LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường,
doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước một thách thức lớn đó là làm thế
nào để tồn tại, đứng vững và đạt được mục tiêu đề ra. Do vậy các doanh
nghiệp phải chú trọng quan tâm đến vốn để tạo lập và sử dụng đồng vốn
của mình sao cho có hiệu quả nhất. Để làm được điều đó vấn đề bức thiết
đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay là thừa vốn hay thiếu vốn, hiệu quả
sử dụng đồng vốn ra sao và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
trong sản xuất. Đây là vấn đề nóng bỏng mang tính thời sự không những
được các nhà quản lý tài chính quan tâm mà còn thu hút được sự chú ý của
các nhà khoa học trong lĩnh vực tài chính.
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của hiệu quả sử dụng vốn cố
định đến với các doanh nghiệp, qua thời gian thực tập tìm hiểu tình hình
thực tế tại Công ty cổ phần LILAMA 10, em chọn đề tài: '' Vốn cố định và
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công
ty cổ phần LILAMA 10 ''
Ngoài lời mở đầu và kết luận nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về vốn cố định và hiệu quả sử
dụng vốn cố định trong doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng vốn cố định
tại Công ty cổ phần LILAMA 10.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn cố định ở Công ty cổ phần LILAMA 10.
1
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN CỐ ĐỊNH VÀ HIỆU
QUẢ
SỬ DỤNG VỐN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP
I. TỔNG QUAN VỀ VỐN CỐ ĐỊNH
1. Khái niệm
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ, hay vốn cố định là toàn bộ
cố định trong sản xuất kinh doanh như sau:
Một là: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, điều
này do đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất
quyết định.
Hai là: Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu
kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định
được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi
phí khấu hao) tương ứng vào phần giá trị hao mòn của TSCĐ.
Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng
luân chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất vốn được luân chuyển vào giá trị sản
phẩm dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại dần giảm
xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển
dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì vốn cố định mới hoàn thành một
vòng chu chuyển.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, giá trị sử dụng của tài sản cố định
giảm dần, theo đó vốn cố định cũng được tách thành 2 phần: Một phần sẽ gia
nhập vào chi phí sản xuất sản phẩm tương ứng với sự giảm dần giá trị sử dụng
của tài sản cố định. Phần còn lại là vốn cố định được "cố định" trong nó.
Trong các chu kỳ sản xuất kế tiếp, nếu phần vốn luân chuyển được tăng lên
thì phần vốn "cố định" lại giảm đi tương ứng với mức suy giảm dần vào giá
trị sử dụng của tài sản cố định. Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó cũng là
3
lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định cũng hoàn thành được
một vòng luân chuyển.
3.Tiêu chuẩn và nhận biết TSCĐ
Theo quyết định 206/2003QĐ-BTC ban hành ngày 12/12/2003 của Bộ
Trưởng Bộ Tài chính có hiệu lực từ ngày 01/01/2004.
a. Tài sản cố định hữu hình:
Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài
sản có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng
Đầu tư vào TSCĐ là một sự bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung
những tài sản cố định cần thiết để thực hiện mục tiêu kinh doanh lâu dài của
doanh nghiệp. Do đó, việc xác định nguồn tài trợ cho những khoản đầu tư như
vậy là rất quan trọng bởi nó có yếu tố quyết định cho việc quản lý và sử dụng
vốn cố định sau này. Xét một cách tổng thể, có thể chia làm 2 loại:
* Nguồn tài trợ bên trong: là những nguồn xuất phát từ bản thân doanh
nghiệp như vốn ban đầu, lợi nhuận sau thuế được để lại... hay nói cách khác
đi là những nguồn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
* Nguồn tài trợ bên ngoài: Là những nguồn mà doanh nghiệp huy động
từ bên ngoài như vốn vay, phát hành trái phiếu, cổ phiếu.
5. Phân loại TSCĐ của doanh nghiệp.
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định của doanh
nghiệp theo những chiêu thức nhất định nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của
doanh nghiệp. Thông thường có những cách phân loại chủ yếu sau:
5.1. Phân loại theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế:
Theo phân loại này TSCĐ bao gồm:
a. TSCĐ hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện
bằng các hình thái vật chất cụ thể bao gồm:
• Nhà cửa, vật kiến trúc.
• Máy móc, thiết bị.
• Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn.
5
• Thiết bị, dụng cụ quản lý.
• Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm.
• Các loại TSCĐ khác.
b.TSCĐ vô hình:
• Quyền sử dụng đất.
• Quyền phát hành
• Bản quyền bằng sáng chế.
• Nhãn hiệu hàng hoá.
tài sản và có biện pháp điều chỉnh để nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.
5.3. Phân loại theo quyền sở hữu.
a. TSCĐ tự có ( nguồn hình thành) : Là những TSCĐ được xây dựng,
mua sắm, hình thành từ nguồn vốn Ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, bằng
nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các
TSCĐ được quyên tặng, viện trợ không hoàn lại.
b. TSCĐ thuê ngoài: là những TSCĐ của doanh nghiệp hình thành do
việc doanh nghiệp đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp
đồng thuê TSCĐ.
a. TSCĐ thuê tài chính: là những TSCĐ doanh nghiệp thuê sử dụng
trong thời gian dài có quyền kiểm soát, sử dụng chúng theo các điều khoản
của hợp đồng thuê TSCĐ dài hạn.
b. TSCĐ cho thuê hoạt động: là những TSCĐ thuê mà không thoả mãn
bất cứ điều khoản nào của hợp đồng thuê tài chính.
Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu có tác dụng trong việc quản lý và tổ
chức kế toán phù hợp với từng loại TSCĐ theo nguồn hình thành để có giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh
không chỉ với những TSCĐ đi thuê mà cả những TSCĐ tự có của doanh
nghiệp.
6. Khấu hao Tài sản cố định.
7
6.1. Hao mòn và khấu hao TSCĐ.
Trong quá trình sử dụng, do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác
nhau TSCĐ của doanh nghiệp bị hao mòn dưới hai hình thức: Hao mòn hữu
hình và hao mòn vô hình.
a. Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn về vật chất, về giá trị sử dụng và giá
trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng. Sự hao mòn của TSCĐ tỷ lệ thuận với
thời gian sử dụng và cường độ sử dụng chúng, sự hao mòn còn do tác động
của các yếu tố tự nhiên như độ ẩm, nắng, mưa..........
b. Hao mòn vô hình: Là sự hao mòn thuần tuý về mặt giá trị của TSCĐ,
=
T
kh
= x 100% hay T
kh
= x 100%
Trong đó:
M
kh
: Mức khấu hao cơ bản bình quân hàng năm của TSCĐ.
NG: Nguyên giá của TSCĐ.
T: Thời gian sử dụng của TSCĐ.
T
kh:
Tỷ lệ khấu hao của TSCĐ.
Mức khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm
chia cho 12 tháng.
- Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của TSCĐ thay đổi,
doanh nghiệp phải xác định lại mức khấu hao trung bình của tài sản cố định
bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia (:) cho thời gian sử dụng xác
định hoặc thời gian sử dụng còn lại ( được xác định là chênh lệch giữa thời
gian sử dụng đã đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của tài sản cố định.
- Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng tài sản cố
định được xác định là hiệu số giữa nguyên giá tài sản cố định và số khấu hao
luỹ kế đã thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của tài sản cố định đó.
Nếu doanh nghiệp trích khấu hao hàng tháng thì lấy mức khấu hao hàng
năm chia cho 12 tháng.
