TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC
TIỂU LUẬN
MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ
Đề tài:
THUẾ ĐÁNH VÀO CUNG LAO ĐỘNG
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Khoá:20
Lớp: TCDN Đêm 1
Nhóm: 02
1
TP.Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2011
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT CƠ BẢN 1
1.1. Thiết lập mô hình 1
1.2. HIệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập 3
1.3. Một vài vấn đề cần cân nhắc 4
CHƯƠNG 2. MỨC CUNG LAO ĐỘNG VÀ THU THUẾ 7
2.1. Ảnh hưởng của thuế đến cung lao động 7
2.1.1. Trường hợp độ co giãn của cung > độ co giãn của cầu 7
2.1.2. Trường hợp độ co giãn của cung < độ co giãn của cầu 8
2.1.3. Trường hợp cung và cầu có độ co giãn theo lương là bằng nhau 9
2.1.4. Trường hợp cầu co giãn hoàn toàn 9
2.1.5. Trường hợp cầu hoàn toàn không co giãn 10
2.2. Sự thay đổi số thuế thu được và cung lao động 10
2.3. Tác động của thuế trực thu đến cung lao động 13
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
• Đường giới hạn ngân sách trong biểu đồ cho thấy sự kết hợp giữa thời gian
nhàn rỗi và thu nhập hay tiêu dùng của một cá nhân được xác định bởi tiền
lương lao động. Nếu mức lương của Nam là w/giờ thì đường giới hạn ngân
sách của anh ta là đường thẳng có giá trị tuyệt đối của độ dốc là w và có dạng:
C + wL = wT, trong đó C là tiêu dùng được quyết định bởi thu nhập, wL giá trị
giờ nhàn rỗi, wT là tổng thu nhập. Ở hình 1.1, đó là đường BC.
• Điểm đặc biệt của đường giới hạn ngân sách là phụ thuộc vào sở thích của mỗi
người. Ta có các đường cong bàng quan có mặt lồi hướng về gốc O. Ba đường
cong này được đặt tên là i, ii, và iii trong hình 1.1. Tại A
1
là điểm tối ưu của
việc lựa chọn: Nam sử dụng L
1
giờ để nhàn rỗi và C
1
giờ lao động, kiếm được
thu nhập là OC
1
.
4
0
5
C
1
L
1
Tiêu dùng/ thu
nhập
Độ dốc = - w
Bây giờ giả sử chính phú đánh thuế thu nhập với thuế suất tỷ lệ t. Thuế này làm giảm
tiền lương một giờ từ w xuống còn ( 1 – t)w. Khi đó Nam không lao động 1 giờ thì anh ta
chỉ mất một khoản thu nhập là ( 1 – t)w, chứ không phải là w. Kết quả là thuế đã làm giảm
chi phí cơ hội của một giờ nhàn rỗi. Minh họa này được trình bày trên hình 1.2. Đường giới
hạn ngân sách của Nam bây giờ không còn là BC
1
. Thay vào đó là đường BC
2
, với giá trị
tuyệt đối của độ dốc bằng
(1- t)w. Do đánh thuế, nên Nam phải chọn một điểm dọc theo đường giới hạn ngân sách sau
thuế BC
2
. Trên hình 1.2, đó là điểm B có tọa độ: L
2
giờ nhàn rỗi và C
2
giờ lao động. Như
vậy, đánh thuế đã làm giảm thời gian lao động của Nam (L
2
– L
1
) giờ.
Câu hỏi đặt ra, có phải đánh thuế luôn làm giảm mức cung lao động hay không? Hình
1.3 (b) cho thấy khi Nam bị đánh thuế thì anh ta lại gia tăng số giờ làm việc, nghĩa là giảm
giờ nhàn rỗi từ L
1
L
2
. Vấn đề ở đây là phụ thuộc vào sở thích của mỗi người – có thể làm
Tiêu dùng
(b). Hiệu ứng thu nhập lớn
Hình 1.3 Hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế
2. Hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập
Đánh thuế vào cung lao động có thể gây ra hai hiệu ứng: hiệu ứng thay thế và hiệu
ứng thu nhập. Khi thuế làm giảm số tiền lương khả dụng thì chi phí cơ hội của nhàn rỗi cũng
giảm, khi đó người ta có khuynh hướng thay thế làm việc và nhàn rỗi. Đây là hiệu ứng thay
thế với khuynh hướng làm giảm mức cung lao động. Như vậy, dù có làm việc bao nhiêu giờ
thì thuế vẫn làm giảm thu nhập cá nhân. Thế nhưng, nhà rỗi cũng là một loại hàng hóa giống
như các hàng hóa khác, có sự lựa chọn trong tiêu dùng. Nếu như các yếu tố khác không đổi,
một khi thu nhập giảm sút, thì Nam phải cắtt giảm số giờ nhàn rỗi. Số giờ nhàn rỗi giảm đi
thì giờ lao động tăng lên. Hiệu ứng thu nhập có khunh hướng làm cho Nam làm việc nhiều
hơn. Như vậy, hai hiệu ứng này có tác động theo hai chiều ngược nhau. Đơn giản là không
thể biết được ( nếu chỉ trên cơ sở lý thuyết) hiệu ứng thu nhập hay hiệu ứng thay thế nổi trội
hơn. Đối với Nam thể hiện trên hình 1.3 (a), hiệu ứng thay thế lớn hơn; còn trên hình 1.3 (b),
hiệu ứng thu nhập lớn hơn.
