nghiên cứu gây trồng một số loài cây bản địa phòng chống sạt lở ven sông rạch ở huyện nhà bè tp.hcm - Pdf 25

1
ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

BÁO CÁO NGHIỆM THU
(Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu) TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU GÂY TRỒNG MỘT SỐ LOÀI CÂY BẢN ĐỊA PHÕNG
CHỐNG SẠT LỞ VEN SÔNG RẠCH Ở HUYỆN NHÀ BỀ - TP HỒ CHÍ MINH
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: ThS. KIỀU TUẤN ĐẠT


1.3 . Tổng quan điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 14
CHƢƠNG 2: MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1. Mục tiêu của đề tài 16
2.2. Nội dung nghiên cứu 16
2.3. Phương pháp nghiên cứu. 17
2.3.1. Cách tiếp cận 17
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu 17
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
3.1. Kết quả điều tra khảo sát 22
3.1.1. Thực trạng phân bố hệ thực vật ven sông rạch ở huyện Nhà Bè 22
3.1.2. Đánh giá loài và đề xuất các loài đưa vào gây trồng 24
3.1.3. Đánh giá các điểm sạt lở và nguyên nhân gây sạt lở 29
3.2. Các giải pháp kỹ thuật xây dựng mô hình và đánh giá các mô hình thí nghiệm 31
3.2.1. Địa điểm xây dựng mô hình thí nghiệm 31
3.2.2. Đặc điểm đất đai, nước và thủy triều của khu vực thí nghiệm 32
3.2.3. Đánh giá về các giải pháp chắn sóng bảo vệ cây mới trồng. 35
3.2.4. Đánh giá về các chỉ tiêu sinh trưởng của mô hình 37
3.3. Đánh giá hiệu quả chống sạt lở và gây bồi của mô hình tại xã Hiệp Phước 45
3.4. Đề xuất hướng dẫn kỹ thuật trồng cây phòng chống sạt lở 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 52 3 TÓM TẮT
Tình trạng sạt lở bờ sông, kênh rạch ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả
nước nói chung, diễn ra ngày càng phổ biến và mức độ ngày càng rất nghiêm trọng ảnh

protection solution is costly but it lacks efficiency and unsustainably. Therefore, if
studying of tree planting solutions are carried out carefully, from selecting species and
site to appropriated-tree-protection solution, theywill be tremendously successfull with
lower investment costs compared to that of construction solutions, creating green
landscape along the rivers, increasing environmental value and sustainability.
Results after 3 years of the study titled "Study of planting some native species to
prevent erosion along rivers in Nha Be district - Ho Chi Minh City" show that: (i) The
flora along the rivers in Nha Be is very diverse and rich. There are 19 species of 18
families, including freshwater flora, brackish water flora and mangrove flora; (ii) soil
type of the study site is brackish wetlands with low salinity, poor nutrition and
ingredients, affected by high flooding tidal, strong currents and wave dynamics. These
factors hasstrongly impacted experimental models; (iii) wave dike doesnot work
efficicently, but the melaleuca-poles-supporting systems play significant role in
protecting new-planted trees; (iv) After 2 years, the experimental models in Hiep Phuoc
commune has tranformed to multi-level forest belt which has great contribution to
sedimentation and limiting soil erosion; (v) the proposed tree models based on the
results are: Calophyllum inophyllum + Amoora cucullata on up-land-embankemnt and
Nypa fruticans + Sonneratia caseolaris+ Cryptocoryne ciliata in under water with a
minimum width of each belt including 4 rows and must have technical solutions for
supporting new-planted trees by melaleuca poles.

Key words: native species, soil erosion, rivers, canals, technical solutions.

