1.2. Hệ nhóm máu Rhesus (Rh) 7
1.1.3. Hệ nhóm máu Kell 8
1.1.4. Hệ nhóm máu Kidd 10
1.1.5. Hệ nhóm máu Duffy 11
1.1.6. Hệ nhóm máu Lewis 11
1.1.7. Hệ nhóm máu MNS 12
1.1.8. Hệ nhóm máu P 13
1.2. Miễn dịch trong truyền máu 14

1.2.1. Kháng thể nhóm máu 16
1.2.2. Điều kiện để có sự miễn dịch 18
1.3. Hậu quả do bất đồng kháng nguyên hồng cầu giữa người cho và người
nhận khi truyền máu 21

1.4. Tình hình thực hiện phản ứng hoà hợp có sử dụng kháng globulin người
23
1.4.1. Trên thế giới 23

1.4.2. Tại Việt Nam 26
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 28

3.1.2. Phân bố BN được truyền KHC theo chẩn đoán lâm sàng 41
3.1.3. Phân bố BN được truyền KHC theo nhóm máu hệ ABO 42
3.1.4. Phân bố BN được truyền KHC theo mức độ thiếu máu 42
3.2. Kết quả thực hiện PƯHH cho BN bị bệnh máu được truyền KHC 43

3.2.1. Kết quả thực hiện PƯHH ở 22ºC của những BN bị bệnh máu được
truyền KHC 43

3.2.2. Kết quả thực hiện PƯHH sử dụng AHG ở những BN bị bệnh máu được
truyền KHC 44

3.2.3. Mối liên quan giữa PƯHH ở 22ºC và PƯHH có sử dụng AHG 45
3.2.4. Đặc điểm của BN bị bệnh máu được truyền KHC mà PƯHH có sử dụng
AHG dương tính. 45
3.3. Kết quả chọn máu ở BN có PƯHH sử dụng AHG dương tính và hiệu quả
của việc chọn đơn vị máu hòa hợp 48
3.3.1. Kết quả chọn máu ở BN có PƯHH sử dụng AHG dương tính 48

3.3.2. Đánh giá hiệu quả của P¦HH có sử dụng AHG 51
Chương 4. BÀN LUẬN 58

4.1. Đặc điểm của BN bị bệnh máu được truyền KHC 58
4.1.1. Đặc điểm về tuổi, giới của BN bị bệnh máu được truyền KHC 58
4.1.2. Phân bố BN được truyền KHC theo chẩn đoán lâm sàng 58
4.1.3. Phân bố BN được truyền KHC theo hệ nhóm máu ABO 59
4.2. Kết quả thực hiện PƯHH cho BN bị bệnh máu dược truyền KHC 59
4.2.1. Kết quả thực hiện PƯHH ở 22
0
C cho BN được truyền KHC 59
85

được tuân thủ [12], [20], [23], [28], [30], [60].
Hiện nay, tại các nước tiên tiến trên thế giới an toàn truyền máu về mặt
miễn dịch đã được thực hiện một cách triệt để, việc định nhóm máu hệ ABO,
Rh và một số hệ nhóm máu khác, thực hiện phản ứng hòa hợp đầy đủ và sàng
lọc kháng thể bất thường của cả người cho và người nhận đã được thực hiện
một cách thường quy. Nhờ thực hi
ện đồng bộ các biện pháp trên mà an toàn
truyền máu về mặt miễn dịch tại các nước này đã được bảo đảm và đã hạn chế
được tới mức thấp nhất các tai biến truyền máu [8], [30], [69].
Trong khi đó, tại nước ta hiện nay thực hiện an toàn truyền máu về mặt
miễn dịch chưa được đảm bảo, chúng ta mới chỉ thực hiện được việc định
nhóm máu hệ ABO, đị
nh nhóm máu hệ Rh (D), làm phản ứng chéo trong điều
kiện kháng globulin mới chỉ được thực hiện tại một số trung truyền máu lớn.
Việc xác định các hệ nhóm máu hồng cầu khác và sàng lọc kháng thể bất
thường chưa được thực hiện [2], [3].
Để nâng cao chất lượng an toàn truyền máu về mặt miễn dịch, đảm bảo
sự hòa hợp về nhóm máu giữa người cho và người nhận, thực hiện theo quy
chế truyền máu, Viện Huyết học - Truyền máu TW đã triển khai xét nghiệm
hòa hợp có sử dụng kháng globulin người cho những BN bị bệnh máu được
truyền khối hồng cầu trong quá trình điều trị. Để đánh giá hiệu quả của xét
2

nghiệm này trong việc đảm bảo an toàn truyền máu, thực hiện truyền máu có
hiệu lực, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu sau:
“ Nghiên cứu hiệu quả của phản ứng hòa hợp có sử dụng kháng globulin
người để nâng cao chất lượng an toàn truyền máu ”

nhận có 29 hệ thống nhóm hồng cầu với 285 kháng nguyên hồng cầu khác
nhau [2], [3], [18], [19], [20], [28].
Bảng 1.1. Nhóm máu hệ hồng cầu theo danh pháp của Hội TM Quốc tế
Danh
pháp
Hệ thống Viết tắtSố
KN
Các kháng nguyên
chính
Vị trí trên NST
001 ABO ABO 4 A,B,AB
1
,A
1
9 q- 34.1- q
34.2
002 MNSs MNS 38 M,N,S, s,U,En
a
4 q28- q31
003 P P 1 P1 22 q 11.2- qter
004 Rhesus Rh 45 D,C,c,E,e 1p 36.2-p 34
005 Lutheran LU 18 Lu
a
,lu
b
,Lu
ab
,Lu4 19 q12- q13
006 Kell KEL 21 K, k, Kp
a

,Wr
a
, Wr
b
17q12-q21
011 Cartwrigh
t
YT 2 Yt
a
, Yt
b
7q22
012 Xg XG 1 Xg
a
Xp 22.32
013 Scianna SC 3 S
m
, Bu
3
, Sc
3
1p36.2-p22.1
014 Dombrock DO 5 Do
a
,Do
b
,Gy
a
,Hy,Jo
a

,Tca, Tcb,Tcc,Dra 1q32
022 Knops KNOP
S
5 Kn
a
, Kn
b
, McC
a
,Si
a
, Yk
a
1q32
023 Indian IN 2 In
a
, In
b
11 p13
024 Ok OK 1 10
025 Raph RAPH 1 11
026 John
Milton
Hagen
JMH 1 15
027 I I 1 6
028 Globoside GLOB 1 3
029 Gill GIL 1 9
Việc phát hiện ra các nhóm máu khác nhau của hệ hồng cầu đã giải thích
5


u
Nhóm máu
6

• Kháng nguyên hệ ABO:
Kháng nguyên của hệ nhóm máu ABO thường xuất hiện sớm, vào
khoảng tuần thứ năm sau khi thụ thai nhưng phải đến 2 – 4 năm sau khi sinh
những kháng nguyên này mới phát triển đầy đủ và hằng định. Tuy nhiên ở
người cao tuổi, tính kháng nguyên của hồng cầu sẽ yếu đi. Trong một số trạng
thái bệnh lý cũng tác động vào hệ kháng nguyên này: BN bị bệnh bạch cầu
cấp tính kháng nguyên bị
suy giảm, khi bị tổn thương ruột lan rộng có thể tạo
ra kháng nguyên giả B trên hồng cầu A. Những trạng thái đặc biệt trên có thể
dễ tạo ra sai lầm khi xác định nhóm trong hệ ABO [2], [3], [15], [29], [31],
[35], [36], [37], [41].
Kháng thể hệ ABO
Kháng thể tự nhiên chống A và kháng thể tự nhiên chống B có bản chất
là IgM, hoạt động thích hợp ở 4°C, xuất hiện ngay sau khi sinh, tăng dần hiệu
giá và đạt cực đại vào 5-10 tuổi, những kháng thể này không qua đượ
c hàng
rào nhau thai, không bao giờ có trong huyết thanh của cá thể có kháng nguyên
tương ứng trên bề mặt hồng cầu. Kháng thể chống A và chống B cũng có thể
là kháng thể miễn dịch, có bản chất là IgG, hoạt động thích hợp ở 37°C, được
hình thành qua một quá trình đáp ứng miễn dịch do tiếp xúc với kháng
nguyên của hệ ABO gặp trong trường hợp bất đồng nhóm máu giữa mẹ và
con, truyền máu không hoà hợp hệ ABO, các kháng thể này có thể lọt qua
hàng rào nhau thai, có khả năng kết hợp với bổ thể và gây tan máu trong lòng
mạch [2], [3], [15], [29], [35], [36], [41], [47].
Ngoài bốn nhóm máu chính đã được trình bầy ở trên, năm 1911 Von

hồng cầu của mẹ, kháng thể này làm ngưng kết hồng cầu của 85% quần thể
người da trắng. Từ hiện tượng trên, các tác giả đã giải thích được sự bất đồng
miễn dịch giữa thai và mẹ là do một kháng nguyên có trên bề mặt hồng cầu
của thai nhưng vắng mặt trên hồng c
ầu của mẹ mà trước đó được coi là một
hiện tượng huyền bí, kháng nguyên này gọi là kháng nguyên D. Những người
có kháng nguyên D trên hồng cầu được coi là những người có nhóm máu
Rh(D) dương, những người không có kháng nguyên D trên hồng cầu được coi
là những người Rh (D) âm [2], [3], [29], [33], [34], [41].
Năm 1940, Karl Landsteiner và Wiener miễn dịch thỏ và lợn bằng
hồng cầu khỉ Rhesus và đã thu được một kháng thể mà gây ngưng kết với
khoảng 85% hồng cầu người và đ
ã gọi tên yếu tố đó là Rh, Wiener và Peters
cũng đã nhận xét có sự xuất hiện kháng thể Rh (D) ở những BN Rh (D) âm đã
nhận máu Rh (D) dương. Tuy nhiên, người được công nhận phát hiện ra
kháng nguyên D chính là Levine và cộng sự (1938 - 1940) [33], [34].
8

1.1.2.2. Kháng nguyên hệ Rh
Cho đến nay đã có khoảng 50 kháng nguyên của hệ Rh được phát hiện,
tuy nhiên 5 kháng nguyên quan trọng nhất của hệ Rh vẫn là: D, C, c, E, e, các
kháng nguyên này tương ứng với 6 gen: D, d, C, c, E, e. Trong đó gen d được
giả định trên lý thuyết vì trên thực tế người ta chưa xác định được kháng thể
chống d và kháng nguyên d, các gen này liên kết và tổ hợp với nhau để tạo ra
các kiểu gen của hệ Rh [2], [3], [15], [29], [31], [33], [37], [41], [64].
1.1.2.3. Kháng thể hệ Rh
Kháng thể của hệ Rh đượ
c sinh ra do quá trình miễn dịch bởi một hoặc
nhiều kháng nguyên của hệ Rh, hầu hết là do truyền máu và mang thai không
hòa hợp các kháng nguyên hệ Rh, trong đó kháng nguyên D có tính sinh

được Walker phát hiện
năm 1963 [34], [41], [64].
1.1.3.2. Kháng nguyên hệ Kell
Cho đến nay người ta đã phát hiện được 23 kháng nguyên khác nhau của hệ
Kell trong đó có 6 kháng nguyên có ý nghĩa quan trọng trong thực hành truyền
máu:
-Kháng nguyên K (Kell): có mặt khoảng 10% ở người da trắng, hiếm
gặp ở người da vàng, Mỹ và Mông Cổ, kháng nguyên k (Cellano): phổ biến
tới 99,8% ở người da trắng, gần 100% ở người Việt Nam.
-Kháng nguyên Kp
a
(Penney), Kp
b
(Rautenberg ), kháng nguyên Js
a

(Sutter: gặp ở 19,5 % người da đen), kháng nguyên Js
b
.
Hệ nhóm máu này có vai trò rất quan trọng trong thực hành truyền máu,
chỉ sau hệ ABO và Rh do các kháng thể miễn dịch chống K phản ứng rất
mạnh với hồng cầu mang kháng nguyên K và gây tan máu trong lòng mạch
khi truyền máu không phù hợp và trong các trường hợp bất đồng nhóm máu
mẹ con hệ Kell [3], [29], [34], [37], [41], [64].
1.1.3.3. Kháng thể hệ Kell
Kháng thể kháng lại kháng nguyên K hầu như do miễn dịch sinh ra và
được xem là một trong những kháng thể bất thường phổ biến sau hệ Rh,
kháng thể miễ
n dịch chống K cũng là một trong những nguyên nhân gây
vàng da tan máu ở trẻ sơ sinh do bất đồng nhóm máu mẹ và con. Kháng thể

và Jk
b
, hai kháng nguyên
này đã phát triển đầy đủ khi trẻ mới chào đời và chỉ có trên bề mặt hồng cầu
[34], [41].
1.1.4.3. Kháng thể hệ Kidd
Cả hai kháng thể kháng Jk
a
và Jk
b
đều có bản chất là IgG và đều được
sinh ra do quá trình miễn dịch.
Kỹ thuật tốt nhất để phát hiện kháng thể kháng Jk
a
và Jk
b
là kỹ thuật
kháng globulin gián tiếp, đôi khi phản ứng xảy ra trong môi trường nước
muối. Trong quá trình lưu giữ, kháng thể kháng Jk
a
và kháng thể kháng Jk
b
bị
giảm dần hiệu giá, khi đó muốn phát hiện được kháng thể phải làm phản ứng
Coombs với hồng cầu được xử lý bằng enzym tiêu protein.
Kháng thể hệ Kidd là những kháng thể yếu, ít gây bệnh tan máu ở trẻ sơ
sinh và nếu xảy ra cũng ở mức nhẹ. Tuy nhiên, chúng là một trong những
kháng thể thường gây nên phản ứng tan máu muộn trong truyền máu, đôi khi
11


Năm 1946, Mourant phát hiện một kháng thể có trong huyết thanh của
người phụ nữ có tên là Lewis, kháng thể này gây ngưng kết hồng cầu của
20% số người được thử, không liên quan đến hệ ABO, Mourant đã đặt tên cho
kháng nguyên mới này là Lewis a (Le
a
). Năm 1948, Andersen phát hiện một
kháng thể đối lập với kháng nguyên Le
a
và không bị ngưng kết bởi kháng
nguyên này, kháng nguyên này được gọi là Lewis b (Le
b
) [36], [41], [64].
12

1.1.6.2. Kháng nguyên hệ Lewis
Kháng nguyên Le
a
và Le
b
không được sinh tổng hợp từ tế bào hồng cầu,
các kháng nguyên này được tạo ra bởi tế bào của tổ chức và được tiết vào các
dịch của cơ thể và huyết tương, sau đó được hấp phụ từ huyết tương lên trên
màng hồng cầu, chuyển tính đặc hiệu kháng nguyên cho hồng cầu. Vì vậy,
tính đặc hiệu của nhóm hồng cầu hệ Lewis cũng thay đổi theo thời gian [34],
[33], [37], [41].
1.1.6.3. Kháng thể h
ệ Lewis
Kháng thể chống Le
a
và Le

kháng thể chống kháng nguyên s, là sản phẩm của gen s, alen của gen S.
13

Sự liên hệ của hệ thống MN và Ss cũng được xác nhận và các gen tương ứng
liên hệ chặt chẽ với nhau trên cùng một nhiễm sắc thể [34], [37], [41]
1.1.7.2. Kháng nguyên hệ MNS
Kháng nguyên của hệ nhóm máu MNS rất phong phú, có tới 38 kháng
nguyên khác nhau [34], [41], [64].
1.1.7.3. Kháng thể hệ MNS
Kháng thể chống M và chống N là kháng thể lạnh, kháng thể đủ, có thể
gây tai biến truyền máu nhẹ. Kháng thể tự nhiên chống M và chống N của
người rất ít gặp.
Kháng thể
chống S và chống s: là kháng thể miễn dịch, kháng thể nóng
có bản chất là IgG, các kháng thể này được phát hiện bằng kỹ thuật kháng
globulin gián tiếp. Những kháng thể này có thể là nguyên nhân gây một số tai
biến truyền máu và bệnh tan máu ở trẻ sơ sinh do bất đồng nhóm máu mẹ con
hệ MNS [3], [29], [34], [37], [41].
1.1.8. Hệ nhóm máu P
1.1.8.1. Lịch sử phát hiện
Năm 1927, trong khi thực hiện gây miễn dịch thỏ với hồng cầu người để
tìm ra hệ th
ống MNS, Landsteiner và Levine đã nhận thấy một số huyết thanh
thỏ làm ngưng kết hồng cầu người ngoài hệ ABO và MNS và đã phát hiện
thêm hệ nhóm máu P [35], [37], [41].
1.1.8.2. Kháng nguyên hệ P
Kháng nguyên P là phổ biến, chiếm gần 100% người da đen và da trắng,
kháng nguyên P
1
có mặt trên hồng cầu của 79% người da trắng, 94% người da

.
- Nhóm p không có kháng nguyên hệ P.
1.1.8.3. Kháng thể chống P
Ngoài kháng thể chống P, chống P
1
, chống P
k
, người ta còn gặp kháng
thể chống P
1
k
phản ứng với hồng cầu có ít nhất một trong kháng nguyên P, P
1
,
P
k
, kháng thể này gặp ở tất cả những người nhóm P
k
, thường có bản chất là
IgM.
Kháng thể chống P
1
thường gặp ở người có kháng nguyên P
2
, có bản
chất là, IgM hoạt động ở nhiệt độ lạnh.
Kháng thể chống P, có thể gặp ở người có nhóm máu P
k
mặc dù hiếm
nhưng cũng có thể gây tan máu [34], [35], [37], [41].

người cho và người nhận. Hai kỹ thuật được thực hiện trướ
c truyền máu là kỹ
thuật định nhóm máu và phản ứng hòa hợp. Theo lý thuyết, khi đã xác định
được nhóm máu của người cho và người nhận thì việc truyền máu hòa hợp có
thể được thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế đơn vị máu của người cho vẫn có
thể có các kháng nguyên mà người nhận không có vì thế các kháng nguyên
này sẽ kích thích cơ thể người nhận sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại các
kháng nguyên của người cho. [6], [8], [32], [58], [59].
16

Để bảo đảm an toàn truyền máu về mặt miễn dịch, khi truyền máu phải
đảm bảo nguyên tắc đời sống các tế bào hồng cầu của người cho và các tế bào
máu người nhận được tồn tại bình thường trong lòng mạch và không bị ngưng
kết bởi các kháng thể có trong huyết thanh của người nhận, do vậy cần tiến
hành các kỹ thuật xét nghiệm nhóm máu và phản ứng hòa hợp trước khi
truyề
n máu để lựa chọn những đơn vị máu hoà hợp giữa người cho và người
nhận về cả hệ nhóm máu ABO và các nhóm máu hệ hồng cầu khác. Nếu
không tôn trọng các quy tắc này, cơ thể người nhận máu sẽ sinh ra kháng thể
bất thường của hệ hồng cầu sau truyền máu do không lựa chọn các đơn vị
máu hoà hợp và sẽ gây tai biến ở những lần truyền máu sau [20], [27], [30].
1.2.1. Kháng thể nhóm máu
Có hai loại kháng thể
nhóm máu đó là: Kháng thể xuất hiện sau khi cơ
thể tiếp xúc với kháng nguyên là kháng thể miễn dịch và có bản chất là IgG.
Kháng thể xuất hiện ngay sau khi sinh và không qua một quá trình miễn dịch
được gọi là kháng thể tự nhiên và có bản chất là IgM [6], [8].
Kháng thể tự nhiên
Là những kháng thể sinh ra đã có sẵn, không qua một quá trình đáp ứng
miễn dịch nào cả, kháng thể này hình thành ngay sau khi sinh và được hoàn

ề mặt hồng cầu của
bản thân họ, thường gặp trong truyền máu nhiều lần, sinh đẻ nhiều lần. Các
kháng nguyên hồng cầu không hòa hợp khi vào cơ thể người nhận máu sẽ
kích thích các tế bào có thẩm quyền miễn dịch sinh kháng thể đặc hiệu chống
lại các kháng nguyên này. Đó là các kháng thể miễn dịch, có bản chất IgG hay
còn gọi là các kháng thể thiếu, nó chỉ được gắn trên bề mặt hồng c
ầu mà
không gây ngưng kết hồng cầu trực tiếp. Để phát hiện các kháng thể này trong
phòng thí nghiệm người ta phải áp dụng một số biên pháp như: thay đổi nhiệt
độ, sử dụng men tiêu đạm, kỹ thuật trong môi trường đại phân tử và đặc biệt
là kỹ thuật kháng globulin người (Anti human globulin và được viết tắt là
AHG), AHG có tác dụng gắn các kháng thể miễn dịch và làm cầu nối giữa
các hồng cầu v
ới nhau để gây hiện tượng ngưng kết (Hình 1.2). Kết quả nhờ
18

AHG các hồng cầu sau khi gắn với kháng thể thiếu sẽ được nối lại với nhau,
gây hiện tượng ngưng kết trong ống nghiệm và có thể nhận định được bằng
mắt thường. Có nhiều hệ kháng nguyên hồng cầu xuất hiện với các tần suất
khác nhau theo từng dân tộc khác nhau, những kháng thể bất thường hay gặp
ở một số hệ nhóm hồng cầu như : ABO, Rhesus, Kell, Kidd, Duffy hậ
u quả
của các kháng thể này gây ra phản ứng tan máu do truyền máu[1], [5], [7],
[11], [14], [62].

Hình 1.2: Nguyên lý của kỹ thuật AHG để phát hiện kháng thể miễn dịch
1.2.2. Điều kiện để có sự miễn dịch
1.2.2.1. Truyền máu do không hòa hợp các kháng nguyên hồng cầu
Kháng nguyên là một chất mà khi chất đó được đưa vào cơ thể và được
công nhận là một vật lạ, chất này sẽ tác động tới hệ thống miễn dịch của cơ thể

+Tự kháng thể có liên quan đến hồng cầu: thuốc, hóa chất, kháng nguyên
ung thư.
Trong thực hành truyền máu, để đả
m bảo an toàn truyền máu chúng ta
cần lựa chọn đơn vị máu hòa hợp cho BN để tránh những tai biến xảy ra do sự
kết hợp giữa kháng nguyên và kháng thể tương ứng của người cho và người
nhận. Để hạn chế các tai biến truyền máu, ngày nay trên thế giới người ta đã
thực hiện việc truyền những đơn vị máu có các kiểu gen gần giống với kiểu
gen của người bệnh. Tuy nhiên, công việ
c này mới chỉ được thực hiện tại một
20

số trung tâm truyền máu lớn của một số nước trên thế giới vì để làm được
công việc này chúng ta phải cần đến những khoản kinh phí rất lớn cho việc
xác định đầy đủ các kháng nguyên hồng cầu của các hệ nhóm máu hồng cầu ở
cả người cho và người nhận [8], [20], [30], [45], [47].
1.2.2.2. Khả năng kích thích sinh kháng thể của kháng nguyên
Sự xuất hiện kháng thể miễn dịch phụ thuộc vào nhi
ều yếu tố của người
cho cũng như của người nhận, trong đó kháng nguyên người cho có phần
quan trọng hơn.
Không phải bất cứ một kháng nguyên nào cũng tạo được một hiện tượng
miễn dịch với cường độ như nhau, những nghiên cứu về kháng thể miễn dịch
ở những BN được truyền máu nhiều lần và những bà mẹ sinh đẻ nhiều lần đ
ã
cho thấy khả năng sinh kháng thể rất khác nhau tùy thuộc và các kháng
nguyên của từng nhóm máu và giữa các kháng nguyên trong cùng một hệ
thống nhóm máu.
Đối với người châu Âu, thường gặp các kháng thể chống kháng nguyên
hồng cầu: anti D, anti C, anti c, anti E, anti e, tiếp đến là anti K, anti Fy

nghiên cứu về vấn đề này, trong suốt 24 năm (1917 - 1941), các tác giả này đã
nghiên cứu 43.284 trường hợp máu truyền và đã ghi nhận có 80 trường hợp
có phản ứng tan máu, tỷ lệ vào khoảng 0,2% [50], [54].
- Phản ứng tan máu có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài lòng mạch
Phản ứng tan máu trong lòng mạch: Là sự phá vỡ hồng cầu xảy ra trong
lòng huyết quản, đồng thời giải phóng hemoglobin vào huyế
t tương, kháng
thể trong những trường hợp này là kháng thể đủ, có bản chất là IgM, hoạt hoá
bổ thể và làm vỡ hồng cầu ngay trong ống nghiệm. Các kháng thể của hệ
nhóm máu ABO gây nên phản ứng thuộc loại này [25], [30], [38], [50], [54].
Phản ứng tan máu ngoài lòng mạch: Là sự di chuyển những hồng cầu
“lạ” ra khỏi hệ thống tuần hoàn bởi những tế bào thực bào của hệ liên võng
nội mô, những kháng thể này thuờng không làm v
ỡ hồng cầu trong ống
nghiệm, bản chất kháng thể này là IgG, đây là hậu quả đáp ứng miễn dịch của
truyền máu hoặc sinh đẻ. Kháng thể của các hệ nhóm máu Rh, Kell, Kidd,
Duffy chủ yếu gây nên phản ứng tan máu thuộc loại này [25], [49], [54].
Phản ứng tan máu có thể xảy ra tức thì hoặc xảy ra sau một số ngày sau
khi BN được truyền máu (phản ứng tan máu muộn).
Phản ứng tan máu tức thì: Phản ứng này xả
y ra ngay tức thì với hậu quả
rất nặng nề, thậm chí gây tử vong cho người bệnh. Kháng thể của hệ nhóm
22

máu ABO thường gây nên phản ứng tan máu tức thì.
Phản ứng tan máu muộn: Được mô tả bởi Hedon năm 1902, qua nghiên
cứu thực nghiệm trên thỏ. Ở người, kháng thể gây bệnh tan máu muộn được
phát hiện gắn liền với lịch sử phát hiện ra các nhóm máu hồng cầu ngoài hệ
ABO: anti D của hệ Rh (1939), anti K của hệ Kell, anti Le của hệ Lewis, anti
Fy của hệ Duffy hầu hết các kháng thể này được phát hiện một cách ngẫu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status