phân tích nguyên nhân và giải pháp chống lạm phát từ nay đến cuối năm 2011 ở việt nam - Pdf 25

Lời mở đầu
Lạm phát là một trong những yếu tố quan trọng nhất đánh giá sức khỏe nền
kinh tế của mọi quốc gia (tỉ lệ tăng trưởng GDP, tỉ lệ lạm phát , tỉ lệ thất nghiệp,
cán cân thanh toán). Hiện nay, ở Việt Nam chỉ số lạm phát đã leo vọt lên tới mức
báo động là 2 con số, vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép tối đa là 9% của mỗi
quốc gia và dự báo của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước. Diễn biến phức
tạp của lạm phát đang tác động đến đời sống thường ngày của người dân, đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cũng như gây khó khăn đối với
kinh tế vĩ mô. Đây cũng là một vấn đề trọng tâm mà Chính phủ đang tập trung theo
dõi, nghiên cứu để tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành. Vậy nguyên nhân của
tình trạng lạm phát này bắt nguồn từ đâu và liệu chúng ta phải làm gì để có thể làm
dịu bớt tình hình lạm phát hiện nay? Đó là một câu hỏi lớn mà tất cả các chuyên gia
kinh tế đều đang vào cuộc tìm câu trả lời. Với tầm quan trọng của vấn đề đó, chúng
tôi đưa ra bài tiểu luận với đề tài: “Phân tích nguyên nhân và giải pháp chống lạm
phát từ nay đến cuối năm 2011 ở Việt Nam”. Để làm rõ đề tài trên, chúng tôi chủ
yếu dựa trên những lí thuyết và những số liệu thực tế, để từ đó tổng hợp, phân tích,
đánh giá, so sánh, đưa ra những luận điểm chính xác nhất và những dự báo có cơ sở
cho tình hình lạm phát hiện nay ở Việt Nam. Bài tiểu luận sẽ được chia thành 3
chương: Chương 1: Khái quát chung về lạm phát
Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân của lạm phát
Chương 3: Giải pháp chống lạm phát
Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện bài tiểu luận trong phạm vi và khả năng cho
phép nhưng do hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm nên chắc chắn bài viết
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong có được sự đóng góp ý
kiến của Quý thầy cô cũng như những người quan tâm. Xin chân thành cảm ơn!
1
Chương I: Khái quát chung về lạm phát
1. Khái niệm của lạm phát.
a) Quan niệm sai lầm: Lạm phát là sự tăng lên của giá cả tại một thời
điểm nhất định, hay cứ có tăng lên của giá cả tức là xảy ra tình trạng lạm
phát.

quyền theo công thức Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ sở.
Để làm được điều đó phải tiến hành như sau:
1. Cố định giỏ hàng hóa: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định
lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua.
2. Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng
hoá tại mỗi thời điểm.
3. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số
lượng nhân với giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại.
4. Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu
dùng bằng công thức sau:
CPI
t
= 100 x
Chi phí để mua giỏ hàng hoá thời
kỳ t
Chi phí để mua giỏ hàng hoá kỳ cơ sở
Thời kỳ gốc sẽ được thay đổi trong vòng 5 đến 7 năm tùy ở từng nước.
Trên thực tế người ta có thể xác định quyền số trong tính toán chỉ số giá tiêu
dùng bằng cách điều tra để tính toán tỷ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hoá, dịch
vụ so với tổng giá trị chi tiêu. Sau đó quyền số này được dùng để tính chỉ số giá
tiêu dùng cho các thời kỳ sau. CPI thường được tính hàng tháng và hàng năm. CPI
còn được tính toán cho từng nhóm hàng hóa hoặc một số nhóm hàng hóa tùy theo
mục đích sử dụng.
3
Chương II: Thực trạng và nguyên nhân của lạm phát
1. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
a) Diễn biến lạm phát ở Vịêt Nam từ năm 2004- 2010
Tốc độ tăng GDP và CPI được thể hiện qua biểu đồ trên. Qua đó ta thấy được
Việt Nam đã kiểm soát được lạm phát trong giai đoạn 2004-2007 và 2009-2010 với
chỉ số lạm phát chỉ dừng lại ở 1 con số. Tuy nhiên năm 2008 chỉ số lạm phát đã

tăng 1,55%), tuy cao hơn mức tăng chung nhưng đã giảm nhiều so với mức
2,12% của tháng trước (Thực phẩm tăng 3,20%). Nhóm giáo dục tăng 1,13%, cao
hơn mức 0,26% của tháng Bảy, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng lên khi năm
học mới bắt đầu. Các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác có mức tăng thấp hơn mức
tăng chung hoặc giảm gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,89%; may mặc,
mũ nón, giày dép tăng 0,79%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,55%; thiết bị và đồ
dùng gia đình tăng 0,51%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,34%; thuốc và dịch
vụ y tế tăng 0,25%; giao thông tăng 0,21%; bưu chính viễn thông giảm 0,06%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2011 tăng 15,68% so với tháng 12/2010; tăng
23,02% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tám tháng năm
nay tăng 17,64% so với bình quân cùng kỳ năm 2010.
Chỉ số giá vàng tháng 8/2011 tăng 8,7% so với tháng trước; tăng 15,33% so
với tháng 12/2011và tăng 47,63% so với cùng kỳ năm 2010. Chỉ số giá đô la Mỹ
tháng 8/2011 tăng 0,26% so với tháng trước; tăng 0,32% so với tháng 12/2011 và
tăng 8,64% so với cùng kỳ năm 2010.
Điều này có được là do rất nhiều nguyên nhân. Sau đây là một số nguyên
nhân tiêu biểu.
2. Nguyên nhân của lạm phát
a) Nguyên nhân khách quan
Tình hình kinh tế thế giới có tác động sâu sắc đến tình hình lạm phát nước ta.
Những tháng đầu năm 2011 có những diễn biến hết sức phức tạp và chịu tác động
sâu sắc của các biến động chính trị ở Bắc Phi, Trung Ðông, thảm họa động đất,
sóng thần ở Nhật Bản và khủng hoảng nợ công ở châu Âu.
Những biến động tiêu cực của kinh tế thế giới này những tháng đầu năm đã tác
động trực tiếp đến kinh tế nước ta. Việt Nam là một nước nhập siêu, sản xuất trong
nước chưa đủ cho đầu tư và tiêu dùng cuối cùng. Đầu tư và tiêu dùng vượt qua sản
xuất lên đến trên dưới 10% hàng năm nên nước ta phải nhập siêu, vay nợ và dựa
6
vào những khoản viện trợ từ nước ngoài để bù đắp. Khi tổng cầu vượt quá tổng
cung thì Việt Nam không chỉ ở vị thế nhập siêu, mà còn rất dễ rơi vào lạm phát cao.

không đủ để phục vụ nhu cầu trong nước nên phải nhập khẩu chúng. Với cách thức
này, thì ta đã “nhập khẩu lạm phát” của thế giới và đồng thời chịu lạm phát do chi
phí đẩy tạo ra khi chịu cú sốc giá làm giá của các yếu tố đầu vào liên tục tăng, từ đó
làm lạm phát nước ta liên tục tăng.
Với những tác động của thế giới thì lạm phát tăng như một điều tất yếu nhưng
nó không phải là nguyên nhân chủ yếu vì như ta có thể thấy trong thời gian qua thì
chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam luôn cao hơn bất thường so với các nước
trong khu vực hay các đối thủ cạnh tranh cũng như các nước có điều kiện tương tự.
Năm 2010, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 6,78%; CPI tăng tới 11,75%.
Trong khi đó, những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng tương đương Việt Nam như
Indonesia (tăng 6%), Malaysia (tăng 6,8%), Thái Lan (tăng 7,6%) và Hàn Quốc
(ăng 6%)… thì tốc độ tăng CPI của họ chỉ tương ứng 6,3%; 2%; 2,8% và 3,3%.