3. Một vài vấn đề cần cân nhắc:
- cân nhắc khía cạnh cầu:
Những thay đổi trong các quyết định làm việc có thể ảnh hưởng tới cơ cấu tiêu thụ
những hàng hoá khác. Kết quả là, sự thay đổi giá cả tương đối đã phản hồi lại những
quyết định của thị trường lao động. ví dụ, nếu một phụ nữ có gia đình tăng số giờ làm
việc thì nhu cầu chăm sóc con cái cũn có thể tăng. ở một mức độ nào đó, điều này
làm tăng chi phí chăm sóc con cái, và do vậy có thể không khuyến khích một số bà
mẹ có con nhỏ làm việc, ít nhất là trong ngắn hạn.
- hiệu ứng cá nhân và hiệu ứng nhóm:
Chúng ta cần tập trung làm rõ có bao nhiêu cá nhân làm viêc trong điều kiện chế độ
thuế thay đổi. Rất khó để sử dụng những kết quả này để dự đoán tổng số giờ làm việc
của một nhóm công nhân sẽ thay đổi như thế nào. Khi thuế thay đổi, động cơ làm
việc thay đổi khác nhau ở mỗi người. ví dụ, khi thay đổi từ thuế cố định sang thuế luỹ
tiến, những công nhân có thu nhập thấp có thể chịu mức thuế suất biên thấp hơn trong
nhận sau thuế. Trong mô hình này, thuế thu nhập làm giảm lợi nhuận và chi phí với
cùng một tỷ lệ, và do đó không ảnh hưởng đến đầu tư vào nguồn nhận lực.
Kết quả này là kết quả của giả định mức cung lao động không đổi sau khi bị đánh
thuế. Giả sử, thay vì vậy, do thuế thu nhập, Nam tăng mức cung lao động (hiệu ứng
thu nhập chiếm ưu thế). Trong trường hợp này, thuế làm gia tăng tích luỹ nguồn vốn
nhân lực. Thực tế, mức cung lao động sau thuế là tỷ lệ tận dụng mức đầu tư nguồn
vốn nhân lực. một người làm việc nhiều giờ hơn thì tiền lương lớn hơn so với mức
tăng tiền lương nhờ đầu tư vào nguồn vốn nhân lực. Do đó, nếu thuế tạo ra nhiều việc
làm thì nó cũng làm cho dầu tư vào nguồn vốn nhân lực trở nên hấp dẫn hơn, với
những yếu tố khác không đổi. ngượi lại, nếu hiệu ứng thay thế chiếm ưu thế làm giảm
mức cung lao động thì tích luỹ nguồn vốn nhân lực không được khuyến khích.
Mô hình đơn giản này đã bỏ qua yếu tố quan trọng: phần lời từ việc đầu tư vào nguồn
vốn nhân lực thường không được xác định chắc chắn. hơn nữa, một số loại đầu tư vào
nguồn vốn nhân lực còn liên quan đến chi phí khác ngoài phần thu nhập mất đi. Học
phí là một ví dụ điển hình. Cuối cùng, với thuế luỹ tiến thì lợi nhuận và chi phí đầu tư
vào nguồn nhân lực có thể bị đánh thuế với các mức thuế suất khác nhau. Tuy nhiên,
xem xét những điều đó là để khẳng định các kết quả cơ bản – theo quan điểm lý
thuyết, tác động của hệ thống thuế thu nhập đối với tích luỹ nguồn vốn nhân lực là
8
không rõ ràng. Không may là hiện chưa có công trình nghiên cứu thực nghiệm về vấn
đề quan trọng này.
- Trả trọn gói:
Lý thuyết cơ bản về mức cung lao động khẳng định tiền lương theo giờ chỉ phần
thưởng có làm việc. thực tế, là người chủ thường trả công cho công nhân trọn gói,
gồm tiền lương, trợ cấp chăm sóc sức khoẻ, lương hưu, và các “bổng lộc” như được
sử dụng xe của công ty, dụng cụ thể thao… Hầu hết các khoản tiền mang tính chất
lương được chi trả cho người lao động đều không bị đánh thuế. Khi thuế suất biên
giảm thì sức hấp dẫn của những loại thu nhập không chịu thuế cũng giảm và ngược
lại. do đó, những thay đổi thuế sẽ gây ảnh hưởng đến thành phần của tiền lương trọn
gói.
S2
D
Số giờ
3. Cầu không có giãn:
10
Thu nhập
S1
S2
D
Số giờ
4. Cung không co giãn:
Thu nhập
S1
11
S2
D
Số giờ
12