5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BM
Bần, Mắm
D

Bảng 08. Các chỉ tiêu sinh trưởng đai trên bờ tại Hiệp Phước 38
Bảng 09. Chỉ tiêu tỷ lệ sống của các loài ở đai dưới nước tại Hiệp Phước 39
Bảng 10. Kết quả theo dõi sinh trưởng của Bần chua tại Hiệp Phước 41
Bảng 11. Tổng hợp chỉ tiêu tỷ lệ sống của các loài tại KP5 – TT Nhà Bè 42
Bảng 12. Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng cuả mô hình tại thị trấn Nhà Bè 44
Bảng 13. Kết quả theo dõi về bồi lắng và sạt lở tại xã Hiệp Phước 45
Bảng 14. Bảng tổng hợp chi phí đầu tư cho 1km trồng cây chống sạt lở 48

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1, 2. Quần xã Dừa nước- Bần chua Quần xã Dừa nước – Ô rô 23
Hình 3, 4. Quần xã Dừa nước- Bần-Mắm Quần xã Dừa nước-Bần-Mái dầm 24
Hình 5, 6. Vị trí chọn xây dựng mô hình tại KP5 – TT Nhà Bè 31
Hình 7, 8. Vị trí chọn xây dựng mô hình tại Ấp 3 – xã Hiệp Phước 31
Hình 9. Vị trí mô hình trồng thí nghiệm bảo vệ bờ kè tại KP5, TT Nhà Bè 32
Hình 10. Vị trí mô hình trồng thí nghiệm chống sạt lở tại Ấp 3, xã Hiệp Phước. 32
Hình 11, 12. Đánh giá sự bền vững của hệ thống đai cản sóng theo thời gian 35
Hình 13, 14. Làm vành đai cản sóng bằng cừ tràm và phên tre 36
Hình 15, 16. Làm giá đỡ cho cây mới trồng bằng cừ tràm 36
Hình 17, 18. Cây trồng đai trên bờ tại xã Hiệp Phước sau 6 và 12 tháng 39
Hình 19, 20. Cây trồng đai trên bờ tại xã Hiệp Phước sau 18 và 24 tháng 39
Hình 21, 22. Cây trồng đai dưới nước tại xã Hiệp Phước sau 12 tháng 42
Hình 23, 24. Cây trồng đai dưới nước tại xã Hiệp Phước sau 24 tháng 42
Hình 25, 26, 27. Cây Bần chua trồng bảo vệ bờ kè ở TT Nhà Bè sau 12 tháng 44

7

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta có hệ thống sông kênh rất lớn bao gồm 2.360 con sông, kênh lớn nhỏ,
với chiều dài tổng số khoảng 198.000 km (Cục đường thủy nội địa Việt Nam, 2012).

Bộ triển khai đề tài “Nghiên cứu gây trồng một số loài cây bản địa phòng chống sạt
lở ven sông rạch ở huyện Nhà Bè - TP. Hồ Chí Minh”. Kết quả mong đợi của đề tài
là, lựa chọn được một số loài cây bản địa với giải pháp kỹ thuật trồng phù hợp sẽ góp
phần hạn chế được tình trạng sạt lở ven sông rạch hiện nay làm cơ sở để nhân rộng gây
trồng ở những nơi khác có điều kiện tương tự.

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những nghiên cứu ngoài nƣớc:
a) Vài nét về môi trƣờng nƣớc lợ, thực vật ngập lợ và vấn đề xói lở sông rạch
- Môi trường nước lợ ven sông rạch
Nƣớc lợ là loại nước có độ mặn cao hơn độ mặn của nước ngọt, nhưng không cao
bằng nước mặn. Nó có thể là kết quả của sự pha trộn giữa nước biển với nước ngọt,
chẳng hạn như tại các khu vực cửa sông hoặc nó có thể xuất hiện trong các tầng ngậm
nước hóa thạch lợ. Một số hoạt động nhất định của con người cũng có thể tạo ra nước
lợ, cụ thể là trong một số dự án kỹ thuật xây dựng dân sự như các dạng đê điều ven biển
hay việc làm ngập lụt các vùng đất lầy lội ven biển để tạo ra các ao hồ nước lợ để nuôi
tôm nước lợ. Nước lợ cũng có thể là chất thải chủ yếu của công nghệ năng lượng
gradient độ mặn. Do nước lợ là không thích hợp với sự phát triển của phần lớn các loài
thực vật trên đất liền, cho nên nếu không có sự quản lý và kiểm soát thích hợp thì nó có
thể gây ra các tổn hại cho môi trường. Khái niệm nước lợ cũng thay đổi tùy theo các
quan điểm nhìn nhận. Về mặt kỹ thuật, người Anh-Mỹ cho rằng nước lợ chứa từ 0,5
hoặc 1 tới 17 hoặc 30gam muối hòa tan trong mỗi lít nước, thông thường được biểu
diễn dưới dạng 0,5/1 tới 17/30 phần nghìn (ppt hay ‰), vì thế nước lợ bao phủ một
khoảng chế độ mặn và nó không thể coi là một điều kiện có thể định nghĩa chính xác.
Một đặc trưng của nhiều bề mặt nước lợ là độ mặn của chúng có thể dao động mạnh
theo thời gian và/hoặc không gian.
Nước lợ có thể coi là hỗn hợp của nước biển và nước ngọt pha trộn với nhau,
thường xuất hiện ở các khu vực cửa sông. Các môi trường sống nước lợ rộng lớn nhất
trên thế giới vì thế chính là các khu vực cửa sông, nơi các con sông tiếp giáp với biển.
Kiểu kế tiếp sinh thái này từ các dạng của hệ sinh thái nước ngọt sang nước mặn là

được vành đai rừng ngập mặn rộng 2,8km nâng diện tích RNM từ 240 ha đến 1.600 ha
sau 50 năm. Với hệ rễ của rừng Bần và Mắm đã góp phần vào hạn chế sạt lở và tăng
lượng bồi lắng phù sa (H.T. Chan, 2003)
Ở Nhật Bản, tại Okinawa đã có một số nghiên cứu về các giải pháp trồng rừng
ngập ngặp trên các đảo bán ngập, trên nền đá san hô, trên mái taluy của bờ kè ven biển,
… Với giải pháp kỹ thuật áp dụng là tạo cây giống rừng ngập mặm trong bầu bằng bê
10

tông có nhiều dạng kích thước khác nhau cho từng dạng lập địa. Giải pháp trồng cây
thành từng cụm từ 4 – 8m
2
và và cây mới trồng được bảo vệ bằng cách tạo vành đai
với vật liệu bằng đá hộc xung quanh có tác dụng cản sóng đã giúp trồng rừng ngập mặn
trên đảo chìm và bờ kè mái taluy khá thành công (Nishimura, 2012)
Do yêu cầu về những biện pháp bảo vệ bờ biển có hiệu quả kinh tế, linh hoạt và
thân thiện với môi trường, một dự án mới do The Reef Ball Mangrove Division tiến
hành tại Cayman Islands đã được phát triển. Ngoài những hệ thống dựa vào vải địa kỹ
thuật, các rạn san hô nhân tạo hoặc các kết cấu ngập nước khác được ứng dụng. “Quả
bóng ngầm san hô” là một giải pháp bảo vệ bờ có tính cách mạng và mới. Chúng là
những kết cấu ngập tạm thời, có tác dụng phân tán năng lượng sóng và cung cấp môi
trường sống cho động vật và thực vật. Trong một số ứng dụng, chúng được dùng để
trồng cây ngập mặn trong những vùng được che chở hoặc ở những khu vực xói lở ít
nghiệm trọng. Việc xây dựng các kết cấu ngập nước bằng quả bóng ngầm san hô rất tốn
thời gian và kinh phí rất cao (Reef ball foundation, 2008)
1.2. Những nghiên cứu trong nƣớc:
a) Về môi trƣờng nƣớc lợ
Theo Bách khoa Toàn thư Việt Nam, coi nước lợ là nước có độ mặn từ 1 – 10
0
/
00