Ưu điểm của phương pháp này là việc tính toán đơn giản, tổng khấu hao
của TSCĐ được phân bổ vào giá thành một cách đều đặn làm cho giá thành
ổn định.
b. Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh:
Mức khấu hao tài sản cố định theo phương pháp số dư giảm dần có điều
chỉnh được xác định như sau:
- Xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định:
Doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của TSCĐ theo quy định tại
chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành kèm theo Quyết
định số 206/2003/QĐ-BTC của Bộ Tài chính.
10
- Xác định mức khấu hao năm của TSCĐ trong các năm đầu theo công
thức dưới đây ( còn gọi là phương pháp số dư giảm dần):
x
Trong đó:
* Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức sau:
= x
* Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng xác định
như sau:
= z100
* Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của tài sản cố định
quy định tại bảng dưới đây:
Thời gian sử dụng của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh (lần)
Đến 4 năm (t ≤ 4 năm) 1,5
Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t ≤ 6 năm) 2,0
Trên 6 năm (t>6 năm) 2,5
Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số
dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa
giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định, thì kể từ năm đó
mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định chia số năm sử
dụng còn lại của tài sản cố định (gọi là phương pháp kết hợp phương pháp số
dư giảm dần và phương pháp bình quân).
- Mức khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho
7.1. Lập kế hoạch khấu hao TSCĐ theo phương pháp gián tiếp.
Số tiền khấu hao TSCĐ dự kiến trong chu kỳ được tính theo công thức:
M
kh
=
NGkh
x
Tk
Trong đó: M
kh
: Số tiền khấu hao TSCĐ dự kiến trong kỳ
12
NGkh
: Nguyên giá bình quân TSCĐ phải tính khấu hao
trong kỳ.
Tk
: Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân TSCĐ
Xác định nguyên giá bình quân TSCĐ phải tính khấu hao trong kỳ xác
định như sau:
NGkh
= NG
d
+
NGt
-
NGg
Trong đó: NG
7.2. Lập kế hoạc khấu hao TSCĐ theo phương pháp trực tiếp
- Số khấu hao trong kỳ kế hoạch được xác định như sau:
=
- Số tiền khấu hao của từng tháng có thể xác định được theo công thức:
KH
t
=
∑
=
n
t 1
( NG
Di
x t
ki
)
Trong đó:
KH
t
: Số tiền khấu hao TSCĐ trong tháng.
NG
Di
: Nguyên giá cần trích khấu hao ở đầu tháng từng loại TSCĐ
t
ki
: Tỷ lệ khấu hao theo tháng của từng loại TSCĐ
t : loại tài sản cố định.
13
Để đơn giản việc tính toán, số tiền khấu hao trong tháng được xác định
theo công thức sau:
đánh giá phân tích.
3. Hàm lượng vốn cố định:
Chỉ tiêu này phản ánh số vốn cố định cần thiết để tạo ra một đồng doanh
thu.
=
Nếu chi phí vốn cố định cho một đồng doanh thu thuần lớn chứng tỏ
hiệu quả sử dụng vốn cố định thấp và ngược lại.
4. Hệ số hao mòn tài sản cố định:
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong doanh nghiệp,
nếu số này cao chứng tỏ TSCĐ đã hao mòn nhiều, TSCĐ trở nên cũ kỹ, lạc
hậu và ngược lại.
=
5. Hệ số trang bị kỹ thuật cho công nhân trực tiếp sản xuất:
Dùng để đánh giá trang bị kỹ thuật cho người lao động cao hay thấp, chỉ
tiêu này càng lớn thì càng góm phần giải phóng lao động cho con người.
=
6. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Để đánh giá được đúng mức kết quả quản lý của từng thời kỳ, chỉ tiêu
hiệu suất sử dụng vốn cố định phải xem xét trong các mối quan hệ với chỉ tiêu
hiệu suất sử dụng tài sản cố định.
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
7. Sức sinh lợi của VCĐ:
Sức sinh lợi của VCĐ =
15
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng giá trị nguyên giá bình quân TSCĐ
mang lại mấy đồng lợi nhuận thuần.
Ngoài ra còn sử dụng công thức: