ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
BÀI TẬP GIỮA KỲ
MÔN: CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO
Đ* b,i :
“Nêu và phân tích “chính sách dân tộc”. So sánh
chính sách dân tộc và một số chính sách liên quan”
Giảng Viên: PGS.TS Lê Ngọc Thắng
Sinh viên: Lăng Thị Hi*n
Mssv: 08030398
Lớp: Chuyên ng,nh Quản lý xã hội
Hà Nội, 10/2011
1
Trường: Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa : Khoa học quản lý
Sv: Lăng Thị Hiền
Lớp: K53b
Bài tập giữa kỳ - Môn: Chính sách dân tộc.
Đ* b,i:
1, Nêu và phân tích “chính sách dân tộc”
2, So sánh chính sách dân tộc và các chính sách khác.
B,i l,m:
Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc là vấn đề vừa mang tính lịch sử vừa
mang tính thời đại. Đây là vấn đề lĩnh vực nhạy cảm không chỉ mang tính quốc gia
mà còn mang tính quốc tế. Việc thực hiện chính sách dân tộc và giải quyết các vấn
đề dân tộc tốt đảm bảo sự phát triển ổn định cho mỗi quốc gia, đặc biệt là một đất
nước có tới 54 dân tộc như Việt Nam hiện nay.
điều hành, phổ biến pháp luật và quản lý nhà nước. Nói về dân tộc quốc gia cũng
có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng tựu chung lại chúng ta có thể hiểu dân tộc
quốc gia là như trên.
Thứ hai là cụm từ “dân tộc” được hiểu là tộc người trong một quốc gia. Ở
mỗi quốc gia có nhưng tiêu chia khác nhau để xác định tộc người trong quốc gia
đó, đối với Việt Nam, khái niệm tộc người được xác định dựa ba tiêu chí sau: Tộc
người đó có một ngôn ngữ riêng, có các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể như:
nhà ở, trang phục. ẩm thực,…và có ý thức tự giác tộc người tức là có ý thức về
3
việc mình thuộc về tộc người đó với những giá trị riêng của tộc người đó. Với
những tiêu chí trên, hiện nay nước ta có 54 dân tộc khác nhau cùng chung sống
trên lãnh thổ Việt Nam, bên cạnh những đặc điểm mang tên Việt Nam thì mỗi dân
tộc lại có những bản sắc riêng của mình về văn hóa cũng như đặc điểm về kinh tế,
tạo ra sự phong phú, đa dạng trong bức tranh tổng thể đất nước Việt Nam.
Như vậy chúng ta có thể thấy dân tộc được nhìn nhận trên phương diên quốc gia
và trên cả trên phương diện quốc tế. Các vấn đề dân tộc nảy sinh và cách thức giải
quyết vấn đề ấy không chỉ dừng lại ở việc ổn định trong nước mà xa hơn thế là
những vấn đề thế giới nảy sinh. Những vấn đề dân tộc ở đây bao gồm ba vấn đề
chính: Đó là những nội dung chủ yếu thuộc về bản chất nội hàm của các yếu tố
cấu thành dân tộc. Là vấn đề nổi lên trong thời kỳ Tư bản chủ nghĩa, Đề quốc chủ
nghĩa mà cụ thể là những vấn đề giải phóng dân tộc khỏi ách nô dịch thống trị của
Chủ nghĩa thực dân đế quốc. Và hiện nay, vấn đề dân tộc nổi lên trong việc hội
nhập quốc gia, trong mối quan hệ quốc tế ở mức toàn cầu hóa, những vấn đề dân
tộc được giải quyết nhìn nhận, và quản lý như thế nào?
Đó là những cách hiểu về dân tộc cũng như nhưng điều cơ bản trong vấn đề
dân tộc. Vậy chính sách dân tộc là gì? Vì sao nước ta phải thực hiện chính sách
dân tộc? những đặc điểm cơ bản trong chính sách dân tộc của chúng ta là như thế
nào?
Trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, giai cấp cầm quyền phải thông
qua hệ thống tổ chức bộ máy và hệ thống các chính sách để quản lý đất nước.
đó được đưa lên vị trí khác nhau. Như trong thời chiến, nguyên tắc đoàn kết được
đưa lên hàng đầu nhưng trong thời kỳ hiện nay thì nguyên tắc bình đẳng được đưa
lên đầu tiên. Chính sách dân tộc của chúng ta nhằm mục đích tốt đẹp đó là tạo ra
cồn băng xã hội, là rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, xây dựng
một đất nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng.
Trên thế giới, phần lớn các quốc gia đều gồm những dân tộc khác nhau, mỗi quốc
gia đều có những chính sách dân tộc khác nhau. Chính sách dân tộc Việt Nam
5
cũng vậy, nó có sự khác biệt đối với các quốc gia khác và với chính những chính
sách dân tộc trong lịch sử đất nước: chính sách dân tộc của chế độ phong kiến,
thực dân – đế quốc. Đó chính là góc độ chế độ, bản chất Nhà nước “của dân, do
dân và vì dân”, Vì thế, chính sách dân tộc của chúng ta là thực hiện những biện
pháp, kế hoạch mang lại lợi ích cho người dân, phục vụ cuộc sống của người dân,
mà cụ thể là của các dân tộc chung sống trên đất nước Việt Nam.
Xét về bản chất, thực hiên chính sách dân tộc chính là việc thể hiện sự “săn sóc”
của Đảng và Nhà nước tới tất cả đồng bào. Ngay khi chính phủ mới thành lập, một
trong những công việc đầu tiên được Bác Hồ triển khai đó là việc thành lập Nha
dân tộc thiểu số để chăm lo công tác dân tộc cho các đồng bào, Người nói rõ: “
Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong quốc hội có đủ đại
biểu của các dân tộc. Chính phủ thì có “NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ” để săn sóc
cho tất cả đồng bào’ (PGS. TS. Lê Ngọc Thắng, Chính sách dân tộc của Đảng và
Nhà nước Việt Nam, tr 88). Sự “săn sóc” ở đây, thể hiện rõ nhất bản chất của
chính sách dân tộc của chúng ta, đó không phải là chính sách kiểu “ban ơn”, hay
chính sách “xin cho” mà đó là sự “săn sóc” của Đảng và Nhà nước đối với đồng
bào. Nói cách khác, chính sách dân tộc phải thể hiện sự tận tình, quan tâm toàn
diện của Đảng và Nhà nước đối với tất cả các lĩnh vực, các vấn đề trong đời sống
của các dân tộc nhằm giúp các dân tộc có sự phát triển, tạo ra cuộc sống ấm no
hạnh phúc cho tất cả đồng bào.
Chính những phân tích trên cho ta thấy một số đặc điểm cơ bản của chính sách dân
tộc. Đó là: Chính sách dân tộc phản anh bản chất của giai cấp cầm quyền và có
thế, nói một cách nào đó, khi dành ưu đãi cho một nhóm đối tượng này sẽ dẫn tới
tình trạng hạn chế lợi ích của một nhóm đối tượng khác. Chính sách xã hội, được
thể hiện trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống. Đó là những chính rất
chung theo một nghĩa rộng hay cụ thể nó là những chính sách xã hội dùng để phân
biệt với các chính sách kinh tế, chính trị, như: chính sách xóa đói giảm nghèo,
chính sách người có công, chính sách bảo trợ,…
7
Như vậy, chính sách xã hội có những điểm khác cơ bản so với chính sách dân tộc.
Cụ thể như sau:
- Xét về đối tượng của chính sách:
+ Chính sách xã hội: đối tượng là tất cả thành viên trong xã hôi, không kể là dân
tộc thiểu số hay đa số - những người yếu thế trong xã hội. Và như vậy, dân tộc
hay mối quan hệ dân tộc trong chính sách xã hội được xem xét như một đối tượng
xã hội, nhìn nhận như một cộng đồng kém phát triển cần phải thực hiện sự ưu đãi.
+ Chính sách dân tộc: đối tượng chính là các dân tộc thiểu số, chính sách dân tộc
quan tâm một cách toàn diện đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, hay
nhưng vấn đề trong mối quan hệ dân tộc. Dân tộc và mối quan hệ dân tộc trở thành
đối tượng chính và duy nhất của chính sách dân tộc.
- Xét về mục tiêu của chính sách:
+ Chính sách xã hội: chủ yếu và chú trọng tới việc thực hiện quyền bình đẳng giữa
các thành viên trong xã hội, thực hiện các quyền cơ bản của con người, trong đó
quyền bình đẳng về kinh tế giữ vai trò quan trọng.
+ Chính sách dân tộc: nhằm tác động đến mọi mặt của đời sống đồng bào thiểu số,
tạo sự phát triển về kinh tế, xã hội cho đồng bào, rút ngắn khoảng cách giữa các
dân tộc.
Chính sách xã hội và chính sách dân tộc có những điểm khác nhau cơ bản, trên
các phương diện cả về đối tượng tác động cũng như mục tiêu chính sách, điều này
dẫn tới việc các kế hoạch chương trình thực hiện của hai chính sách là khác nhau.
Nếu chính sách dân tộc thể hiện sự “ săn sóc” của Nhà nước tới đồng bảo dân tộc
thiểu số thì chính sách xã hội thể hiện sự “ưu đãi, biệt đãi” của Nhà nước tới các
số ở miền núi, thì số lượng người Kinh sinh sống ở đây là rất đông.
- Có rất nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống không phải ở miền núi.
Mặt khác, xét về bản chất,chính sách miền núi chỉ tác động đến chiến lược phát
triển vùng là chính trong đó có một bộ phận dân tộc thiểu số sinh sống. Chính sách
dân tộc lại quan tâm và tác động đến con người – đồng bào dân tộc, đến các điều
9
kiện đặc thù của các dân tộc trong nhu cầu phát triển quốc gia và của chính dân tộc
đó.
Như vậy, thông qua việc phân tích trên, chúng ta có thể thấy rõ sự khác
nhau cơ bản giữa chính sách dân tộc và một số chính sách liên quan: chính sách xã
hội, chính sách dân vân hay chính sách miền núi. Việc phân định rõ các chính sách
này sẽ tạo điều kiện để chúng ta hoạch định nội dung, tổ chức thực hiện công tác
dân tộc, giải quyết các vấn đề dân tộc một cách có hiệu quả.
10