Tiểu luận môn Phân tích chính sách thuế chủ đề Đề xuất một số biện pháp chống chuyển giá ở Việt Nam - Pdf 24



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

CHUYỂN GIÁ GVHD : PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng
NHÓM : 7
LỚP : TCDN Đêm 4 – K21

 TP.HCM, tháng 11.2012 

CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM 7
1. Nguyễn Thị Minh Ngọc
2. Nguyễn Thị Lan
3. Đinh Viết Khuê
4. Nguyễn Thị Hồng Nhung
5. Nguyễn Văn Hùng
6. Lại Thị Hằng

2.2.1 Chuyển giá qua khâu xác định giá trị vốn góp trong các liên doanh 13
2.2.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ 14
2.2.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường 15
2.2.4 Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất 17
2.3 Đánh giá hoạt động chống chuyển giá tại Việt Nam 18

2.3.1 Những nỗ lực của ngành thuế trong công tác chống chuyển giá ở nước ta.
18
2.3.2 Những khó khăn và bất cập trong công tác chống chuyển giá tại Việt Nam
20
a. Khó khăn 20
b. Bất cập trong quản lý 21
PHẦN III. ĐỂ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT
NAM 23
3.1 Đối với cơ quan thuế 23
3.1.1 Biện pháp hành chính 23
3.1.2 Biện pháp cưỡng chế 23
3.2 Đối với nhà nước: 25
3.2.1 Hoàn thiện văn bản hệ thống pháp luật về chống chuyển giá 25
3.2.2 Nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý nhà nước 26
3.2.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu giá cả cho các giao dịch 27
3.2.4 Nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của cán bộ quản lý khu
vực đầu tư nước ngoài 28 1


Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài
sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị
trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company)
trên toàn cầu.
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay
đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Hành vi ấy có đối
tượng tác động chính là giá cả. Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như
thế xuất phát từ ba lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn
có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán
hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn.
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự
khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích
không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên
kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của
họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi
bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc
gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhất,
cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu. Chênh lệch mức độ
điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra.
Cho nên, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủ
thể có mối quan hệ liên kết. Để làm điều này họ phải thiết lập một chính sách về giá mà ở
đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ
những giao dịch như thế. Chúng ta cần phân biệt điều này với trường hợp khai giá giao
dịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưng đằng sau đó họ vẫn thực hiện thanh

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá

Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 3


GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá

Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 4

Báo cáo quyết toán ngân sách năm 2009 của Chính phủ cùng kết quả kiểm toán cho
thấy giữa dự toán và quyết toán còn khoảng cách lớn. Chẳng hạn dự toán thu từ dầu thô
có 63.400 tỷ đồng nhưng thực thu tới hơn 83.300 tỷ đồng, vượt 31,6%.
1.2 Nguyên nhân dẫn tới chuyển giá
Khi các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa các chủ
thể kinh doanh, thì việc xác định lợi ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của một chủ thể
riêng lẻ, mà được tính trong lợi ích chung của cả tập đoàn hay nhóm liên kết. Với môi
trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, câu hỏi làm sao để lợi ích tổng thể đạt tối ưu luôn
được đặt ra với các chủ thể kinh doanh. Chuyển giá được xem là một lời giải cho bài toán
lợi ích mà ở đó nhà đầu tư không cần thêm vốn hay mở rộng sản xuất. Đơn giản vì
phương cách này giúp họ giảm tổng nghĩa vụ thuế. Từ đó lợi nhuận sau thuế sẽ gia tăng.
Tuy nhiên vấn đề chuyển giá ở Việt Nam còn hết sức mới mẻ. Trong xu thế mở rộng
cửa chào đón các tập đoàn kinh tế quốc tế, phát huy nội lực với các công ty cha - mẹ -
anh - chị - em , thì chuyển giá sẽ là công cụ dễ được các chủ thể kinh doanh sử dụng
nhằm thay đổi những nghĩa vụ thuế phải thực hiện với nhà nước. Sự mới mẻ và chứa
đựng những hấp dẫn về lợi ích kinh tế của chuyển giá là điều được các nhà quản lý lưu
tâm, được các chủ thể kinh doanh, người hoạch định chiến lược tài chính của doanh
nghiệp lên chương trình hành động cho mình.
1.3 Phạm vi chuyển giá
Chuyển giá với ý nghĩa chuyển giao giá trị trong quan hệ nội bộ nên hành vi phải
được xem xét trong phạm vi giao dịch của các chủ thể liên kết. Điều 9 Công ước mẫu của
OECD về định giá chuyển giao ghi nhận “Hai doanh nghiệp được xem là liên kết
(associated enterprises) khi:
Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kia
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian;