Còn Trung Quốc, GDP tăng 10,1% nhưng CPI chỉ tăng 5,1%. Chỉ số này của
Singapore tương ứng 14% và 3,5%; Đài Loan là 9,8% và 1,5%… Vậy nên nguyên
nhân sâu xa là do nội tại xuất phát từ các chính sách điều hành quản lý của nhà
nước chứ không phải hoàn toàn do yếu tố bên ngoài tác động.
b) Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân trước hết đó là do nhà nước chủ trương phát triển kinh tế ở mức
độ cao bằng mọi giá hơn là việc chú trọng lạm phát, đặc biệt bắt đầu từ nhiệm kỳ 5
năm vừa qua của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chính phủ đặt ra những chỉ tiêu
phát triển không thực tế: 7%-7,5% mỗi năm trong 5 năm tới và 7%-8% trong 10
năm tới. Trong khi đó, kinh tế Việt Nam trải qua nạn lạm phát 9,19% vào năm
8
2010 cao hơn tất cả những nước láng giềng tức là mục tiêu cấp bách là phải kiềm
chế lạm phát thì nhà nước lại đề ra chính sách theo đuổi tăng trưởng bằng mọi cách.
Ta thấy để có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì phải đánh đổi bằng
lạm phát cao vậy nên nhà nước không thể nhắm vào mức phát triển kinh tế cao
trong khi cần phải kiềm chế lạm phát.
Lạm phát có nguyên nhân từ những yếu tố tiền tệ đó là về mặt tỷ giá, tín dụng.
Về mặt tỷ giá, theo một nghiên cứu về lạm phát trong tình trạng đô la hóa ở Việt

tốc độ gia tăng tín dụng trước năm 2011 có ảnh hưởng tới lạm phát năm 2011.
Trong 10 năm qua, tốc độ gia tăng tín dụng quá cao, trên 20% đôi khi lên đến
50.2% vào 2007 và 45.6% vào năm 2009. Theo Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN),
mức tín dụng tăng 27% trong năm 2010, vượt quá mục tiêu 25%. Mức tín dụng chỉ
tiêu cho năm 2011 là 23%. Nay mới hạ xuống dưới 20%. Do đó, mặc dù tốc độ
tăng tín dụng giảm thì quy mô tăng tín dụng rất lớn- đây là nguyên nhân trực tiếp
dẫn đến lạm phát Việt Nam.
Mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng quá cao nhưng chất lượng còn thấp, phần
lớn những tín dụng này lại được ưu tiên dành cho những doanh nghiệp nhà nước,
thường hoạt động kém hiệu quả, với những điều kiện thuận lợi. Đây cũng là một
trong những chính sách tài khoá không phù hợp đã góp phần làm cho lạm phát tăng
lên. Đó là tình trạng đầu tư công dàn trải và thiếu hiệu quả. Theo thống kê mỗi năm
Việt Nam đầu tư công khoảng 17-20% GDP, trong khi các nước trong khu vực chỉ
dưới 5% như Trung Quốc 3,5%, Indonesia 1,6%; nghiên cứu mới đây nhất của ông
Vũ Anh Tuấn - Viện Kinh tế Việt Nam cho thấy quy mô vốn đầu tư công trong 10
năm qua đã tăng tới 3,2 lần, trung bình mỗi năm tăng 13,9 % . Tuy nhiên hiệu quả
đầu tư công của Việt Nam hiện còn rất kém. Hệ số ICOR (đo lường số đơn vị đầu
tư tính theo % GDP để tạo ra một đơn vị tăng trưởng GDP) tại khu vực nhà nước là
10
7,8 – cao hơn mức trung bình chung của nền kinh tế là 5,2 và ICOR của Việt Nam
cao hơn gấp rưỡi thậm chí gấp đôi so với khu vực. Như một hệ quả tất yếu của một
nền kinh tế xây dựng trên một khu vực nhà nước lớn với các doanh nghiệp nhà
nước làm ăn thường là thua lỗ, hàng loạt các công ý nhà nước liên tục báo lỗ điển
hình như vụ việc của công ty quốc doanh xây cất tầu thủy Vinashin rơi vào tình
trạng phá sản với khoản nợ khổng lồ hàng trăm nghìn tỉ đồng, hay Công Ty Cho
Thuê Tài Chánh ALC II-công ty trực thuộc Ngân hàng ALC II đã thua lỗ hơn 3.000
tỉ đồng.
Thêm vào đó, tình trạng thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại diễn ra
trong thời gian dài. Trong hai năm 2009 và 2010 bội chi ngân sách tương đương
với 8.9% và 5.9% của tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product – GDP) lần

khoảng 15% vào cuối năm, khi chính sách thắt chặt phát huy đầy đủ tác dụng.
Chính phủ Việt Nam đã có động thái tích cực nhằm phát huy tiềm năng nền kinh tế
trong dài hạn, đặc biệt là những nỗ lực và động thái để giúp duy trì mức ổn định
nhất định của nợ công cũng như tài khóa tốt hơn. Ngoài ra, chính phủ Việt Nam
trong thời gian gần đây cũng đã tập trung nhiều vào chính sách tiền tệ ví dụ như
bình ổn tỷ giá hối đoái và các biện pháp khác thực hiện để giảm phát. Điều này sẽ
giúp cho tình trạng lạm phát những tháng cuối năm có những chuyển biến tích cực.
Hiện tại tăng trưởng kinh tế thế giới đang có dấu hiệu chững lại. Trong các
dự báo mới đây, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đều hạ
triển vọng tăng trưởng của hầu hết các nền kinh tế chủ chốt trên thế giới. Vì vậy,
sức ép về nhu cầu hàng hóa cũng sẽ không lớn trong những tháng tới.
Giá dầu thô hiện đang có dấu hiệu giảm dần, điều nay làm cho xăng dầu
(một trong những mặt hàng thiết yếu và là nguyên liệu cơ bản đầu vào của hầu hết
các ngành sản xuất) giảm giá theo. Sự sụt giảm này sẽ góp phần kiềm chế chỉ số giá
tiêu dùng những tháng cuối năm. Một sự sụt giảm của giá dầu hay thậm chí chỉ cần
ổn định, thì các chính sách đối phó với lạm phát của Việt Nam cũng sẽ trở nên “dễ
thở” hơn.
Tác động của cung tiền đối với lạm phát thường có độ trễ từ 4-6 tháng. Với
việc tăng trưởng cung tiền đã chậm lại, chúng ta có thể kỳ vọng lạm phát trong
những tháng sắp tới tiếp tục có chuyển biến tích cực.
13
Quan ngại lớn nhất hiện nay có lẽ nằm ở giá cả hàng hóa, vì giá lương thực
thế giới vẫn có thể tăng cao do hiện tượng mất mùa đang khá trầm trọng. Trong
nước, giá lương thực cũng gia tăng do bị khan hiếm mất mùa; và đặc biệt, hiện nay
các loại nông, thủy sản của Việt Nam bị thương lái Trung Quốc gom hàng và đẩy
giá lên rất cao.
Theo ước tính, CPI những tháng cuối năm sẽ tăng trong khoảng 0.4-0.7% mỗi
tháng. Với những con số này thì lạm phát cả năm 2011 sẽ dao động quanh mức từ
16-18%.
2. Giải pháp kiềm chế lạm phát trong thời gian tới:

để tiến tới cân bằng ngân sách, vì đây cũng là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan
trọng. Thắt chặt chi tiêu của chính phủ; kiểm soát chặt chẽ đầu tư công và đầu tư
của các doanh nghiệp nhà nước; giảm mạnh chi phí hành chính trong các cơ quan
nhà nước nhằm giảm bớt sức ép về cầu nhất là các loại cầu không tạo ra hiệu quả.
Với các dự án, cần loại bỏ những dự án đầu tư kém hiệu quả, thắt chặt những khoản
chi chưa thực sự cần thiết nhưng tạo mọi điều kiện cho đầu tư tư nhân và đầu tư
nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng.
Tiếp tục thực hiện tiết kiệm chi và cắt giảm đầu tư công, trong đó ưu tiên
nguồn vốn cho những công trình cấp bách thiết yếu về an sinh xã hội, phòng chống
thiên tai, an ninh quốc phòng, đảm bảo vốn cho sản xuất nông nghiệp và các công
trình điện.
15
Các bộ, cơ quan, địa phương chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết
kiệm thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011, cắt
giảm các khoản chi chưa thật cần thiết, ra soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém
hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước.
Không ứng trước vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2012
cho các dự án, trừ các dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách.
Không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước, trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2011, thu hồi về ngân sách Trung ương
các khoản này để bổ sung vốn cho các công trình, dự án hoàn thành trong năm
2011.
Mặc dù chính sách cắt giảm chi tiêu công là hoàn toàn đúng đắn, song hiệu
lực của những biện pháp cụ thể đến đâu thì còn chưa chắc chắn. Mặc dù, năm 2008,
Chính phủ kiên quyết cắt giảm, giãn hoãn dự án chậm tiến độ, thiếu hiệu quả, dừng
dự án khởi công mới. Kết quả là năm 2008 là năm chi ngân sách nhà nước vượt dự
toán 13,5% (tương đương 54.000 tỉ đồng), chi đầu tư phát triển vượt dự toán 20%
(gần 120.000 tỉ đồng). Điều đó chứng tỏ giữa đề xuất, kiến nghị cắt giảm đến khi
thực hiện chưa tốt, chưa hiệu quả. Vì vậy, để tránh lặp lại như 2008, cần phải có
những hành động cụ thể và quyết liệt hơn. Không thể chỉ trông chờ vào đề xuất từ

trợ để sản xuất các loại máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu để hạn chế nhập khẩu.
Xem xét, miễn, giảm thuế, gia hạn thời gian nộp thuế nguyên liệu đầu vào
nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu đối với những ngành hàng trong nước còn
thiếu nguyên liệu như dệt may, da giầy, thuỷ sản, hạt điều, gỗ, dược phẩm…; tiếp
tục thực hiện tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất
khẩu trong năm 2011.
17
d) Cân đối cung cầu trong nền kinh tế
Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, bảo
đảm cân đối cung cầu về hàng hóa, trước hết là các mặt hàng thiết yếu phục vụ
sản xuất và đời sống, không để xảy ra thiếu hàng sốt giá. Sắp xếp lại mạng lưới
lưu thông hợp lí, tránh chi phí lưu thông tăng cao.
Rà soát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và có giải pháp hỗ trợ phù
hợp về tiếp cận vốn, lãi suất, thuế cho sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy
sản xuất phát triển để tăng cung cho thị trường, giảm chi phí tạo ra cơ hội giảm
sức đẩy giá tăng.
e) Quản lí chặt chẽ hoạt động chi tiêu thu đổi ngoại tệ trên thị trường
Sử dụng công cụ tỉ giá: Nên điều chỉnh tăng nhẹ VND so với USD. Điều này cũng
phù hợp với việc đồng đô la Mỹ liên tục bị giảm giá so với các đồng tiền khác.
Tăng nhẹ giá trị VND tuy có ảnh hưởng đến xuất khẩu nhưng không quá lớn. Tăng
giá VND sẽ làm giá hàng nhập khẩu giảm, tăng nguồn cung, có tác dụng giảm mức
tăng giá trên thị trường nội địa, nhất là trong điều kiện nhập khẩu hiện chiếm tỉ lệ
cao trong GDP của nước ta. Tăng giá VND cũng góp phần kìm giữ giá luơng thực
hiện đang tăng tăng cao và có khả năng còn tiếp tục tăng trước nhu cầu của thị
trường thế giới.
Tích cực thu hút ngoại tệ trong dân bằng cách khuyến khích gửi tiết kiệm
ngoại tệ với lãi suất hấp dẫn, thực hiện tỷ giá hối đoái linh hoạt giữa tiền Việt với
một số ngoại tệ mạnh chi phối hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam như: USD,
EURO, Yên, Nhân dân tệ,…
f) Thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát thị trường, ngăn chặn các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status