1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TIỂU LUẬN
MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ
Đề tài:
THUẾ ĐÁNH VÀO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ
TÀI SẢN
Giảng viên: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Học viên: Nhóm 09, TCDN-Đêm 1, K20
TP.Hồ Chí Minh, Tháng 02/2012
2
DANH SÁCH NHÓM 09
DANH SÁCH NHÓM 09
1.
1.
Trần Hoàng Anh
Trần Hoàng Anh
2.
2.
Vũ Diễm Châu
Vũ Diễm Châu
3.
3.
Bùi Thị Mai Chinh
Bùi Thị Mai Chinh
4.
4.
Nguyễn Thị Mỹ Duy
Nguyễn Thị Mỹ Duy
1.1.1 Ảnh hưởng đến quyết định của công ty
1.1.2 Mô hình đầu tư tài chính
1.2 Các loại thuế
1.2.1 Thuế đánh vào lãi tiền gửi ngân hàng
1.2.2 Thuế đánh vào cổ tức
1.2.3 Thuế chuyển nhượng vốn
1.2.4 Những tranh luận ủng hộ trợ cấp thông qua đánh thuế thu nhập chuyển
nhượng vốn
1.3 Ở Việt Nam
2. Thuế tài sản 14
2.1 Tổng quan về Thuế Tài sản 14
2.1.1 Khái niệm chung 14
2.1.2 Đối tượng 14
2.1.3 Đặc điểm thuế tài sản 14
2.2 Các loại thuế 16
2.3 Ở Việt Nam 18
KẾT LUẬN
LỜI MỞ ĐẦU
4
Xã hội ngày càng phát triển, thu nhập bình quân của con người ngày càng
tăng cùng với sự phát triển của xã hội dần dần có của ăn của mặc, có sự đầu tư và
tích lũy tài sản. Việc gia tăng trong tài sản và thu nhập cũng đặt ra vấn đề cho công
tác quản lý của Nhà nước. Trong đó, thuế là một trong những công cụ quan trọng
thực hiện nhiệm vụ tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên mục tiêu
này không phải là duy nhất mà Nhà nước còn phải cân nhắc điều chỉnh thuế sao cho
không làm giảm động lực đầu tư hay tiết kiệm để tích lũy tài sản của người dân. Có
như vậy xã hội mới có thể phát triển bền vững được. Công tác nghiên cứu để đưa ra
chính sách thuế tốt nhất đòi hỏi nhiều nỗ lực từ nhiều phía. Bài viết này xin đưa ra
một số khía cạnh tóm lược cần quan tâm về hai vấn đề là thuế đánh vào hoạt động
đầu tư và thuế đánh vào tài sản.
- Quyết định tổng lượng đầu tư vật chất
Lượng đầu tư ròng của doanh nghiệp trong một giai đoạn là khoản gia tăng tài
sản vật chất trong thời kỳ đó. Câu hỏi chính về chính sách là liệu các đặc trưng như
là khấu hao và giảm thuế do đầu tư có kích thích nhu cầu đầu tư hay không. Câu hỏi
này rất quan trọng.
Ví dụ, khi Tổng thống Clinton đề nghị phục hồi giảm thuế do đầu tư năm
1993, ông ta cho rằng điều này sẽ làm gia tăng đầu tư một cách đáng kể. Những
người có ý kiến đối lập với ông ta lại quả quyết rằng điều này không có tác động gì
lớn. Ai đúng?
Có 3 mô hình
+ Mô hình gia tốc: yếu tố quyết định khối lượng đầu tư là sự thay đổi sản lượng
đầu ra, do đó các khoản giảm thuế cho đầu tư phần lớn không có tác động gì đến
đầu tư vật chất. Hay nói cách khác, các khoản trợ cấp thuế đối với vốn có thể làm
cho vốn rẻ hơn, nhưng mô hình này thì điều đó không quan trọng bởi vì nhu cầu
vốn không phụ thuộc vào giá cả của nó.