lên.
Khía cạnh khác, các giao dịch trong nước có thể hưởng lợi từ chế độ ưu đãi, miễn
giảm thuế. Thu nhập sẽ lại dịch chuyển từ doanh nghiệp liên kết không được hưởng ãi
hoặc ưu đãi với tỉ lệ thấp hơn sang doanh nghiệp liên kết có lợi thế hơn về điều này.
1.4 Tác động của chuyển giá
1.4.1 Đối với các công ty đa quốc gia
 Tác động tích cực
 Được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi đầu tư (như thuế suất, lĩnh vực đầu tư…) tạo
điều kiện cho các công ty đa quốc gia dễ dàng trong việc thực hiện giảm thiểu trách
nhiệm ở quốc gia các công ty đa quốc gia đang đầu tư.

1
Chẳng hạn như Luật Thuế TNDN của Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Canada hoặc Công ước mẫu về định giá chuyển giao của OEDC
đều chỉ điều chỉnh đối với chuyển giá quốc tế (all cross-border)
2
Atul Dua, Tranfer Pricing-Atax: Corporate and Securities Perspective, IPBA Journal, số 40, tháng 12/2005, tr. 22.

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá

Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 6

 Thực hiện chuyển giá, các công ty đa quốc gia sẽ bảo toàn được nguồn vốn đầu tư,
nhanh chóng thu hồi nguồn vốn cho các cơ hội đầu tư khác.
 Thực hiện chuyển giá sẽ giúp các công ty đa quốc gia nhanh chóng chiếm lĩnh thị
trường ở các nước đang đầu tư.
 Tác động tiêu cực
 Nếu bị các quốc gia phát hiện và thực hiện chế tài thì các công ty đa quốc gia phải
chịu một khoản phạt rất lớn, bị rút giấy phép kinh doanh tại quốc gia đó hoặc ảnh
hưởng nghiêm trọng trên thương trường quốc tế dẫn tới sự chú ý nhiều và chặt chẽ
hơn của các cơ quan thuế ở những nước mà các công ty đa quốc gia đi đầu tư sau đó.

 Tác động tiêu cực
 Nếu thuế suất ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư thấp hơn thuế suất ở chính quốc, sẽ làm
cho các nước xuất khẩu đầu tư bị mất cân đối trong kế hoạch thuế của nước này do
việc thất thu một khoản thu nhập từ thuế.
 Mục tiêu quản lý nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia này sẽ gặp một số khó khăn nhất
định do việc các dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý của chính
phủ.
1.5. Các phương thức chuyển giá phổ biến
Qua nghiên cứu thực tế thì nhận thấy các MNC thường áp dụng các phương thức
chuyển giá sau:
Chuyển giá thông qua việc mua bán nguyên vật liệu sản xuất, bán thành phẩm hay
thành phẩm. Các thành viên của MNC có trụ sở tại các quốc gia có thuế suất thuế TNDN
cao sẽ mua vào các nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm với giá cao và bán
ra cho các công ty thành viên với giá thấp nhằm tối thiểu hóa thuế TNDN. Giá mua vào
và giá bán ra cho các thành viên trong MNC bị áp đặt nhằm tối thiểu hóa thu nhập phải
nộp thuế.Ngoài ra, thông qua việc xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa các MNC cũng thu
lợi từ các biểu thuế xuất khẩu hay nhập khẩu nhằm tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của
MNC.
Ví dụ:
Cụ thể, Thanh tra Cục Thuế phát hiện, từ tháng 1.2006 Bat-Vinataba ký hợp đồng với
Cty Bat Marketing-Singapore (Bat MS) về cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ như: Quản lý
cấp loại, chất lượng và tính ổn định của nguyên liệu thuốc lá; kế hoạch nhu cầu và thay
thế lá thuốc lá (bao gồm cả việc quản lý nguyên liệu lá thuốc và gia liệu từ nhà cung cấp
trong nội bộ Tập đoàn Bat hay các bên cung cấp thứ ba). Duy trì công thức pha trộn Giá
cả chi phí được thanh toán là: 0,25USD/1 kg thuốc lá sợi để sản xuất các loại thuốc lá
mang nhãn hiệu BAT 9 trong 2 năm đầu) và 0,50USD/kg cho các năm tiếp theo.
Bat-Vinataba đã hoạch toán chi phí này vào giá vốn hàng bán để giảm thu nhập chịu
thuế thu nhập DN trong 4 năm (từ năm 2002 đến 2008) tổng cộng hơn 217 tỉ đồng.
Nhưng Cty đã không chứng minh được các chứng từ thể hiện Bat-MS đã thực hiện các


thành viên có trụ sở tại quốc gia có thuế suất cao. Các hoạt động trên đều nhằm tối thiểu
hóa số thuế phải nộp và việc phân bổ chi phí trên hoàn toàn là hành động chủ quan của
các nhà quản lý của MNC vì vậy đây cũng là hình thức chuyển giá. Các thành viên trong

3

4
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá

Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 9

MNC có sự cung ứng các dịch vụ tài chính, tư vấn pháp lý với giá cả cao hơn nhiều lần
so với giá cả thị trường. Cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với
lãi suất cao hơn mức thị trường. Có sự tài trợ liên quan đến các nguồn lực cơ bản như
nhân sự, vật chất. Các chi phí cho các chuyên gia tham gia tư vấn như các chi phí về tiền
lương, chi phí nhà ở, đi lại, các chi phí khác phục vụ cho các chuyên gia yên tâm làm
việc.
Chuyển giá thông qua việc hỗ trợ tài chính: Qua thực tế kiểm tra cho thấy, đa phần
các MNC ở Việt Nam vay vốn của các công ty mẹ ở nước ngoài với lãi suất rất cao. Lãi
suất tiền vay cao đồng nghĩa với việc giá thành cao, giảm lợi nhuận, thuế TNDN giảm.
Cũng có trường hợp, công ty mẹ ở nước ngoài đứng ra bảo lãnh cho MNC ở Việt Nam
vay vốn với chi phí bảo lãnh rất cao.

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá

Nhóm 10 – Lớp TCDN Đêm 1.K20 10


Lượng vốn FDI vào Việt Nam đã có nhiều đóng góp nổi bật trong quá trình phát triển
đất nước. Từ năm 2001 đến năm 2011, thông qua các loại thuế, các doanh nghiệp FDI đã
nộp hơn 15,5 tỷ USD vào ngân sách nhà nước; tổng sản phẩm của doanh nghiệp FDI
chiếm tới 20% GDP; trung bình mỗi năm từ 2000 đến 2010 giải quyết việc làm cho