Các loại đất này chỉ thích hợp với một số loài cây sinh sống và phát triển như Dừa
nước, Quao nước, Chà là, Xăng máu, Gáo, Dái ngựa nước, Mù u, Gừa, Tràm, Trâm,
Trứng cá, Lộc vừng, Bình bát, …
b) Nghiên cứu về thực vật ngập lợ
- Về thành phần
Viện Điều tra Quy hoạch rừng Nam Bộ năm 2005 đã điều tra, nghiên cứu ở vùng U
Minh Thượng, Kiên Giang cho thấy các loài thực vật thân gỗ sinh sống trong môi
trường nước lợ gồm các loài như: Mốp (Alstonia spathulata), Bùi (Ilec cymosa), Trâm
(Syzygium cumini), Trâm sắn (Syzygium polyanthum), Dầu ba lá (Euodia lepta), Tràm
(Melaleuca cajuputi), Bí bái (Acronichya pedunculata) và Côm (Eulaeocarpus
hygrophylus), trong đó chủ yếu là cây tràm mọc thành quần thụ với diện tích lớn.
Theo Phan Nguyên Hồng (1993), Đỗ Đình Sâm & ctv (2005) một số loài cây gia
nhập tập đoàn cây ngập mặn, cũng có thể sinh sống trong vùng nước ngọt và nước lợ
như bình Bát (Annona glabra), Trâm bầu (Combretum quadrangulare), Mù u
(Calophyllum inophylum), Lộc vừng (Baringtonia acutangula), Gõ biển (Instsia
bijuga), Tra nhớt (Hibiscus tiliaceus), Tra biển (Thespesi populnea),…
Ngoài ra, một số loài cây rừng ngập mặn cũng có thể mọc ở vùng nước lợ như: Mắm
đen (Avicennia officinalis), Vẹt đen (Bruguiera sexangula), Dà vôi (Ceriops tagal), Cóc
đỏ (Lumnitzera littorea), Bần chua (Sonneratia caseolaris), Xu ổi (Xylocarpus
granatum),… thường gặp ở những nơi có độ mặn thấp.
12

Hệ sinh thái thực vật vùng nứớc lợ ở Đồng Tháp Mười bao gồm các loài Cỏ năng
(Eleocharis dulcis), Cỏ mồm (Isechaemum aristatum), Cỏ bàng (Leppironia
articulata), Sậy (Pharagmites kahka) và Đế (Scccharum spontacum). Trong khi đó thực
vật thân gỗ chỉ có một loại cây đó là Tràm (M.cajuputi). Ở vùng tứ giác Long Xuyên có
các loài thực vật như Tràm, Sậy phát triển mạnh; trong khi vùng ven biển có các loài
cây chịu ngập lợ phát triển như Chà là, Dừa nước, Cỏ nước mặn,… (Lê Huy Bá, 2003)
- Chọn, nhân giống và gây trồng
Trong số những loài cây ngập lợ, cây tràm đã được nghiên cứu khá kỹ về kỹ thuật

Dự án Woldbank về Bảo vệ và phát triển những vùng đất ngập nước ven biển
phiá Nam Việt Nam (2000 – 2005) đã có một số mô hình trồng rừng ngập mặn vùng sạt
lở khá thành công ở tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng
Dự án GIZ về bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển tỉnh Kiên Giang đã
khá thành công với mô hình dài khoảng 3km về tạo hàng rào giữ bùn (lắng đọng phù
sa) bằng cừ tràm để nâng cao khảo năng tái sinh rừng và mô hình tạo đai để chuyển
hướng dòng chảy giảm thiểu tình trạng sạt lở bờ biển. Bên cạnh đó, dự án GIZ ở Sóc
Trăng cũng khá thành công về giải pháp trồng rừng ngập mặn vùng xói lở với tạo đai
chắn để chuyển hướng dòng chảy và tạo lắng đọng phù sa để trồng rừng.
Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng ngập mặn trên các điều kiện
lập địa khó khăn góp phần chắn sóng vùng ven biển các tỉnh miền Bắc, Việt Nam” thực
hiện từ năm 2006 đến 2010 của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã có các mô
hình trồng rừng ngập mặn trên dạng lập địa khó khăn khá thành công ở Hải Phòng,
Thái Bình, Nam Định (Đoàn Đình Tam, 2010).
Từ năm 2009 – 2013, Hoàng Văn Thơi và các ctv của Phân viện Khoa học Lâm
nghiệp Nam Bộ đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu trồng rừng thử nghiệm một số loài
cây RNM trên nền san hô ngập nước ven biển miền Trung làm cơ sở áp dụng cho các
quấn đảo phía Nam”. Mục tiêu của đề tài nhằm tìm ra các giải pháp kỹ thuật trồng rừng
trên nền lập địa khó khăn tại các đảo ven bờ để đáp ứng với biến đổi khí hậu và an ninh
quốc phòng. Sau hơn 3 năm thực hiện đề tài đã có mô hình có triển vọng tốt ở Côn Đảo.
Đề tài “Nghiên cứu chọn loài cây và kỹ thuật trồng rừng chống xói lở ở ven
sông và kênh rạch vùng nước lợ” do trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với Viện
Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ từ 2009 đến nay. Sau 3 năm thực hiện đề tài đã xây
dựng được mô hình trồng cây chống sạt lở ven sông rạch khá thành công tại Trà Vinh
với 2 loài Bần chua và Dừa nước.
Nhận xét chung: Các nghiên cứu đề cập ở trên mới chỉ đi sâu vào đánh giá sự đa
dạng về thành phần loài ở vùng ngập lợ và đã có một số tác giả đi sâu vào xây dựng
hướng dẫn kỹ thuật tạo giống một số loài cây rừng ngập mặn.
14


Phía Bắc giáp quận 7. Phía Nam giáp huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Phía Đông
giáp sông Nhà Bè – Soài Rạp, ngăn cách với huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai;
sông Soài Rạp, ngăn cách với huyện Cần Giờ. Phía Tây giáp huyện Bình Chánh.
Địa hình
Huyện Nhà Bè địa hình thấp trũng, độ cao địa hình từ 0 – 1,3 m, hướng dốc địa
hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam và từ sông vào nội đồng.
Điều kiện khí hậu
Khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng do gần biển (50
km) nên khí hậu thành phố mang tính chất hải dương, điều hoà hơn các tỉnh lân cận, có
2 mùa rõ rệt: Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4
năm sau.
15

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là: 27
0
C, số giờ nắng trung bình từ 6 - 8
giờ/ngày nên nhận được một nhiệt năng cao trung bình 3685 calo/cm
2
ngày đủ cho
cây trồng phát triển quanh năm.
- Độ ẩm trung bình hàng năm là 79,5%.
- Lượng mưa: trung bình hàng năm là 2.100 mm, nhưng phân bố không, hơn 90%
lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa, cao nhất tháng 6,9 (khoảng 320 mm),
thấp nhất tháng 2 (45 mm). Số ngày mưa trung bình trong năm là 159 ngày.
- Chế độ gió: Thành Phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi 2 hướng gió: gió mùa Tây
- Tây Nam (thổi trong mùa mưa (tháng 6 - 10), sức gió trung bình 3,6 m/s.
và Đông - Đông Bắc (thổi trong các tháng 11 - 02, sức gió trung bình 2,4 m/s.
Ngoài ra có gió Tín Phong Nam - Đông Nam thổi từ tháng 3 - 5, sức gió 2,4 m/s.
Thành Phố Hồ Chí Minh thuộc vùng ít bị ảnh hưởng của gió bão, nhưng năm 1997
cơn bão số 5 phá huỷ nhẹ một phần huyện Cần Giờ.

khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.

CHƢƠNG 2: MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu của đề tài
- Chọn được từ 3 - 4 loài cây bản địa để gây trồng đáp ứng mục tiêu phòng, chống sạt
lở ven sông rạch.
- Đề xuất được kỹ thuật gây trồng phù hợp đảm bảo yêu cầu phòng hộ chống sạt lở,
ven sông rạch tại huyện Nhà Bè - TP. Hồ Chí Minh
2.2. Nội dung nghiên cứu
Điều tra đánh giá loài và chọn lập địa gây trồng.
- Điều tra khảo sát dọc theo một số tuyến sông rạch chính trên địa bàn huyện Nhà
Bè để xác định sự phân bố và thành phần loài thực vật ven sông rạch làm cơ sở
đánh giá về mức độ phù hợp để chọn ra được một số loài có khả năng đáp ứng
được yêu cầu phòng hộ đưa vào nghiên cứu gây trồng.
- Điều tra khảo sát 17 điểm có nguy cơ sạt lở và đang sạt lở trên địa bàn huyện
Nhà Bè để chọn địa điểm gây trồng cho phù hợp.
Đánh giá về điều kiện lập địa và thể nền trên những điểm dự kiến gây trồng
- Điều tra đất và phân tích tính chất cơ lý hóa của đất trước khi bố trí thí nghiệm.
- Điều tra phân tích tính chất của nước, độ ngập triều và tần xuất ngập làm cơ sở
lựa chọn loài và tiêu chuẩn cây giống.
Thí nghiệm một số giải pháp kỹ thuật gây trồng.
- Thí nghiệm về loài cây trồng:
17

+ Trồng tại điểm đang có nguy cơ sạt lở cao với 8 loài cây trồng gồm 4 loài ở đai
trên bờ là Tràm ta (Melaleuca cajuputi); Dái ngựa nước (Amoora cucullata Roxb);
Mù u (Calophyllum inophyllum) và Gáo trắng (Neolamarckia cadamba Roxb.) và 4
loài ở đai dưới nước là Bần chua (Sonneratia caseolaris); Mắm trắng (Avicennia
alba Blume); Mái Dầm (Cryptocoryne ciliata Wydl) và Dừa nước (Nypa fruitcans),
+ Thí nghiệm trồng cây bảo vệ công trình bờ kè và tạo cảnh quan xanh ven sông

bàn huyện trong những năm qua.
+ Kế thừa các tài liệu và các nghiên cứu có liên quan.
Điều tra đánh giá loài và chọn lập địa để gây trồng thí nghiệm
- Phương pháp điều tra đánh giá:
+ Điều tra dọc theo 5 tuyến sông, rạch lớn trên địa bàn huyện Nhà Bè để đánh giá về hệ
thực vật ven sông rạch. Độ rộng của tuyến 10m (tính từ mép kênh vào phía bờ), trên
tuyến tiến hành lập các ô điển hình diện tích 100m
2
(10m x 10m) để điều tra đánh giá
đa dạng loài theo tuần xuất xuất hiện.
Dựa trên sự phân bố, đặc điểm sinh thái loài và khả năng thích nghi của chúng
để lựa chọn loài đưa vào nghiên cứu gây trồng. Các loài được chọn đáp ứng được các
tiêu chí phòng hộ như : Là cây bản địa sinh trưởng nhanh; hệ rễ phát triển mạnh có khả
năng giữ đất tốt; ít bị nghiêng ngả đổ gãy khi gặp gió bão; cây có khả năng chịu ngập,
phù hợp với môi trường nước lợ, có trái và dễ tạo giống.
+ Khảo sát 17 điểm có nguy cơ sạt lở trên địa bàn 5 xã/thị trấn thuộc huyện Nhà Bè
nhằm xác định mức độ sạt lở, xác định các nguyên nhân sạt lở để chọn đối tượng triển
khai trồng thí nghiệm cho phù hợp.
+ Ngoài các phương pháp điều tra thực địa đề tài sẽ sử dụng phương pháp chuyên gia
để phỏng vấn, kiểm chứng các thông tin làm cơ sở lựa chọn loài và địa điểm gây trồng.
Điều tra lấy mẫu đất và nƣớc
- Thu thập mẫu đất:
+ Mẫu đất được lấy ở 2 điểm bố trí thí nghiệm và mỗi điểm lấy ở 3 vị trí khác nhau ở 2
tầng từ 0 – 20cm và từ 20 – 50cm.
+ Các chỉ tiêu đánh giá gồm: Kết cấu đất, thành phần cơ, lý hóa của đất để xác định loài
cây đưa vào trồng thí nghiệm cho phù hợp.
+ Các chỉ tiêu phân tích gồm 9 chỉ tiêu chủ yếu là: Thành phần cơ giới, pH, N, P, K,
Mùn, Ca, Mg, độ mặn đất
- Phương pháp phân tích:
Những mẫu có cùng tầng đất tại 3 vị trí được trộn đều với nhau và được phơi khô