+ Mô hình tân cổ điển: khi chi phí vốn tăng, các doanh nghiệp lựa chọn kỹ thuật
cần ít vốn và ngược lại. Khi chính sách thuế làm giảm chi phí vốn thì doanh nghiệp
có thể tăng vốn và như vậy sẽ tăng đầu tư. Hệ thống thuế công ty làm tăng chi phí
sử dụng vốn; lượng đầu tư thật sự là khá nhạy cảm với những thay đổi do thuế gây
ra đối với chi phí sử dụng vốn.
+ Mô hình lưu lượng tiền mặt: trong giới kinh doanh thì lưu lượng tiền mặt
quyết định lượng đầu tư của họ. Chi phí cho việc sử dụng các quỹ nội bộ thấp hơn
so với chi phí sử dụng vốn vay khi đó lượng đầu tư sẽ phụ thuộc vào lưu lượng của
các quỹ nội bộ này, tức lưu lượng tiền mặt.
- Quyết định loại tài sản nên mua
Hệ thống thuế rất có khả năng gây ảnh hưởng đến chủng loại tài sản mà doanh
nghiệp mua sắm. Ví dụ, có khuynh hướng khuyến khích mua các tài sản có khoản
khấu hao tương đối lớn, với những yếu tố khác không đổi.
- Quyết định cách thức tài trợ vốn
6
Bảng 1.Đánh thuế và mức chấp nhận rủi ro của Ông X
Đầu tư Nhận được
nếu lãi
Nhận được
nếu lỗ
Thuế suất
nếu lãi
Thuế giảm
trừ nếu lỗ
Lãi sau
thuế
Lỗ sau
thuế
7
100 20 -20 0 0 20 -20
100 20 -20 50% 50% 10 -10
200 40 -40 50% 50% 20 -20
200 40 -40 50% 0 20 -40
200 40 -40 75% 50% 15 -20
Giả sử nhà nước chưa đánh thuế: Ông X đầu tư 100$ vào thương vụ mạo
hiểm với cơ hội 50% tăng gía trị lên 120$(tức được lợi 20$) và 50% giảm giá trị
xuống còn 80$(tức lỗ 20$). Việc đầu tư này mang lại lợi nhuận kỳ vọng là bằng
0(20$x0.5+(-20$x0.5)=0$)(xem dòng 1 bảng 1)
Nhà nước lúc này tính thuế 50% và cho phép chuyển toàn bộ lỗ vào thu nhập
chịu thuế.Do vậy Ông X chỉ giữ lại được 50% lợi nhuận thu được vì bị đánh thuế
50% và nếu lỗ thì Ông X chỉ lỗ 50% vì lỗ được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế nên
cơ sở đánh thuế giảm và bù đắp 50% số lỗ còn lại (điều này có nghĩa là chính phủ
sẽ chịu 50% trên mỗi đôla lỗ). Với chính sách này thì ông X chỉ kiếm được 10$ khi
đầu tư thành công vì 10$ còn lại phải chịu thuế (xem dòng 2 bảng 1). Khi bị lỗ thì
ông X chỉ lỗ 10$ vì ô ta được chuyển toàn bộ số lỗ 20$ này vào thu nhập chiụ
Là loại thuế đánh vào cổ tức nhận được của cổ đông. Đánh thuế trên số tiền
dồn tích: là thuế phải nộp tính theo thời gian số tiền lời kiếm được của tài sản đó.
Nước Mỹ Canada Pháp Đức Italy Nhật
Tây Ban
Nha
Vương
Quốc Anh
Thuế
suất 46.80% 48.60%
61.20
% 53,8% 12,5% 50% 48% 40%
Bảng 2: Thuế đánh vào cổ tức nhận được (2000).