5

6

7


GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá

Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 11

khoảng hơn 1 triệu lao động. Ngoài ra, FDI cũng giúp đẩy mạnh xuất khẩu (mặc dù tăng
trưởng kinh tế chậm lại trong 6 tháng đầu 2012, với GDP chỉ tăng 4,38%, thấp hơn 1,25
điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, nhưng các doanh nghiệp FDI đã góp phần
quan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu thêm 22,2%
8
).
Như vậy, cho đến nay, không còn nghi ngờ gì nữa về vai trò quan trọng của FDI đối
với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Tuy nhiên, lý thuyết và thực tiễn
đều cho thấy mục tiêu của FDI là lợi nhuận nên có nhiều khác biệt với các mục tiêu phát
triển của nước chủ nhà. Chính sự khác biệt này đã làm phát sinh nhiều vấn đề - mà nếu
chúng ta không có những giải pháp phòng chống thì hiệu quả của dòng vốn FDI có thể sẽ
không còn. Một trong số đó là vấn đề chuyển giá.
2.1.2. Thực trạng chung về hoạt động chuyển giá tại Việt Nam
Dấu hiệu nghi ngờ doanh nghiệp chuyển giá được nhìn nhận qua hai đặc điểm: doanh

FDI khai báo lỗ trên 4 năm chiếm trên 50%.
Biểu đồ 2: Số lượng các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ và lãi trên địa bàn TP. Hồ Chí
Minh qua các năm

Nguồn: Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh
10

Các doanh nghiệp FDI báo cáo thua lỗ nhưng vẫn mở rộng đầu tư
Có thể kể đến những trường hợp điển hình, như Metro Cash & Carry Việt Nam khai
lỗ từ năm 2001 đến 2009 là 1.157 tỉ đồng, đứng đầu bảng trong danh mục các doanh
nghiệp FDI khai lỗ. Thua lỗ nhưng doanh nghiệp này vẫn tiếp tục khai trương trung tâm
bán sỉ thứ 19 của mình tại Việt Nam, có tổng diện tích bán hàng lên tới 5.100 m2. Trong
các năm 2010, 2011 và 2012, Metro đã xây dựng bốn trung tâm mới mỗi năm.
Hoặc Coca Cola, số lỗ luôn ở mức trên 100 tỷ đồng/năm trong vòng 10 năm qua, có
năm gần bằng 1/3 doanh thu. Nhưng kế hoạch mới công bố cho thấy Coca Cola sẽ tiếp
tục rót thêm 300 triệu USD vào Việt Nam trong 3 năm tới, đưa tổng vốn đầu tư vào thị
trường này lên nửa tỷ USD trong vòng 5 năm.
11

Trốn thuế, gây thất thu ngân sách
Những năm qua, một lượng lớn doanh nghiệp đã tìm cách để gian lận, trốn thuế. Theo

từ doanh nghiệp có lãi sang doanh nghiệp bị lỗ để điều hoà lãi lỗ, tránh thuế TNDN.
Hình thức chuyển giá đa dạng
Tại Việt Nam, các doanh nghiệp FDI dùng rất nhiều chiêu thức để chuyển giá. Đó có
thể là chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản hữu hình (như máy móc, thiết bị, công
nghệ) hoặc vô hình (định giá thương hiệu) giữa các bên liên kết; hay chuyển giá thông
qua các chuyển giao dịch vụ, chi phí giữa các bên liên kết; chuyển giá qua khâu xác định
vốn góp trong các liên doanh; chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất. Các hình thức
chuyển giá này sẽ được phân tích cụ thể dưới đây.
2.2 Một số hình thức chuyển giá tiêu biểu tại Việt Nam
2.2.1 Chuyển giá qua khâu xác định giá trị vốn góp trong các liên doanh
Tình trạng nâng giá tài sản góp vốn mang lại sự thiệt hại cho cả 3 đối tượng là phía
liên doanh góp vốn Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và cả người tiêu dùng Việt Nam. Bên
liên doanh Việt Nam bị thiệt trong phần vốn góp, làm cho tỷ lệ góp vốn nhỏ lại; Chính

12


GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá

Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 14

phủ Việt Nam bị thất thu thuế; còn người tiêu dùng Việt Nam phải tiêu dùng sản phẩm
với giá cả đắt hơn giá trị thực tế của sản phẩm.
Điển hình như, một khách sạn liên doanh giữa Tổng công ty Du lịch Sài Gòn và Vina
Group đã xác định giá trị đưa vào góp vốn của Vina Group là 4,34 triệu USD. Nhưng
theo sự thẩm định giá của công ty giám định giá thì giá trị tài sản góp vốn của Vina
Group chỉ có giá trị là 2,99 triệu USD. Như vậy, trong nghiệp vụ định giá trị góp vốn liên
doanh này, phía Việt Nam đã bị thiệt hại 1,35 triệu USD, tương đương 45,2%.
Do nâng giá trị tài sản góp vốn nên tỷ lệ vốn cao hơn phía Việt Nam, vì vậy bên đối
tác nước ngoài thường sẽ nắm quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp. Đối tác nước

ngày càng tăng.
Một ví dụ cho việc này là ban đầu, liên doanh Mecedes- Benz (Đức) trước khi đàm
phán đòi chi phí bản quyền chuyển giao công nghệ là 42 triệu USD. Sau khi phía Việt
Nam đàm phán lại giảm xuống chỉ còn 9,6 triệu USD; giảm đi 77% so với chi phí ban
đầu phía Đức đưa ra. Trường hợp khác, cũng trong ngành sản xuất xe ô tô, đó là công
ty Mitsubishi Motor Corporation (Nhật Bản) trong liên doanh sản xuất ôtô Ngôi Sao
đòi phí bản quyền chuyển giao công nghệ là 61 triệu USD. Sau khi đàm phán lại thì
giảm xuống chỉ còn 4,4 triệu USD; tức giảm đi gần 15 lần. Một trường hợp nữa là công
ty mía đường Đài Loan đòi phí bản quyền là 54 triệu USD nhưng sau khi đàm phán thì
phí bản quyền chỉ còn là 6 triệu USD, giảm 9 lần
2.2.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường
Các công ty đa quốc gia (Multinational corporation – MNC) khi đi vào đầu tư kinh
doanh tại một quốc gia thì họ thường sẽ thích liên doanh với một công ty nội địa hơn là
vào đầu tư thẳng là công ty 100% vốn nước ngoài. Nguyên nhân là các MNC này muốn
sử dụng hệ thống phân phối và thị phần có sẵn của các công ty nội địa. Sau một thời gian
liên doanh thì các MNC này sẽ dùng các thủ thuật khác nhau, trong đó có thủ thuật
chuyển giá để đẩy công ty nội địa ra và chuyển công ty liên doanh thành công ty 100%
vốn nước ngoài.
Có rất nhiều chiêu thức mà các hãng ngoại đưa ra để tăng cường quyền lực và đạt các
mục tiêu lợi ích sau khi liên doanh được thành lập. Với những liên doanh cùng ngành
nghề, chuyển giá là hiện tượng phổ biến khi phía nước ngoài thường yêu cầu Việt Nam
tiêu thụ một số sản phẩm của mình. Chiêu thức này khá giống với mối quan hệ hợp tác
giữa Lotte và Bibica.
Ngày 04/10/2007, Lễ ký kết Hợp đồng Hợp tác chiến lược giữa Bibica và Lotte đã
diễn ra, theo chương trình hợp tác, Bibica đã chuyển nhượng cho Lotte 30% tổng số cổ
phần (khoảng 4,6 triệu cổ phần). Tập đoàn Lotte – Hàn Quốc là 1 trong những tập đoàn
bánh kẹo lớn nhất tại Châu Á, sau khi trở thành đối tác chiến lược, Lotte hỗ trợ Bibica

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá


GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá

Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 17

nhiều chi phí marketing khiến tỷ suất lợi nhuận của nhãn hàng thời gian qua âm 20%.
Điều đáng nói là với các sản phẩm Lottepie xuất khẩu, Bibica bán trực tiếp cho cổ đông
lớn Hàn Quốc với giá 6,9 USD/thùng. Tuy nhiên, năm 2011, Bibica gặp sự cố dây
chuyền sản xuất phải nhập khẩu lại để giữ thị phần nội địa thì giá nhập từ Lotte lên tới
7,4 USD/thùng, đồng thời giá xuất khẩu sản phẩm sang các nước châu Á trong năm 2012
được Lotte đề xuất ở mức 6,9 USD/thùng, khiến tỷ suất lợi nhuận xuất nhập khẩu của
Bibica âm 18%
15
Thời gian này, thị phần và thương hiệu của Bibica không được gia tăng
tại thị trường nội địa. Nghiêm trọng hơn nữa, khi xuất khẩu, Bibica vô tình còn giúp
Lotte thực hiện việc chuyển giá.
Bất chấp kết quả kinh doanh của liên doanh Lotte Việt Nam không thuận lợi, Lotte đã
đề nghị tăng vốn điều lệ từ 2 năm trước, nhưng chưa được đối tác Việt Nam đồng thuận.
Tuy nhiên, trước sức ép tăng vốn thêm 10 triệu USD, việc doanh nghiệp tư nhân sản xuất
và thương mại Minh Vân quyết định bán lại 20% cổ phần ngay trong thời điểm này được
xem là phương án khả thi nhất. Lotte được chính thức trở thành nhà đầu tư có 100% vốn
nước ngoài, tức là được hoàn toàn chủ động trong các chiến lược kinh doanh tại thị
trường Việt Nam sau khi đã có bước tiến đáng kể trong thị trường bán lẻ nhờ sự hợp tác
với Minh Vân. Lotte thẳng tiến thâm nhập vào thị trường bán lẻ.
2.2.4 Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất
Động cơ của hành vi chuyển giá, không gì khác, chính là lợi nhuận của hoạt động
kinh doanh xét trên phương diện tổng thể. Việc xác định giá giao dịch giữa các thành
viên của các bên liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi
tổng nghĩa vụ thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị
điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Chẳng hạn như, công ty B và C
đều là công ty con của tập đoàn A. Công ty B áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh

Cụ thể, giá bán cho công ty mẹ thấp hơn 36%-44% so với giá bán cho các công ty ngoài
tập đoàn. Qua kiểm tra, Cục Thuế TP Đà Nẵng đã ấn định lại giá thị trường, kết quả
doanh thu tăng gần 40 tỉ đồng và giảm chi phí chênh lệch giá ngoại tệ hơn 6 tỉ đồng.
16

Tương tự, Công ty TNHH DaiWa Việt Nam (chuyên sản xuất cần câu cá các loại) từ
năm 2007 đến 2009 đã báo lỗ hơn 300 tỉ đồng. Trong quá trình sản xuất, công ty chủ yếu
bán sản phẩm cho các đơn vị nước ngoài trong cùng tập đoàn. Tài sản máy móc thiết bị
đều được nhập từ công ty trong cùng tập đoàn. Tuy trong nước không có công ty nào sản
xuất mặt hàng này nhưng qua thanh tra, Cục Thuế TP Đà Nẵng cũng phát hiện Công ty
DaiWa Đài Loan nhận một số lô hàng của Công ty DaiWa VN giao hàng tay ba cho một
doanh nghiệp Việt Nam đóng tại TP.HCM với giá cao hơn.
2.3 Đánh giá hoạt động chống chuyển giá tại Việt Nam
2.3.1 Những nỗ lực của ngành thuế trong công tác chống chuyển giá ở nước ta.
Hành vi chuyển giá ở Việt Nam xuất hiện cùng với sự gia tăng các doanh nghiệp FDI.
Cách đây khoảng 15 năm nó đã đặt ra cho các nhà quản lý một bài toán phải giải quyết.

16
Pháp luật thành phố HCM, Thuế khổ vì các chiêu chuyển lỗ, 2012

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá

Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 19

Động thái đầu tiên đánh dấu sự vào cuộc hóa giải vấn đề chuyển giá chính là sự ra đời
của Thông tư 74/1997/TT-BTC hướng dẫn về thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài, sau đó
là Thông tư 89/1999/TT-BTC, Thông tư 13/2001/TT-BTC và Thông tư 117/2005/TT-
BTC. Các văn bản nói trên đã thể hiện tinh thần cơ bản xử lý vấn đề chuyển giá là xác
định lại giá chuyển giao theo nguyên tắc giá thị trường sòng phẳng. Tuy nhiên, các văn
bản nói trên chỉ dừng lại ở đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp FDI mà chưa áp dụng

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá

Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 20

hiện những doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá để tiến hành đấu tranh đảm bảo xác
định lại giá chuyển giao theo quy định của pháp luật. Trong một số trường hợp, ngành
Thuế đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm xác định đúng giá trị giao
dịch, chẳng hạn như phối hợp với các cơ quan chức năng như công an, tài chính; phối
hợp với cơ quan thuế các nước để nắm bắt thông tin về giao dịch kinh tế của các doanh
nghiệp

Với nhận định về dấu hiệu chuyển giá ở các doanh nghiệp này, cơ quan thuế đã thực
hiện hàng loạt các nghiệp vụ thanh tra theo quy định của pháp luật như: khảo sát thực tế;
thu thập thông tin (từ các tổ chức cá nhân là đối tác mua hàng, bán hàng; từ nhân viên đã
từng làm việc tại các doanh nghiệp này; từ các cơ quan nhà nước có liên quan như Hải
quan, Sở Công thương ); tổ chức đối thoại với các doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá
và tiến hành kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp Kết quả kiểm tra tại trụ sở các doanh
nghiệp FDI này đã đi đến kết luận về hành vi chuyển giá của doanh nghiệp và xác định
các doanh nghiệp này có lãi từ năm 2005 hoặc 2006 và phải nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp theo quy định của pháp luật.
2.3.2 Những khó khăn và bất cập trong công tác chống chuyển giá tại Việt Nam
a. Khó khăn
Xuất phát điểm kinh tế thấp, kéo theo đó là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt
động quản lý nhà nước lạc hậu không đáp ứng yêu cầu quản lý. Trong thời gian khá dài
trước đây, chúng ta không có điều kiện kinh tế để đầu tư cho các hoạt động hợp tác quốc
tế về thuế, không đủ điều kiện để đầu tư trang bị hệ thống máy tính điện tử hiện đại mà
đây là những điều kiện thiết yếu để thu thập và xử lý thông tin phục vụ hoạt động đấu
tranh chống chuyển giá.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ bên cạnh những cơ hội là những thách
thức đi cùng. Sự gia tăng nhanh chóng các doanh nghiệp FDI, cùng với đó là các hành vi

hiện hành của Việt Nam, doanh nghiệp vẫn phải xác định giá thị trường và kê khai đối
với giao dịch liên kết có giá trị nhỏ trong khi chi phí và thời gian xác định giá thị trường,
kê khai với cơ quan thuế là đáng kể và không thấp hơn đối với việc xác định giá thị
trường và kê khai giao dịch lớn.
b. Bất cập trong quản lý
Cuộc “đấu tranh” chống hành vi chuyển giá của các doanh nghiệp trong thời gian
qua tuy đã đạt những kết quả nhất định nhưng còn chưa đáp ứng yêu cầu đề ra ngoài
nguyên nhân đến từ những khó khăn khách quan, còn có từ những vướng mắc, bất cập
trong quản lý. Cụ thể là:
Thứ nhất, hành lang pháp lý về chống chuyển giá chưa hoàn thiện. Xét ở cấp độ văn
bản luật thì quy định về chuyển giá và chống chuyển giá chưa thực sự đầy đủ và rõ ràng.
Như đã phân tích trên, mới chỉ có Điểm e Khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế quy định
một nội dung có liên quan có thể được vận dụng làm cơ sở để đấu tranh chống chuyển
giá. Ngoài ra, các quy định về định giá chuyển giao chỉ mới dừng ở cấp thông tư nên hiệu

Trích đoạn Xây dựng cơ sở dữ liệu giá cả cho các giao dịch Nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của cán bộ quản lý khu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status