Tiểu luận môn phân tích chính sách thuế : Thuế và lạm phát - Pdf 22

Thuế và lạm phát Nhóm 9
THUẾ VÀ LẠM PHÁT
I. Cơ sở lý thuyết về thuế và lạm phát
1. Tiếp cận vấn đề bản chất của thuế từ các học thuyết
1.1 Tiếp cận vấn đề bản chất của thuế từ các học thuyết thuế cổ điển
Cho đến nay, dù đã trải qua diễn trình lịch sử khá lâu dài nhưng vấn đề bản chất
của thuế vẫn còn là đề tài gây nhiều tranh luận. Điều này đã và đang có ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình thiết kế, xây dựng và thực thi các luật thuế ở hầu hết các
quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Theo quan niệm cổ điển về thuế, các học giả cổ điển cho rằng bản chất của thuế
được thể hiện rõ nhất ở bốn điểm sau:
a) Thuế là khoản trích nộp bằng tiền của tổ chức, cá nhân cho nhà nước;
b) Thuế là khoản đóng góp bắt buộc dựa trên quyền lực nhà nước;
c) Thuế là khoản thu không có hoàn trả;
d) Thuế là khoản thu không có đối khoản trực tiếp.
Đây chính là bốn đặc trưng cơ bản của thuế theo quan niệm cổ điển và các đặc
điểm này vẫn tiếp tục được thừa nhận trong xã hội ngày nay, dù rằng quan niệm
này hiện tại đã có nhiều thay đổi. Có thể nhận thấy điểm hạn chế lớn nhất của
quan niệm cổ điển về thuế chính là ở chỗ nó đã tuyệt đối hoá vai trò của quyền lực
nhà nước trong việc xác lập và hành thu thuế, trên cơ sở nhấn mạnh tính cưỡng
chế và bắt buộc, tính không hoàn trả của thuế. Ngược lại, quan điểm này coi nhẹ
vai trò và địa vị kinh tế, thành phần xã hội của người nộp thuế trong quan hệ nộp
thuế với nhà nước.
Page 1
Thuế và lạm phát Nhóm 9
Trường phái lí luận về thuế ra đời sớm nhất trong lịch sử học thuyết thuế, có lẽ là
học thuyết không tưởng về thuế. Học thuyết này được xây dựng dựa trên ý tưởng
cho rằng sự phức tạp hoá chính sách thuế với nhiều loại thuế khác nhau là không
cần thiết và cần hướng tới xây dựng một loại thuế đơn nhất hay duy nhất, vừa có
khả năng đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa có thể thỏa mãn nhu
cầu, đòi hỏi của hầu hết dân chúng là người đóng thuế. Các học giả theo quan

nhưng các học giả hiện đại lại tìm cách chỉ ra những điểm hạn chế của quan niệm
cổ điển về thuế, trên cơ sở đó cho rằng cần nhận thức lại về bản chất mối quan hệ
giữa nhà nước với công dân (với tư cách là người nộp thuế) trong lĩnh vực thuế vụ,
dựa trên nền tảng ý tưởng về một xã hội công bằng và dân chủ: xã hội dân sự.
Kế thừa những nhân tố tinh hoa của học thuyết cổ điển về thuế, các học giả của
học thuyết thuế hiện đại đã và đang cố gắng đi tìm những chân lí mới cho sự tồn
tại và phát triển của thuế trong xã hội đương đại. Trái với những gì mà các học
thuyết cổ điển chủ trương theo hướng phê phán chế độ thuế, các học thuyết hiện
đại về thuế lại tìm cách khẳng định vai trò không thể phủ nhận của thuế trong địa
hạt kinh tế và địa hạt xã hội. Những ví dụ điển hình cho các học thuyết thuế hiện
đại là học thuyết về thuế-trao đổi và sau đó là học thuyết về thuế-đoàn kết.
Học thuyết về thuế-trao đổi bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỉ XVII và đã trở nên
phổ biến ở châu Âu vào nửa đầu thế kỉ XVIII và gần như suốt thế kỉ XIX.
Tư tưởng cốt lõi của học thuyết này được xây dựng dựa trên chủ nghĩa tự do, coi
thuế là cái giá mà người nộp thuế phải trả để đổi lấy các dịch vụ và hàng hoá công
cộng do nhà nước cung ứng. Từ đó, các học giả của trường phái này cho rằng luôn
tồn tại sự “thỏa thuận ngầm” hay “hợp đồng thuế” giữa nhà nước (người thu thuế)
với công dân (người đóng thuế) về số tiền thuế mà họ phải nộp cho nhà nước để
nhận lấy những gì được coi là dịch vụ và hàng hoá công cộng mà bản thân họ
Page 3
Thuế và lạm phát Nhóm 9
không thể tự tạo ra được. Các đại biểu nổi tiếng cho học thuyết thuế-trao đổi vào
thế kỉ XVIII, XIX là John Locke, Jean – Jacques Rousseau, Adam Smith và
Montesquieu, với tư tưởng về “hợp đồng thuế” hay “khế ước thuế”. Trên thực tế,
học thuyết này đã từng có những ảnh hưởng rất quan trọng đến chính sách thuế
của các nước châu Âu và kể cả Hoa Kỳ trong nhiều năm và điều này đã kích thích
sự phát triển của nền dân chủ xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi chính
sách thuế. Tuy nhiên, học thuyết thuế-trao đổi cũng có một số hạn chế nhất định,
chẳng hạn như việc không thể lí giải được vì sao có những người được hưởng thụ
các dịch vụ và hàng hoá công cộng ít hơn nhưng lại phải nộp thuế nhiều hơn và