Tại Mỹ thuế đánh vào thu nhập cổ tức được áp dụng từ năm 1895. Cho đến
nay vẫn có nhiều ý kiến cho rằng không nên áp dụng thuế cổ tức tại Mỹ. Năm 2003
chính phủ Mỹ mà đứng đầu là tổng thống George W.Bush cam kết sẽ loại bỏ thuế
đánh vào thu nhập các nhà đầu tư cổ phiếu. Tuy nhiên việc bãi bỏ này không được
9
thực hiện mà Quốc Hội Mỹ chỉ thông qua sắc lệnh làm giảm nhẹ thuế (Jobs and
Growth Tax Relief Reconciliation Act of 2003 – JGTRRA) sau nhiều tháng tranh
luận.
Mức thuế suất khởi điểm là 10% được áp dụng cho hầu hết các nhà đầu tư
với cổ tức thông thường, một số nhà đầu tư đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về thu nhập
cổ tức tiêu chuẩn sẽ được áp dụng mức ưu đãi thấp hơn.
Quy định về thu nhập cổ tức tiêu chuẩn được áp dụng đến 31/12/2008 nhưng
sau đó được gia hạn hai lần đến 31/12/2012 (lần gia hạn đầu tiên áp dụng đến
31/12/2010)
1.2.3 Thuế chuyển nhượng vốn:
Là loại thuế đánh vào lợi nhuận do điều chuyển vốn – nghĩa là sự chênh lệch
giữa giá mua và bán tài sản.
Ví dụ như, lợi nhuận khi đầu tư vào nhà cửa hay tác phẩm nghệ thuật cũng
Nếu như chính phủ đo lường được giá trị dồn tích một cách hợp lý thì cá nhân
có thể không có khả năng để tài trợ cho các yêu cầu trả thuế.Giả sử giá trị của cổ
phiếu tăng rất nhanh và gấp đôi thì làm cho tài sản của cá nhân đó tăng rất lớn và
không có cách nào trả thuế hàng năm ngoại trừ bán khối lượng lơn cổ phiếu.Mà
việc buộc cá nhân từ bỏ một tài sản đang sinh lợi cao chỉ vì để nộp thuế là không
hiệu quả.
Vấn đề nâng giá trị tại thời điểm người sở hữu tài sản qua đời: Đối với những tài
sản được chuyển sang cho người thừa kế, điểm cơ bản này được tiến gần đến giá thị
trường cho đến khi qua đời.
Ví dụ, nếu như Ô A mua một bức tranh $100, nắm giữ 55 năm, và bán
nó trước khi ông A qua đời $10,000, thì Ô A nộp thuế trên tiền lời là $9,900.
Nếu như ông A để bức tranh cho con ông A, và chúng bán bức tranh này thì
không có nộp thuế trên tiền lời vốn.
Luật thuế truyền thống đề cao loại trừ thuế đánh vào tiền lời vốn đối với nhà.
Nhiều năm, sự loại trừ này cho phép các cá nhân không phải nộp thuế nếu như họ
đưa tiền lời đó vào mua một nhà mới.
11
Thêm vào đó, có sự giảm trừ đối với khoản tiền lời $125,000 đối với những
người có độ tuổi trên 55.
Từ 1997 trở đi, tiền lời vốn lên đến $500,000 từ bán nhà ở ban đầu (principal
residence) là được miễn trừ thuế.
Thuế suất thuế thu nhập chuyển nhượng vốn theo thời gian: ngay cả tồn tại các
hình thức trợ cấp đối với chuyển nhượng vốn, dạng thu nhập này theo thông lệ phải
chịu thuế suất thấp hơn so với dạng thu nhập khác:
-Từ năm 1978 đến 1986 cá nhân phải chịu thuế chỉ 40% đối với thu nhập từ
chuyển nhượng vốn trên các tài sản được nắm giữ trên 6 tháng.
- Luật cải cách thuế năm 1986 kết thúc việc trợ cấp này và coi thu nhập từ
chuyển nhượng vốn giống như các hình thức thu nhập khác với mục đích đánh
thuế,thuế suất tối đa 28%.