Mật độ trồng Bần và Mắm là 1m x 1m. Mái dầm trồng với khoảng cách 50 x 50cm
Giải pháp chắn sóng cơ học để bảo vệ cây mới trồng, sử dụng cừ tràm và phên tre làm
đai cản sóng trên toàn tuyến cách vị trí trồng cây 1m. Tạo giá đỡ cây trồng dùng cọc cừ
tràm dài 3 m cắm sâu xuống 1,5m và để chừa lại 1,5m để cột cây mới trồng để tăng khả
năng chống chịu với sóng, gió và triều cường.
20

Bố trí thí nghiệm tại Ấp 3, xã Hiệp Phước:
- Đai trên bờ:
Loài cây: Tràm ta + Dái ngựa nước + Mù u + Gáo trắng
Đai trên bờ rộng 4m, trồng 4 hàng cây trên chiều dài 180m với tổng số 6 ô thí nghiệm,
chiều dài mỗi ô 30m gồm 2 công thức thí nghiệm với 3 lần lặp lại. Nghiệm thức đối
chứng chừa lại 30m không trồng, chi tiết thí nghiệm như sau:
Ho: Không trồng
H1: Trồng theo hàng thứ tự là Mù U + Dái ngựa nước + Gáo trắng + Tràm ta
H2: Trồng xen cây trên cùng hàng gồm Tràm + Dái ngựa nước + Mù u + Gáo trắng
- Đai dưới nước:
Loài cây: Dừa nước, Bần chua, Mắm trắng và Mái dầm
Tổng số ô thí nghiệm 12 ô, chiều dài 15m/ô gồm 4 công thức thí nghiệm với 3 lần lặp
lại và 1 công thức đối chứng không trồng dài 30m, chi tiết thí nghiệm như sau:
Fo: Không trồng
F1: Dừa nước + 2 hàng Mắm + 2 hàng Bần – Không trồng mái dầm
F2: Dừa nước + 2 hàng Mắm + 2 hàng Bần + Mái dầm trồng dưới tán
F3: Dừa nước + Bần, Mắm trồng xen cây trên 4 hàng – Không trồng mái dầm
F4: Dừa nước + Bần, Mắm trồng xen cây trên 4 hàng + Mái dầm trồng dưới tán
Bố trí trồng 4 hàng cây với khoảng cách 1m x 1m. Riêng Mái dầm trồng ở tầng dưới có
khoảng cách 50 x 50cm.
Giải pháp chắn sóng cơ học để bảo vệ cây mới trồng, sử dụng cừ tràm và phên tre làm
đai cản sóng trên toàn tuyến cách vị trí trồng cây 1m. Tạo giá đỡ cây trồng dùng cọc cừ
tràm dài 3 m cắm sâu xuống 1,5m và để chừa lại 1,5m để cột cây mới trồng để tăng khả

Cây từ hạt
2
Dái ngựa nước
0,7
0,8
10 x 20
6
Cây từ hạt
3
Gáo trắng
0,5
0,6
10 x 20
6
Cây từ hạt
4
Tràm ta
0,7
0,8
8 x 15
6
Cây từ hạt
5
Bần chua
1,2
1,0
20 x 25
9
Cây từ hạt
6

22

CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả điều tra khảo sát
3.1.1. Thực trạng phân bố hệ thực vật ven sông rạch ở huyện Nhà Bè
Để có cơ sở cho việc lựa chọn loài cây trồng và kỹ thuật gây trồng rừng ven sông
rạch đề tài đã thực hiện điều tra, khảo sát về thành phần loài thực vật phân bố ven sông,
kênh rạch để biết được các mối liên hệ giữa sự phân bố thực vật với điều kiện đất đai,
chế độ ngập triều, các đặc trưng về sinh lý, sinh thái, vật hậu, cấu trúc của các quần xã
thực vật. Kết quả bước đầu đề tài đã xác định về sự xuất hiện của các loài thông qua tần
xuất xuất hiện của các loài và ghi nhận các quần xã tiêu biểu dọc theo 5 tuyến kênh với
độ rộng 10m tính từ mép nước trở vào và điều tra các ô điển hình trên tuyến. Thành
phần thực vật ven sông rạch được tổng hợp qua bảng dưới đây:
Bảng 02. Thành phần loài thực vật khu vực khảo sát
TT
Địa điểm /Loài
cây
Tên Khoa học
Họ
Rạch
Mương
chuối
Rạch
Đình
Rạch
Tôm
Sông
Rạch
Giồng

4
Phi lao
Casuarina equisetifolia
Họ Phi lao
0
-
0
-
+
5
Mù u
Calophyllum inophyllum
Họ Cồng
0
0
0
0
-
6
Săng máu
Horsfieldia amygdalina
Họ Máu chó
0
-
0
0
-
7
Mướp xác
Cerbera manghas L

+++
+++
+++
11
Dứa dại
Pandanus tectorius
Họ Dứa dại
+
+
++
+
++
12
Lộc vừng
Barringtonia asiatica (L)
Họ Lộc vừng
+
+
-
+
+
13
Quao nước
Dolichandrone spathacea
Họ Đinh
0
0
-
0
-

Họ Ô rô
+++
+++
++
++
+++
18
Mái dầm
Cryptocoryne ciliata
Wydler
Họ Ráy
+++
+++
+++
+++
+++
19
Trang
Kandel candel
Họ Đước
0
0
-
0
-
Ghi chú: (+++) Rất nhiều (++) Phổ biến (+) Ít (-) Hiếm gặp 0: Không có
23

Căn cứ đánh giá thông qua tần xuất, xuất hiện của loài trên các ô điều tra điển hình
+ Mức độ rất nhiều: Tần xuất, xuất hiện từ 75 - 100% trong tổng số ô điều tra

Kết quả khảo sát cho thấy số lượng cây gỗ ít, cây bụi tái sinh không nhiều và mọc thành
từng cụm rải rác. Thảm thực vật có cấu trúc khá đơn giản bao gồm các tầng cây gỗ phía
trên, tiếp đến tầng cây gỗ nhỏ, cây dừa nước và tầng cây bụi thảm tươi chủ yếu là Ô rô,
Mái dầm và Cóc kèn. Thành phần dừa nước chiếm ưu thế và có độ che phủ cao từ 25 –
90%, do vậy nó góp phần hạn chế sạt lở ven sông rạch. Chính từ kết quả khào sát này
cũng là cơ sở quan trọng để lựa chọn và bố trí các loài cây thích hợp cho việc trồng đai
xanh phòng hộ ven sông rạch chống xói lở.
3.1.2. Đánh giá loài và đề xuất các loài đƣa vào gây trồng
a) Các tiêu chí lựa chọn loài
Từ kết quả điều tra hệ thực vật ven sông rạch tại huyện Nhà Bè, chúng tôi đã quyết
định lựa chọn một số loài cây bản địa có triển vọng để đưa vào gây trồng dựa trên các
tiêu chí sau:
 Là cây bản địa sinh trưởng nhanh và có phân bố ở trong khu vực nghiên cứu hoặc
đã được nghiên cứu trước đây.
 Loài cây có hệ rễ phát triển mạnh có khả năng giữ đất tốt và ít bị nghiêng ngả khi
gặp gió bão.
 Loài cây có khả năng chịu ngập và chịu phèn mặn được trong điểu kiện nhất định.
 Là cây thường xanh, tán lá rộng và có khả năng tái sinh chồi mạnh.
25

 Loài cây có trái và dễ tạo giống
Trong phạm vi của đề tài này đã sử dụng kết quả điều tra và kế thừa một số kết quả
nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã lựa chọn 8 loài có triển vọng để nghiên cứu gây
trồng phòng chống sạt lở ven sông rạch gồm: Bần chua, Mắm trắng, Mái dầm, Dừa
nước, Tràm ta, Dái ngựa nước, Gáo trắng và Mù u. Trong 8 loài được chọn các loài
trồng ở đai trên bờ có phân bố ở khu vực rất ít nhưng là những loài có triển vọng đã
được khẳng định từ những nghiên cứu trước đây nên đề tài cũng đưa vào thử nghiệm lại
như Dái ngựa nước, Gáo trắng và Mù u.
b) Một số đặc điểm hình thái, sinh thái và công dụng của các loài đã đƣợc chọn
Bần chua


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status