thất thu thuế và việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ thuế… Khác với chủ đề tư tưởng
của học thuyết thuế-trao đổi là dựa trên sự trao đổi ngang giá về lợi ích giữa nhà
nước với người nộp thuế, tư tưởng cốt lõi của học thuyết về thuế-đoàn kết lại đòi
hỏi người nộp thuế phải chấp nhận hi sinh một phần lợi ích của mình cho nhà
nước vì lợi ích chung của cộng đồng, bằng cách nộp thuế cho nhà nước theo sự ấn
định thuế của nhà nước. Mặt khác, học thuyết này cũng đòi hỏi nhà nước phải ấn
định nghĩa vụ thuế của người dân sao cho phù hợp với khả năng tài chính của họ
và không đẩy họ vào tình trạng bần cùng sau khi nộp thuế. Điều đó cũng có nghĩa
là nghĩa vụ thuế sẽ luỹ tiến theo cùng với mức độ gia tăng của các khoản thu nhập
của người nộp thuế. Học thuyết này có xu hướng “cào bằng” nghĩa vụ của những
người đóng thuế nếu khả năng nộp thuế của những người đó là giống nhau. Nói
cách khác, học thuyết về thuế-đoàn kết hầu như không quan tâm đến vấn đề nhu
cầu của người nộp thuế (nghĩa là không cần biết người nộp thuế mong muốn nhận
được lợi ích gì sau khi nộp thuế) mà chỉ quan tâm đến khả năng đóng thuế của họ
như thế nào. Chính điều này khiến cho vai trò của quyền lực nhà nước trong thuế
trở nên mạnh mẽ hơn và do đó khả năng cưỡng chế thi hành nghĩa vụ thuế cũng tốt
hơn. Mặt khác, học thuyết thuế-đoàn kết cũng góp phần nâng cao ý thức và trách
nhiệm xã hội của mỗi người dân đối với nhà nước, với cộng đồng thông qua việc
hoàn thành nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật. Trong chừng mực nào đó,
học thuyết thuế-đoàn kết dường như phù hợp hơn với bối cảnh của nền kinh tế
Page 5
Thuế và lạm phát Nhóm 9
hiện đại, khi mà sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội ngày càng trở nên sâu sắc do
sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, cùng với yêu cầu giải quyết nhanh
chóng, triệt để các hậu quả xấu về phương diện xã hội của các nền kinh tế mở.
1.3 Những ảnh hưởng của các học thuyết thuế cổ điển và hiện đại đối với
quá trình phát triển hệ thống thuế ở Việt Nam
Có thể khẳng định rằng sự ra đời của các học thuyết cổ điển cũng như hiện đại về
thuế trên thực tế đã có những tác động quan trọng đến quá trình hình thành, phát
triển và vận hành của các hệ thống thuế trên thế giới.

- Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của
các pháp nhân hoặc thể nhân. Tính chất trực thu thể hiện ở chổ người nộp thuế
theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp
động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế. Ở nước ta thuộc loại thuế này
gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao,
thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp
1.1.3.2. Căn cứ vào đối tượng đánh thuế.
Theo cách phân loại này thuế được chia thành:
- Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia
tăng.
- Thuế đánh vào sản phẩm hàng hóa như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc
biệt
- Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao.
- Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất.
- Thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế
tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốn của ngân sách Nhà nước.
Page 7
Thuế và lạm phát Nhóm 9
2. Lạm phát
2.1 Khái niệm lạm phát
Lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế
trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
Tỷ lệ lạm phát hàng năm (ký hiệu I
f
) là tỷ lệ phần trăm gia tăng mức giá chung của
năm này so với năm trước, được tính theo công thức sau:
P
t
– P

Thuế và lạm phát Nhóm 9
- Do cầu kéo: Khi tổng cầu tăng dẫn đến mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ
tăng ta gọi đây là lạm phát do cầu kéo. Sự gia tăng của tổng cầu thường là do 2
nguyên nhân sau:
+ Sự gia tăng cung tiền của Ngân hàng trung ương
+ Sự gia tăng chi tiêu của chính phủ
- Do chi phí đẩy: Khi chi phí sản xuất tăng dẫn đến mức giá chung tăng và sản
lượng giảm
2.3Tác động của lạm phát
- Tác động đến thu nhập và của cải: Lạm phát có thể gây thiệt hại cho người này
và mang lợi cho những người khác.
Khi một người đi vay và một người cho vay ký vào một hợp đồng vay vốn, mỗi
bên đều kỳ vọng về tỷ lệ lạm phát trong tương lai. Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện
xảy ra cao hơn mức kỳ vọng và những người cho vay sẽ nhận được khoản thanh
toán với giá trị thực thấp hơn họ kỳ vọng – người đi vay được lợi và người cho
vay bị thiệt. Chúng ta có thể lập luận tương tự cho trường hợp lạm phát thực hiện
xảy ra thấp hơn lạm phát kỳ vọng – người đi vay bị thiệt và người cho vay được
lợi. Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện xảy ra bằng tỷ lệ lạm phát kỳ vọng thì không có
ai được lợi và bị thiệt trong hợp đồng vay vốn.
Để giải thích rõ hơn, chúng ta có thể sử dụng công thức sau:
Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát
Ví dụ: Ngân hàng X ký hợp đồng vay vốn với khách hàng A, thời hạn vay 1
năm, lãi suất danh nghĩa 7%
+ Nếu cả 2 đều kỳ vọng tỷ lệ lạm phát là 5% => Lãi suất thực 2%
+ Nếu tỷ lệ lạm phát là 10% => Lãi suất thực là -3% => Khách hàng A được lợi
– Ngân hàng X bị thiệt
+ Nếu tỷ lệ lạm phát là 2% => Lãi suất thực là 5% => Khách hàng A bị thiệt –
Ngân hàng X được lợi
Page 9
Thuế và lạm phát Nhóm 9

Thuế và lạm phát Nhóm 9
 Tạo công ăn việc làm giảm thất nghiệp
+ Công cụ sử dụng:
 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
 Lãi suất
 Hạn mức tín dụng
 ….
+ Có 2 loại chính sách tiền tệ:
 Chính sách tiền tệ mở rộng
 Chính sách tiền tệ thắt chặt
+ Nguyên tắc thực hiện chính sách tiền tệ:
Khi có lạm phát cao Ngân hàng trung ương sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt để
nhằm thu hút bớt lượng tiền dư thừa trong nền kinh tế
Tóm lại, để kiểm soát lạm phát thì có thể thực hiện một trong hai chính sách
trên hoặc kết hợp cả 2 để mang lại hiệu quả cao nhất
II. Mối quan hệ giữa thuế và lạm phát
1.Tác động của lạm phát lên nghiã vụ thuế
Lạm phát gây ra 3 tác động lên nghĩa vụ thuế thực, đó là: (1) tác động lên doanh
thu thuế do sự mất giá đồng tiền, (2) tác động lên nghĩa vụ thuế thực do độ trễ của
việc thu thuế, và (3) các hiệu ứng khác lên cơ sở đo lường thuế. Mức độ ảnh
hưởng của lạm phát lên các loại thuế khác nhau sẽ không giống nhau. Chẳng hạn,
thuế tiêu thụ đặc biệt được thu ngay sẽ không bị ảnh hưởng bởi lạm phát, và do đó
không cần điều chỉnh. Ngược lại, ảnh hưởng của lạm phát đến thuế thu nhập đặc
biệt phức tạp bởi vì tất cả các hiệu ứng trên đều có mặt.
a, Lạm phát tác động lên doanh thu thuế do sự mất giá đồng tiền
Luật thuế thông thường quy định nghĩa vụ thuế thông qua một số tiền cụ thể,
giá trị của số tiền này bị xói mòn bởi lạm phát, và do đó làm giảm doanh thu
thuế. Sự xói mòn giá trị thu thuế do lạm phát có thể được khắc phục bằng
nhiều cách: đưa ra những luật thuế tự động điều chỉnh định kỳ, hoặc loại bỏ
Page 11

Khi cơ sở tính thuế được đo lường bằng những đơn vị lịch sử, lạm phát sẽ làm sai
lệch thước đo này. Có thể dễ dàng thấy được điều đó trong trường hợp của một
loại thuế đánh vào giá trị lịch sử của tài sản, chẳng hạn như thuế bất động sản.
Theo thời gian, giá trị của bất động sản tăng lên do lạm phát, trong khi đó, cơ sở
để tính thuế vẫn dựa trên giá trị ban đầu. Ngược lại, giá trị thực của cơ sở tính thuế
của những loại thuế khác, chẳng hạn như thuế doanh thu hay thuế tiêu thụ đặc biệt,
lại không bị ảnh hưởng bởi lạm phát. Điều đó là vì cơ sở tính thuế trong những
trường hợp này được định theo giá trị thị trường, tức đã được điều chỉnh theo lạm
phát.
Thuế thu nhập là một trường hợp phức tạp hơn. Việc xác định cơ sở tính thuế thu
nhập bao gồm việc cộng và trừ các khoản mục sổ sách kế toán tại những thời điểm
khác nhau trong năm theo đơn vị tiền tệ. Nếu không có lạm phát, việc cộng, trừ
này hoàn toàn đơn giản. Tuy nhiên, dưới tác động của lạm phát, các đơn vị này
không thể so sánh được.
2. Mối liện hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và lạm phát
-Chi phí có thể gây ra lạm phát, đó là tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu
nhập khẩu.Việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đến đồng thời tất cả các
nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát.Đối với nền kinh tế nhập khẩu nguyên
liệu, cấu kiện cần thiết từ nước ngoài thì sự thay đổi tỉ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng
quan trọng đến tình hình lam phát trong nước. Nếu giá của chúng tăng mạnh trên
thị trường thế giới hay đồng nội tệgiảm mạnh trên thị trường tài chính quốc tếthì
chi phí sản xuất trong nước sẽ tăng mạnh và lạm phát sẽ bùng nổ.
- Mới đây Chính phủ ban hành nghị định giảm/hoãn thuế cho một số loại thu nhập,
trong đó có thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, thuế không giảm đối với thu nhập
cổ tức được chi trả từ các DN tài chính, ngân hàng,…Trước khi miễn giảm/hoãn,
Thuế thu nhập đối với nhận cổ tức là 5%, đối với các khoản lãi thu được từ tiền
Page 13
Thuế và lạm phát Nhóm 9
gửi NH thì không có chịu thuế. Đối với lãi đầu tư chứng khoán, thuế là 25%.Việc
miễn, giảm này được thực hiện trong môi trường lạm phát rất cao nên tác động sẽ

giá cả. ""Độ trễ"" của chính sách này được chứng minh là rất ngắn. Giải pháp này
thường phát huy tác dụng ngay sau khi chính sách được ban hành.
- Với bản chất là một sắc thuế gián thu, gánh nặng thuế chủ yếu do người tiêu
dùng chịu, việc điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu sẽ tác động tức thời đến giá
bán của các mặt hàng này trên thị trường. Khi giá của một số hàng hoá tăng, giải
pháp của Chính phủ nhiều nước sử dụng đầu tiên là giảm thuế suất thuế nhập khẩu
một cách phù hợp. Ngược lại, đối với hàng hoá Nhà nước cần quản lý giá điều tiết
về quan hệ cung cầu như xăng dầu, khi giá giảm thì việc tăng thuế nhập khẩu cũng
được xem là giải pháp hữu ích. Việc này góp phần thực hiện được nhiều mục tiêu
khác bên cạnh việc bình ổn giá như tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, thực
hiện chính sách phân phối và điều tiết tiêu dùng một cách phù hợp.
4. Nhất quán chủ trương kiềm chế lạm phát, điều chỉnh chính sách thuế
- Các chính sách tháo gỡ khó khăn được quan tâm như: điều chỉnh giảm lãi suất
vay phù hợp với mức giảm của lạm phát; tăngkhả năng vay vốn cho doanh nghiệp,
nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công
nghiệp phụ trợ và khu vực nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện việc kéo dài thời
hạn nộp thuế, giảm tiền thuê đất, miễn thuế môn bài đối với một số đối tượng
doanh nghiệp; đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư nhà nước…
- Quốc hội sẽ xem xét quyết định một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn
cho doanh nghiệp và cá nhân năm 2012. Xem xét, thông qua 13 dự án luật và 2 dự
thảo nghị quyết; một số báo cáo kết quả giám sát của các cơ quan của Quốc hội,
tiến hành chất vấn, trả lời chất vấn và thảo luận các báo cáo quan trọng khác.Triển
khai áp dụng các giải pháp xử lý nợ phù hợp đối với các doanh nghiệp, nhất là các
Page 15
Thuế và lạm phát Nhóm 9
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có tiềm năng phát triển nhưng đang gặp khó
khăn tạm thời (cơ cấu lại nợ, giãn nợ, thay đổi thời hạn, lãi suất…).
III. Dùng công cụ thuế để kiểm soát lạm phát ở tại Việt Nam trong những
năm gần đây
- Nhìn vào Việt Nam có 2 điểm quan trọng nhất là kiểm soát thu nhập và thông

Nghị quyết về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế để tháo gỡ khó khăn cho
doanh nghiệp và cá nhân từ tháng 8 đến hết tháng 12/2011. Theo đó, người nộp
thuế không có người phụ thuộc có thu nhập dưới 9 triệu đồng/tháng được miễn
hoàn toàn số thuế phải nộp.
III.3. Giảm, gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống còn 25%, vì cắt giảm thuế nhằm
tạo môi trường đầu tư hấp dẫn để khuyến khích, thu hút đầu tư. Điều chỉnh thuế
suất là ưu đãi theo diện rộng và sẽ đi đôi với hạn chế ưu đãi theo diện hẹp, khắc
phục tình trạng dàn trải, phức tạp trong chính sách hiện hành, giảm thuế sẽ ảnh
hưởng tới nguồn thu song có thể bù lại bằng tăng trưởng kinh tế.
Bộ Tài chính đã có văn bản cho phép 6 doanh nghiệp ngành hàng, gồm sản xuất
linh kiện điện tử; chế biến nông, lâm, thủy sản, dệt may và da giày được gia hạn
thuế thu nhập doanh nghiệp để giảm bớt khó khăn.
Theo đó, số thuế thu nhập doanh nghiệp được gia hạn tính từ quý 3 và quý 4 năm
2008 tạm tính trên thu nhập từ các hoạt động sản xuất chế biến nói trên.
Thời gian gia hạn nộp thuế không quá ngày 29/4/2009 đối với số thuế tạm tính của
quý 3/2008, và không quá ngày 30/7/2009 đối với số thuế tạm tính của quý
4/2008.
Page 17
Thuế và lạm phát Nhóm 9
Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành văn bản 16/7/2008.
Đây là một trong những biện pháp tháo gỡ khó khăn kịp thời cho doanh nghiệp
sau khi các kiến nghị về việc được giãn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được các
hiệp hội ngành hàng gửi lên các bộ, ngành liên quan trong thời gian qua.
Để thực hiện thu ngân sách năm 2011 vượt tối thiểu 7-8% so với nhiệm vụ thu mà
Quốc hội đã quyết định, ngành thuế tập trung thực hiện 07 nhóm giải pháp chủ yếu
sau:
Một là, căn cứ vào chỉ tiêu phấn đấu thu ngân sách năm 2011 Tổng cục Thuế đã
giao tại Quyết định số 179/QĐ-TCT ngày 21/2/2011, cục thuế các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương phân bổ giao kịp thời, đầy đủ nhiệm vụ phấn đấu thu năm

bạc - tài chính, trên cơ sở đó giảm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính của
cả cơ quan thuế và người nộp thuế, cơ quan thuế có điều kiện tập trung nguồn lực
vào công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý nợ thuế.
-Những đối tượng mà ngành thuế đặc biệt quan tâm để thanh tra, kiểm tra chống
thất thu ngân sách trong năm 2011 là các DN có dấu hiệu chuyển giá của các công
ty đa quốc gia; các DN, cơ sở kinh doanh lỗ liên tục (từ 2 năm trở lên); DN lỗ
nhưng vẫn mở rộng sản xuất kinh doanh; DN có số lỗ vượt vốn chủ sở hữu, DN có
số hoàn thuế GTGT lớn, DN hưởng ưu đãi thuế
Đối với các DN có vốn đầu tư lớn trên địa bàn, Tổng cục Thuế đã chỉ đạo cục thuế
các tỉnh báo cáo UBND tỉnh về kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế để UBND tỉnh
chỉ đạo các đơn vị có liên quan phối hợp thực hiện. Tổ chức kiểm tra thu kịp thời
đối với những mặt hàng kinh doanh phát sinh lợi nhuận lớn do thu được từ việc sử
dụng một số yếu tố đầu vào giá hiện còn thấp hơn giá thị trường như: thép, xi
măng, kinh doanh dịch vụ, ;
Thu hồi kịp thời số tiền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra vào ngân sách, phấn đấu
số thuế truy thu thực nộp vào ngân sách trong kỳ qua thanh tra, kiểm tra thuế
(trong phạm vi 90 ngày) đạt tối thiểu 80% số thuế phát hiện tăng thêm và xử lý vi
phạm pháp luật thuế; Thực hiện thu kịp thời số tiền thuế truy thu theo kết luận của
Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ.
Tăng cường phối hợp chặt chẽ với các ngành trong công tác điều tra, thanh tra,
giám sát hoạt động của DN để chống trốn thuế, gian lận thuế như: phối hợp với cơ
quan quản lý thị trường chống buôn lậu thuế, chống đầu cơ nâng giá thao túng thị
trường và gây ra lạm phát; phối hợp với cơ quan công an để phát hiện và xử lý kịp
thời các trường hợp trốn thuế, các trường hợp vi phạm về hóa đơn chứng từ để
chống thất thu ngân sách nhà nước./.
IV:Mối quan hệ giữa lạm phát và thuế ở các nước Châu Á
-Châu Á hiện đang đạt mức tăng trưởng nhanh và nguy cơ đi cùng là lạm phát. Hai
đầu tàu kinh tế khu vực là Ấn Độ và Trung Quốc đều đã và sẽ đạt mức tăng trưởng
mạnh mẽ.
Page 19

những người giàu, những người có mức tăng thu nhập ấn tượng, cần phải chia sẻ
gánh nặng này với người nghèo. Một tỷ lệ thuế thu nhập cao hơn cũng sẽ giúp
"làm mát" các thị trường bất động sản đang quá nóng của châu Á, vốn được coi là
một nguồn khác của lạm phát.
Thứ hai là tăng các loại thuế bán hàng và thuế giá trị gia tăng (VAT) - hoặc đưa
vào áp đặt loại thuế này ở những nơi chưa thực hiện. Việc này sẽ giúp tạm thời
giảm lạm phát nhưng đồng thời cũng là công cụ hữu dụng để giảm tốc độ tăng
trưởng của thương mại. Ấn Độ đã lên kế hoạch thực hiện bước đi này vào năm tới.
Còn tại Trung Quốc, nguồn thu ngân sách từ việc tăng thuế VAT đối với các sản
phẩm không thiết yếu có thể được chuyển cho các chính quyền địa phương, những
nơi đang phải phụ thuộc vào việc phát triển bất động sản để có nguồn thu.
Thứ ba là tăng tỷ suất thuế doanh nghiệp. Việc này có thể được cơ cấu theo cách
áp đặt một mức thuế tạm thời để ngăn cản các công ty đầu tư tràn lan trong các
giai đoạn bùng nổ. Khi vượt qua thời kỳ này thì có thể bỏ loại thuế này để khuyến
khích các doanh nghiệp, công ty tiếp tục đầu tư. Thay vì cùng nhau chạy đua thu
hút đầu tư, các quốc gia khu vực châu Á cần phải sử dụng thuế doanh nghiệp như
là một công cụ để đối phó với tình trạng biến động theo chu kỳ một cách thái quá
trong hoạt động kinh doanh.
Page 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status