- Luật thuế năm 1993 tăng thuế suất tăng thuế suất tối đa lên 39% cho các dạng
Nhiều chủ doanh nghiệp mới bắt đầu kinh doanh có được sự giàu có không
phải bắt nguồn từ thu nhập được tích trước khi tiến hành kinh doanh, mà là từ gia
tăng giá trị công ty cơ bản.
Thuế suất đánh trên tiền lời vốn càng cao hơn thì làm nãn lòng chủ doanh
nghiệp. Thuế thu nhập chuyển nhượng vốn có nền tảng là thuế đối với chấp nhận
rủi ro,nhưng chấp nhận rủi ro là động cơ tăng trưởng cho nền kinh tế.Vì thế, khuyến
khích các chủ doanh nghiệp chính là lý do để hạ thấp thuế suất thuế thu nhập
chuyển nhượng vốn.
Tuy nhiên cũng có ba ý kiến phản đối lại quan điển trên:
13
- Thứ nhất, đánh thuế váo các hoạt động chấp nhận rủi ro khuyến khích hay
ngăn cản các hoạt động này là điều không rõ ràng. Không có bằng chứng tốt cho
thấy thuế thu nhập chuyển nhượng vốn làm tăng hay giảm các hoạt động chấp nhận
rủi ro.
- Thứ hai, chỉ một phần rất nho thu nhập chuyển nhượng vào tay chủ doanh
nghiệp.
- Thứ ba, thuế thấp trong hiện tại có thế làm tăng các hoạt động khởi nghiệp
hiện tại và tương lai, mà nó cũng mang lại lợi ích lớn cho những chủ doanh nghiệp
đã đầu tư vốn trong quá khứ. Thuế thấp không chỉ là sự khuyến khích đối với nhà
đầu tư khởi nghiệp với nhiều rủi ro, mà còn là phần thưởng cho những người đã
chấp nhận rủi ro trong quá khứ.
Dựa vào những vấn đề trên cho thấy rằng việc hạ thấp thuế suất dẫn đến:
- Khuyến khích các chủ doanh nghiệp.
- Khoản tiền lời quá khứ được giải phóng. Và nếu như hiệu ứng “giải phóng”
là lớn, nghĩa là nó khuyến khích người ta bán tài sản ngay thay vì chờ bán hay
không bán, thì nhiều khả năng việc giảm thuế suất thuế thu nhập chuyển nhượng
vốn thực sự làm tăng nguồn thu.
1.3. Ở Việt Nam:
1.3.1 Các loại thuế: Thuế từ lãi tiền gửi lãi cho vay vốn; Thuế cổ tức; Chuyển
nhượng vốn; Thuế chuyển giao tài sản.
hiểm nhân thọ là chứng từ trả tiền lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
b) Thuế cổ tức:
15
Thuế cổ tức là một loại hình của thuế thu nhập mà một quốc gia đánh vào cổ
tức. Thuế suất của loại thuế này thay đổi theo từng quốc gia, nó liên quan đến vấn
đề thuế kép mà một số quốc gia vẫn đang thực hiện và gặp phải phản ứng từ phía
các cổ đông, tức là những người nắm giữ cổ phiếu, do các công ty đã phải nộp thuế
lợi tức, thuế vốn rồi sau đó cổ đông lại phải nộp thêm thuế thu nhập từ cổ tức.
►Đối với doanh nghiệp:
Căn cứ vào điều 8 thuế TNDN: Thu nhập chịu thuế được xác định bao gồm:
thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác
trong kỳ tính thuế, kể cả thu nhập thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ ở nước ngoài.
Thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
bằng doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trừ (-) các khoản chi phí hợp lý liên quan
đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong kỳ tính thuế.
Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận được khoản thu nhập từ các hoạt động
góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh, liên kết kinh tế mà khoản thu nhập đó đã
được cơ sở kinh doanh nhận vốn cổ phần, vốn liên doanh, liên kết kinh tế nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp chia cho thì khoản thu nhập này không phải chịu thuế thu
nhập doanh nghiệp.
►Cá nhân:
Bắt đầu từ 01/01/2010 nhà đầu tư bắt đầu chịu thuế theo quy định tại thông
tư 84/2008/TT-BTC (là 5% cho khoản cổ tức nhận được bằng tiền mặt, đối với
khoản cổ tức nhận được bằng cổ phiếu nhà đầu tư chưa phải nộp thuế, khi chuyển
nhượng cổ phiếu này nhà đầu tư mới phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và được áp
dụng tương tự như trường hợp chuyển nhượng cổ phiếu ) ngoại trừ các khoản đầu
tư vốn của năm 2009 được trả trong sáu tháng đầu năm 2010.
c) Chuyển nhượng vốn
►Đối với doanh nghiệp:
- Đ/v CK niêm yết và CK của công ty đại chúng chưa niêm yết là giá thực mua CK
theo thông báo của Sở giao dịch CK, trung tâm giao dịch CK.
- Đ/v CK mua qua đấu giá là mức giá ghi trên thông báo kết quả trúng đấu giá và
giấy nộp tiền
- Đ/v CK không thuộc trường hợp trên là giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng
chuyển nhượng.
• Chi phí chuyển nhượng :
Là các khoản chi thực tế liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng, có chứng từ,
hoá đơn hợp pháp.
• Thuế Suất:
Thuế suất thuế TNDN về chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán là 25%.
►Đối với cá nhân:
TT 84/2008/TT-BTC quy định đối với hoạt động chuyển nhượng vốn như
sau:
Căn cứ tính thuế đối với hoạt động chứng khoán là thu nhập tính thuế và thuế
suất. Trong đó thu nhập tính thuế bằng được xác định bằng giá chào bán CK trừ giá
mua và các chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng.
Thuế suất có thể áp dụng 1 trong 2 cách tính:
Nộp thuế theo biểu phí toàn phần với thuế suất 20%. Cá nhân chuyển
nhượng chứng khoán đã đăng ký nộp thuế suất 20% vẫn phải tạm nộp theo thuế suất
0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần. Cách tính thuế TNCN phải
nộp như sau:
Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế X Thuế suất 20%
Trường hợp cá nhân chuyển nhượng chứng khoán không đăng ký nộp
thuế theo biểu thuế toàn phần với thuế suất 20% thì áp dụng thuế suất 0.1% trên giá
chuyển nhượng chứng khoán từng lần.
Thuế TNCN phải nộp = Giá chuyển nhương X Thuế suất 0.1%
18
Thời điểm xác nhận thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán
được xác định như sau:
Đối với việc đánh thuế 5% trên cổ tức đối với nhà đầu tư, khi doanh nghiệp có
lợi nhuận phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, khoản lãi sau khi nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp mới chia cổ tức. Khi nhà đầu tư nhận cổ tức, họ lại phải nộp
thuế thêm một lần nữa. Như vậy, nhà đầu tư chứng khoán bị đánh thuế 2 lần. Hiệp
hội các nhà đầu tư chứng khoán đề xuất, Nhà nước nên loại bỏ sắc thuế này vì nó sẽ
làm giảm giá cổ phiếu. Việc bãi bỏ thuế cổ tức sẽ góp phần ổn định và khuyến
khích đầu tư vốn trực tiếp vào sản xuất kinh doanh và đảm bảo bình đẳng thu nhập
với lãi tiền gửi tiết kiệm tại các ngân hàng, vốn vẫn được miễn thuế.
Một số nhà đầu tư nước ngoài (không thành lập tư cách pháp nhân doanh nghiệp
tại Việt Nam) đã có phản ánh đến Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam
(VAFI) về việc bị đóng thuế với mức cao (25%) đối với chuyển nhượng chứng
khoán tại các công ty cổ phần không đại chúng. VAFI cho rằng, cách phân biệt như
trên là không có cơ sở pháp lý theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng
khoán. Tại điểm 1, điều 6 Luật Chứng khoán đưa ra khái niệm về chứng khoán:
“Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với tài sản và phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới
hình thức: chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử. Bao gồm các loại sau: cổ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn
mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng
khoán. Bên cạnh đó, theo điều 25 Luật Chứng khoán, công ty đại chúng chỉ khác
công ty không đại chúng ở số lượng cổ đông (trên hoặc dưới 100 cổ đông), còn về
bản chất vẫn là công ty cổ phần. Khi nhà đầu tư thực hiện việc chuyển nhượng cổ
phần tức là thực hiện việc chuyển nhượng chứng khoán. Còn về khái niệm “chuyển
nhượng vốn”, theo đúng nghĩa và thực tế hoạt động là việc chuyển nhượng vốn góp
theo hợp đồng hợp tác đầu tư, theo liên doanh… chứ không thể coi như chuyển
nhượng cổ phần. Do đó, không thể áp dụng loại thuế suất 25% cho hoạt động
20
chuyển nhượng chứng khoán đối với nhà đầu tư nước ngoài. Nếu áp dụng 25% thì
rất ít nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư tại Việt Nam bởi hiện nay, nhiều nhà đầu
tư đang thua lỗ nặng. Thời gian tới đây, khi nhiều quỹ đến thời hạn thoái vốn để
dự báo trước về nguồn thu.
• Có tính cưỡng chế cao. Tài sản có thể bị tịch thu và bán để bù đắp cho số tiền nợ
thuế.
• Hỗ trợ tính tự chủ của địa phương. Thuế tài sản nâng cao mức độ hưởng ứng đối
với những ưu tiên của địa phương, và trợ giúp trong công tác dự thảo ngân sách khi
gắn các khoản chi tiêu tăng thêm với chi phí thuế của chúng.
• Thay thế cho thuế thu nhập địa phương. Mối quan hệ gần gũi giữa giá trị tài sản
với mức thu nhập dài hạn của các căn nhà do chủ hộ cư trú [không cho thuê: ND]
cho phép thuế tài sản thay cho thuế địa phương đánh vào thu nhập trung bình trong
nhiều năm.
• Có mối tương quan với lợi ích nhận được. Khi sử dụng thuế tài sản để tài trợ cho
hàng hóa công trên địa bàn thì sắc thuế này phần nào tương ứng với mức độ tiêu
dùng hàng hóa công đó.
• Nhìn chung có tính lũy tiến. Với việc phân bổ sở hữu vốn và đất đai theo nhóm
thu nhập, gánh nặng thuế có tính lũy tiến là chủ yếu, trừ các tác động tiêu thụ đặc
biệt do chênh lệch mức thuế suất giữa các địa phương khác nhau, và các trường hợp
mà người chủ sở hữu vốn không phải là người tiêu dùng dịch vụ chịu thuế.
Nhược điểm
22
• Có nhiều người phải nộp thuế theo luật định. Mặc dù cơ sở thuế rộng sẽ nâng cao
tính công bằng và hiệu quả phân bổ nhưng nó cũng làm tăng tác động chính trị và
sự chống đối của dân chúng khi tăng thuế cho dù rất ít.
• Tính hiển hiện cao. Cơ chế nộp thuế chủ động (thay vì giữ lại giống như thuế thu
nhập trên bảng lương) và tiền nộp thuế lớn (thay vì trả theo các khoản tăng không
đáng kể giống như thuế doanh thu) làm tăng nhận thức và tâm lý thù ghét đối với
gánh nặng thuế tài sản.
• Cơ sở định giá tài sản không khách quan. Các ước tính về giá trị tiền thuê thường
được cho là tuỳ tiện và không đáng tin cậy, và công tác quản lý thuế kém thường
dẫn đến tình trạng bất bình đẳng theo chiều ngang.
• Không có mối quan hệ trực tiếp với khả năng chi trả. Sự không tương ứng giữa
sản trên đất chính là giá trị thị trường không thể được sử dụngkhi đánh thuế: giá thị
trường bao gồm cả giá trị của đất công với giá trị của các tài sản trên đất, không
phải là giá trị của từng loại riêng lẻ. Hệ thống quản lý hành chính, ví dụ như hệ
thống xác định giá trị được sử dụng để tách giá trị đất khỏi giá thị trường thường
mắc nhiều lỗi và tồn tại những mánh khóe. Kết quả là thuế đất thường không đáng
tin cậy và được coi là một cách thức để tăng thu cho ngân sách.
- Ở Cộng hoà Pháp: gồm có Thuế của cải đánh hàng năm trên giá trị tài sản ròng
của cá nhân (gọi là thuế của cải), thuế trước bạ (thuế đăng ký tài sản) đánh một lần
khi chuyển dịch tài sản, các loại thuế tài sản dành riêng cho ngân sách địa phương
như: thuế đất đối với đất xây dựng, thuế đất đối với đất nông nghiệp.
- Ở Nhật Bản: là nước áp dụng khá nhiều loại thuế đánh vào tài sản. Thuế tài sản
được phân chia theo các cấp ngân sách thụ hưởng. Thuế tài sản cấp quốc gia gồm
24
có: thuế thừa kế, thuế quà tặng, thuế giá trị đất, thuế đăng ký tài sản. Thuế tài sản ở
cấp tỉnh gồm có: Thuế thu nhận, mua sắm, tạo dựng bất động sản; thuế mua sắm,
thu nhận ô tô; thuế sử dụng ô tô; thuế đánh vào quyền khai thác mỏ. Thuế tài sản ở
cấp thành phố gồm thuế đánh vào tài sản là nhà, đất, tài sản cố định hữu hình (trừ ô
tô), xe có động cơ nhỏ.
- Ở Inđônêxia: thuế tài sản chủ yếu là thuế nhà, đất. Thuế tài sản đánh vào tất cả đất
đai, nhà cửa (không thu thuế đối với nhà và đất dùng vào mục đích công cộng). Số
thuế thu được từ thuế nhà, đất được phân phối 10% dành cho ngân sách trung ương,
90% cho ngân sách địa phương, trong đó, cấp tỉnh 16,2%, cấp huyện 64,8%, bù đắp
chi phí thu thuế 9%.
- Ở Đài Loan: Thuế tài sản gồm: Thuế thừa kế (đánh vào tài sản thừa kế), thuế quà
tặng, thuế đất (gồm thuế đánh trên trị giá đất, thuế đất nông nghiệp, thuế trị giá đất
tăng thêm), và thuế nhà.
- Ở Thụy Điển: Hiện đang áp dụng ba hình thức thuế tài sản chủ yếu, đó là: thuế tài
sản đánh trên trị giá tài sản ròng của cá nhân; thuế bất động sản thu trên giá trị nhà
và đất; và thuế quà tặng, thừa kế tài sản.
- Ở Cộng hoà liên bang Đức: Thuế tài sản được thu định kỳ hàng năm nhằm phân
các cá nhân, tổ chức được nhà nước cho thuê đất chỉ có quyền sử dụng đất trong
một thời hạn đã quy định, còn quyền sở hữu đất đai vẫn thuộc về nhà nước.
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất: so với các khoản thu khác liên quan đến tài
sản, loại thuế này có số thu phát sinh không thường xuyên, nó phụ thuộc vào hoạt
động sử dụng đất trên thị trường, đây là khoản thu mang tính chất của thuế thu nhập
đánh trên hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất.