Các vấn đề về Ngân sách Nhà nước - Pdf 25

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
mục lục
Trang
Đặt vấn đề
Nội dung chuyên đề
Phần thứ nhất
một số vấn đề lý luận chung về ngân sách Nhà nớc
I. Khái niệm về NSNN và chính sách tài khoá.
II. Bản chất, chức năng và vai trò của NSNN nói chung, của Hà
Giang nói riêng trong sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội .
III. Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về chính sách động
viên tài chính nói chung và thuế nói riêng cho ngân sách
Nhà nớc.
Phần thứ hai
tình hình về tự nhiên- kinh tế-xã hội và thc trạng công
tác quản lý sử dụng NSNN tỉnh hà giang
I. Điệu kiện tự nhiên- kinh tế-xã hội của tỉnh Hà Giang.
II. Thực trạng công tác quản lý và sử dụng NSNN tỉnh Hà Giang
1997- 1999.
III. Đánh giá tình hình công tác quản lý thu thuế trong mấy
năm qua.
Phần thứ ba
phơng hớng và những giải pháp chủ yếu để nâng cao
công tác quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh hà giang
I. Phơng hớng, mục tiêu chung.
II. Những giải pháp chung chủ yếu để nâng cao công tác quản
lý và sử dụng NSNN của tỉnh Hà Giang
Kiến nghị và kết luận.
I. Kiến nghị
II. Kết luận.
Danh mục tài liệu tham khảo

Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ quốc, có nhiều
tiềm năng thế mạnh. Tuy nhiên cho đến nay vẫn là một tỉnh nghèo nhất
của nớc ta. Điều đó đợc thể hiện rõ nhất trên các mặt kinh tế, xã hội, về
các cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là kết cấu hạ tầng, về lực lợng sản
xuất và NSLĐ... đang yếu kém và lạc hậu. Với tình trạng đó thì cha thể
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH nền kinh tế của tỉnhvà đồng thời cũng gặp
khó khăn trong việc cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc
trong tỉnh. Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó là Hà
Giang còn quá thiếu nguồn vốn vật chất. Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn
trên đây cần phải tiến hành đồng bộ nhiều vấn đề. Một trong những vấn đề
có tầm quan trọng đặc biệt là giải quyết tốt vấn đề ngân sách.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài "Một số vấn đề về nâng cao công tác
quản lý và sử dụng NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Giang" để viết luận
văn tốt nghiệp cử nhân chính trị.
2. Mục đích, nhiệm vụ, phơng pháp và phạm vi của đề tài.
- Mục đích của đề tài: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề về lý luận,
quan điểm của Đảng, thực tiễn của địa phơng để trình bày bản luận văn
tốt nghiệp cử nhân chính trị của mình; đồng thời thông qua sự nghiên cứu
này có thể có đóng góp nhỏ về suy nghĩ của bản thân tôi trong lĩnh vực
quản lý NSNN ở tỉnh Hà Giang.
- Nhiệm vụ của đề tài: Từ mục đích nói trên, đề tài luận văn có các
nhiệm vụ sau:
+ Khái quát một vài nét chung nhất về lý luận của NSNN và vai trò
của NSNN trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của n-
ớc ta trong TKQĐ lên CNXH.
+ Phân tích, đánh giá những nét lớn về thực trạng kinh tế - xã hội
cũng nh thực trạng quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh Hà Giang hiện nay.
+ Từ hai nhiệm vụ trên, đề tài có nhiệm vụ phải nêu lên đợc phơng

Phần thứ hai: Tình hình cơ bản về tự nhiên - kinh tế - xã hội và
thực trạng công tác quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh Hà Giang.
Phần thứ ba: Phơng hớng và những giải pháp chủ yếu để nâng cao
công tác quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh Hà Giang.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nội Dung Luận Văn
Phần t hứ nh ất
Một số vấn đề lý luận chung về ngân
sách Nhà nớc (NSNN )
I. Khái niệm về NSNN và chính sách tài khoá.
1. Ngân sách Nhà nớc .
a. Khái niệm NSNN:
Thuật ngữ "NSNN " có từ lâu và ngày nay đợc dùng phổ biến trong
đời sống kinh tế - xã hội và đợc diễn đạt dới nhiều góc độ khác nhau.
Song quan niệm NSNN đợc bao quát nhất cả về lý luận và thực tiễn của
nớc ta hiện nay là:
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nớc trong dự toán đã
đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợc thực hiện trong
một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng của Nhà nớc.
Trong thực tế nhìn bề ngoài, hoạt động NSNN là hoạt động thu chi
tài chính của Nhà nớc. Hoạt động đó đa dạng, phong phú, đợc tiến hành
hầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội. Tuy
đa dạng, phong phú nh vậy, nhng chúng có những đặc điểm chung:
Các hoạt động thu chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lực
kinh tế - chính trị của Nhà nớc, đợc Nhà nớc tiến hành trên cơ sở những
luật lệ nhất định. Đằng sau những hoạt động thu chi tài chính đó chứa
đựng nội dung kinh tế - xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh
tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc
gia, lợi ích chung bao giờ cũng đợc đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt

và phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nớc có thể sử dụng các công
cụ sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các
nguồn lực tài chính cần thiết. Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chính
xuất phát từ sản xuất, mà chủ thể của sản xuất chính là các thành viên
trong xã hội. Mọi thành viên đều có lợi ích kinh tế và đấu tranh bảo vệ
lợi ích kinh tế đó, nghĩa là thông qua quyền lực của mình, Nhà nớc sử
dụng các công cụ, chính sách giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nớc và
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
lợi ích của các thành viên trong xã hội. Do vậy muốn có NSNN đúng
đắn, lành mạnh thì phải tôn trọng và vận dụng các quy luật kinh tế một
cách khách quan, phải dựa trên cơ sở đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà n-
ớc và lợi ích cho các thành viên trong xã hội. Một NSNN lớn mạnh phải
đảm bảo sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh
doanh, bao quát hết toàn bộ các nguồn thu, nuôi dỡng nguồn thu để đáp
ứng nhu cầu chi ngày càng tăng.
Nh vậy bản chất của NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa
Nhà nớc và các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nớc
huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện các
chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế, xã hội của Nhà nớc.
Chức năng đầu tiên của NSNN là chức năng phân phối. Bất kỳ một
Nhà nớc nào, muốn tồn tại và duy trì đợc các chức năng của mình, trớc
hết phải có nguồn lực tài chính. Đó là các khoản chi cho bộ máy quản lý
Nhà nớc, cho lực lợng quân đội, cảnh sát, cho nhu cầu văn hoá, giáo dục,
y tế, phúc lợi xã hội, chi cho đầu t phát triển v.v... Nhng muốn tạo lập đ-
ợc NSNN, trớc hết phải tập hợp các khoản thu theo luật định, cân đối chi
tiêu theo tiêu chuẩn định mức đúng với chính sách hiện hành. Đó chính
là sự huy động các nguồn lực tài chính và đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo
kế hoạch của Nhà nớc, thực hiện việc cân đối thu chi bằng tiền của Nhà

buộc, nhng dựa trên các yếu tố kinh tế là đảm bảo cho chủ sở hữu thực
hiện đợc lợi ích kinh tế, quyền sở hữu các loại tài sản đa vào quá trình sản
xuất xã hội. Những ai sử dụng nhiều tài sản của Nhà nớc vào mục đích kinh
doanh trên các địa bàn và những ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao thì phải
đóng góp nhiều vào NSNN.
Trình độ xã hội hóa càng cao, quy mô sở hữu càng lớn thì nguồn
thu tập trung vào NSNN và những nguồn lực tài chính cũng càng nhiều.
Thực hiện thu đúng, thu đủ từ các hình thức này không chỉ đảm
bảo nguồn lực tài chính cho Nhà nớc, mà còn là hình thức cụ thể thực
hiện quản lý chặt các tài sản thuộc sở hữu Nhà nớc để bảo tồn và phát
triển chế độ sở hữu toàn dân.
- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân thuộc đối tợng
phải đóng góp theo luật định.
- Các khoản viện trợ: Hình thức chủ yếu là viện trợ không hoàn lại,
của các tổ chức, các tổ chức phi chính phủ của các nớc và quốc tế.
Nguồn thu này chủ yếu phụ thuộc vào đờng lối đối ngoại của Đảng và
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nhà nớc. Đây là nguồn thu nhất thời, không ổn định, không tính toán tr-
ớc một cách chính xác.
- Các khoản do Nhà nớc vay để bù đắp bội chi đợc đa vào cân đối
NSNN.
Khoản thu này đợc thực hiện thông qua quan hệ tín dụng Nhà nớc
trong nớc và quốc tế để sử dụng vào mục đích đầu t phát triển kinh tế.
Đây là nguồn thu không thuộc quyền sở hữu Nhà nớc, đến kỳ hạn Nhà n-
ớc phải thanh toán. Vì vậy, việc sử dụng hình thức này đòi hỏi các tổ chức
Nhà nớc phải tính toán nhu cầu đầu t, hiệu quả kinh tế - xã hội của công
trình và khả năng thu hồi vốn để trả nợ.
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
* Các khoản chi lấy từ NSNN.

- Các khoản chi dự trữ Nhà nớc (từ 3 - 5% tổng số d). Đây là khoản
dự phòng cho những nhu cầu đột xuất bất trắc có thể xảy ra trong khi
thực hiện nhiệm vụ của Nhà nớc.
- Các khoản chi viện chợ và các khoản chi khác theo quy định của
pháp luật.
NSNN bao gồm hai cấp: Trung ơng và địa phơng. Quan hệ giữa hai
cấp này đợc thực hiện theo nguyên tắc chủ yếu là phân định nguồn thu và
nhiệm vụ chi cụ thể; thực hiện bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân
sách cấp dới để bảo đảm sự cân bằng, phát triển cân đối và thực hiện đợc
nhiệm vụ của các vùng, các địa phơng.
NSNN đợc cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí
phải lớn hơn tổng số chi thờng xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao
vào đầu t phát triển. Nếu có bội chi thì số bội chi đó phải nhỏ hơn chi
đầu t phát triển, tiến tới cân bằng thu - chi ngân sách. Nếu có vay để bù
đắp bội chi NSNN thì phải trên nguyên tắc tiền vay đợc không sử dụng
cho tiêu dùng mà chỉ sử dụng vào mục đích phát triển và có kế hoạch
thu hồi vốn vay để đảm bảo cân đối ngân sách, chủ động trả nợ đến hạn.
Ngân sách địa phơng đợc cân đối theo quy tắc: tổng số chi không đợc vợt
quá tổng số thu...
2. Chính sách tài khoá.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chính sách tài khoá là chính sách của Nhà nớc trong việc huy
động các nguồn thu vào NSNN và sử dụng nó trong hạn nhất định (thờng
là 1 năm).
Chính sách tài khoá có tác động đến sản lợng thực tế, đến kiềm
chế lạm phát và tình trạng thất nghiệp; có tác động đến điều chỉnh nền
kinh tế, cơ cấu kinh tế. Mục tiêu của chính sách tài khoá là bảo đảm các
nguồn lực tài chính, tạo môi trờng và điều kiện cho phát triển kinh tế - xã
hội. Để đạt đợc mục tiêu đó, chính sách tài khoá cần xử lý nhiều mối

không tránh khỏi. Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn trên, chính sách tài
khoá phải thể hiện nội dung điều tiết thu nhập sao cho hợp lý.
II. Bản chất, chức năng và vai trò của NSNN nói chung, của
Hà Giang nói riêng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
1. Bản chất và chức năng của NSNN nói chung.
Nh trên đã trình bày, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của
Nhà nớc, là công cụ vật chất quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế -
xã hội. Cho nên có thể nói chức năng và nhiệm vụ cơ bản của NSNN là
động viên hợp lý các nguồn thu (đặc biệt là thuế, phí, lệ phí). Đồng thời
tổ chức và quản lý chi tiêu NSNN, thực cân đối thu - chi. Tóm lại, NSNN
có các chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Một là, chức năng phân phối NSNN.
Bộ máy Nhà nớc muốn thực hiện đợc sự hoạt động của mình một
cách bình thờng và ổn định để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ là
quản lý mọi mặt của đời sống xã hội của một quốc gia thì nhất thiết phải
có nguồn NSNN đảm bảo.
Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nớc sử dụng các công cụ, các
biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các
nguồn lực tài chính cần thiết. Nhng cơ sở để hình thành nguồn lực tài
chính đó là từ sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh. Vì
vậy, muốn động viên đợc nguồn thu NSNN ngày càng tăng và có hiệu
quả thì nền kinh tế nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng phải đợc
phát triển với tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao. Vì vậy, Nhà n-
ớc trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội phải nắm đợc quy luật kinh tế
và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan. Đồng thời phải bảo đảm
hài hoà các quan hệ lợi ích của các chủ thể của nền kinh tế.
Một NSNN vững mạnh là một ngân sách mà cơ chế phân phối của
nó đảm bảo đợc sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

năng đó của NSNN.
2. Quan điểm cơ bản về quản lý và sử dụng NSNN.
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Để thực hiện tốt công tác quản lý và sử dụng NSNN, tuỳ theo chức
năng, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, cần phải quán triệt các quan
điểm sau đây:
+ Trong chính sách tạo vốn của NSNN phải quán triệt t tởng không
tận thu để bao chi, mà phải động viên nguồn thu ngân sách một cách hợp
lý để đáp ứng nhu cầu chi trên cơ sở vừa bồi dỡng và phát triển nguồn
thu, vừa kiểm soát và tập trung khai thác một cách hợp lý và có hiệu quả
các nguồn thu.
+ Thực hiện tốt công tác phân phối và sử dụng vốn NSNN theo
nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, chấm dứt tình trạng các khoản chi bao
cấp tràn lan của cơ chế cũ trớc đây. Thực hiện phơng châm "Nhà nớc và
nhân dân cùng làm".
+ Thực hiện phơng pháp cân đối ngân sách một cách khoa học để
vừa phát huy tốt các nguồn lực bên trong và tranh thủ cao độ, có hiệu quả
nguồn lực tài chính bên ngoài; vừa phù hợp với pháp luật của Nhà nớc ta,
vừa phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo đảm sự chủ động của NSNN.
+ Đổi mới chế độ phân cấp quản lý NSNN theo hớng giảm bớt
chức năng quản lý kinh tế của chính quyền địa phơng, tránh để tình trạng
phân tán và sử dụng kém hiệu quả nguồn vốn ngân sách.
+ Ban hành đồng bộ hoá và tiếp tục hoàn thiện luật NSNN. Đồng thời
giáo dục, nâng cao trình độ cho toàn dân, cho các chủ thể của nền kinh tế
cũng nh trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chức năng trực tiếp làm
công tác quản lý NSNN. Nghiêm chỉnh chấp hành luật NSNN.
3. Vai trò của NSNN trong các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội.
Chúng ta biết rằng, trong cơ chế thị trờng, mọi hoạt động kinh tế,
sản xuất kinh doanh chủ yếu của các thành phần kinh tế, các ngành kinh

đợc sản xuất và đầu t.
Trong bất kỳ tình huống nào, sức ép chi luôn luôn là gánh nặng
cho NSNN. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi mà nền kinh tế cha kịp
phát triển, trong khi đó phải nhanh chóng giải quyết nhiều vấn đề bức
xúc của xã hội. Bên cạnh đó chi NSNN còn bị sức ép của tình trạng có
lạm phát cao xẩy ra. Khi có lạm phát cao thì khối lợng ngân sách tăng
chậm hơn nhu cầu chi, vì vậy nếu xử lý không tốt sẽ dẫn đến rối loạn,
gây thiệt hại về nhiều mặt cho nền kinh tế.
Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng. Bởi lẽ NSNN có
chức năng huy động nguồn lực tài chính để hình thành các quỹ tiền tệ tập
trung, đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nớc. Đồng thời NSNN còn
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thực hiện cân đối bằng tiền giữa các khoản thu và các khoản chi tiêu của
Nhà nớc. Đây là vai trò cơ bản của NSNN mà bất kỳ một quốc gia nào
cũng phải thực hiện.
NSNN là một công cụ quản lý quan trọng trong điều chỉnh nền
kinh tế vĩ mô của đất nớc, đặc biệt thể hiện rất rõ trong nền kinh tế thị tr-
ờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Vai trò đó đã đợc thể hiện cụ thể ở các
lĩnh vực sau:
- Về kinh tế: Nhà nớc tạo các môi trờng và điều kiện để xây dựng
cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống
độc quyền. NSNN đảm bảo cung cấp kinh phí đầu t xây dựng và nâng
cấp cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp Nhà nớc thuộc
các ngành kinh tế, các lĩnh vực kinh tế then chốt. Trên cơ sở đó từng bớc
làm cho kinh tế Nhà nớc đảm đơng đợc vai trò chủ đạo nền kinh tế nhiều
thành phần.
Mặt khác, trong những điều kiện cho phép thì nguồn kinh phí từ
NSNN cũng có thể đợc sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh
nghiệp thuộc các TPKT khác để các doanh nghiệp đó có cơ sở về tài

bào các dân tộc hết sức khó khăn. Tháng 10/1991 khi tách tỉnh, kết cấu hạ
tầng hầu nh không có gì. Trong những năm qua đợc sự quan tâm giúp đỡ
của Trung ơng, nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang đã khắc phục khó
khăn, từng bớc ổn định đời sống, phát triển sản xuất. Đạt đợc những thành
tích đó, ngoài sự lãnh chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nớc từ Trung ớng
đến cơ sở, còn có các nhân tố khác, trong đó có vai trò của NSNN. Nhờ có
nguồn thu NSNN mới đảm bảo chi thờng xuyên cho sự hoạt động của các
cơ quan Đảng, Nhà nớc, các đoàn thể và các cơ quan hành chính sự
nghiệp, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Nhờ có NSNN mà
phần nào đã đáp ứng đợc nhu cầu các khoản chi cấp bách, đặc biệt là chi
cho đầu t phát triển chiếm tỷ lệ khá cao trong chi ngân sách. Nhờ đó mà
hiện nay ở Hà Giang nhiều cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá xã hội đã và
đang đợc xây dựng, tu bổ, nâng cấp và đa vào sử dụng.
Trong nông nghiệp, chi NSNN tập trung cho việc ứng dụng khoa
học- kỹ thuật vào sản xuất, đầu t để tạo điều kiện thực hiện chuyển dịch
cơ cấu cây trồng vật nuôi và cơ cấu mùa vụ v.v... Chẳng hạn đầu t cho
việc lai tạo giống cây con cho năng suất cao. Tuy lâm nghiệp đã chú ý
đầu t để đẩy mạnh trồng mới rừng, bảo vệ và tái sinh rừng, phát triển mô
hình rừng trang trại, vờn rừng, theo phơng thức lâm-nông kết hợp.
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong lĩnh vực văn hoá- xã hội: NSNN đã dành một tỷ lệ thích
đáng cho đầu t xây dựng và phát triển các cơ sở vật chất- kỹ thuật cho
lĩnh vực giáo dục đào tạo, hệ thống trờng chuyên, lớp chọn, trờng dân tộc
nội trú, trờng cao đẳng s phạm. Mặc dù nguồn thu ngân sách còn hạn
chế, nhng tỉnh cũng rất quan tâm đầu t cho lĩnh vực y tế và dân số kế
hoạch hoá gia đình. Cụ thể là đầu t nâng cấp cải tạo các cơ sở khám chữa
bệnh, tạo điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đợc tốt hơn.
Ngoài ra NSNN còn thực hiện một loạt các chơng trình khác nh:
củng cố mở rộng nâng cấp các đờng giao thông liên huyện, liên xã, đầu

* Vị trí địa lý: Hà Giang là tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam,
nằm ở vị trí từ 21
0
23' đến 22
0
10' vĩ bắc và 104
0
25' đến 105
0
34' kinh đông,
cách thủ đô Hà Nội trên 320 km.
Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, có đờng biên giáp
Trung Quốc dài trên 270 km.
Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Lào Cai và Yên
Bái, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang.
Hà Giang có 10 huyện, thị: Bắc Giang, Vị Xuyên, Bắc Mê, Hoàng
Su Phì, Xí Mần, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc và thị xã Hà Giang.
* Địa hình:
- Hà Giang có địa hình núi cao chia cắt phức tạp, độ dốc lớn, nhiều
dãy núi đá có độ cao trên 2000m, tạo nên nhiều tiểu vùng với các điều
kiện về địa hình, khí hậu, đất đai, nguồn nớc và dân c khác biệt, độc đáo,
có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đa dạng theo cơ cấu nông -
lâm - công nghiệp với nhiều sản phẩm phong phú, có nhiều cảnh quan
thiên nhiên đẹp để phát triển du lịch, dã ngoại...
- Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên còn không ít khó khăn
do địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, nhiều dãy núi đá nên không ít khó
khăn trong phát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt ở các huyện vùng cao.
* Đất đai:
Tổng diện tích tự nhiên là: 788.437 ha (7884,37 km
2

Đất cha sử dụng khác : 627,9 ha
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Qua số liệu trên thấy đợc đất đai tự nhiên của Hà Giang rất rộng,
tuy nhiên việc khai thác và sử dụng vào mục đích sản xuất nông, lâm
nghiệp cha đợc nhiều, hiện tại vẫn còn trên 314.828 ha đất bằng và đồi
núi cha sử dụng, đó là nguồn tài nguyên lớn cần phải tập trung đầu t các
nguồn lực nhằm khai thác phục vu chơng trình phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh.
* Về đặc điểm khí hậu thuỷ văn:
Do địa bàn rộng, khí hậu thuỷ văn các vùng phân bố không đồng đều:
ở các huyện vùng cao: Lợng ma trung bình 2000mm - 2400mm; Nhiệt
độ trung bình 15 - 20
0
C, có tháng mùa đông xuống 3- 4
0
C, có tuyết. Vùng
này khí hậu mang tính ôn đới.
Các huyện vùng thấp: Nhiệt độ trung bình 27
0
C; Lợng ma 4.633
mm/năm. ở huyện Bắc Quang là vùng có lợng ma bình quân cao nhất n-
ớc. Thông thờng mùa đông Hà Giang chịu ảnh hởng nhiều của gió mùa
đông bắc.
Sông suối: Toàn tỉnh có 7 sông lớn nhỏ: Sông Lô, Sông Gâm, Sông
Chảy, Sông Nho Quế, Sông Niệm, Sông Con, Sông Bạc, còn lại là suối
cạn. Lu lợng nớc sông phụ thuộc lớn vào mùa ma lũ, mùa khô thờng cạn
kiệt, các dòng sông phân bổ không đều, đặc biệt là vùng cao núi đá, rất ít
nớc. Những tháng mùa khô còn trên 100.000 ngời thiếu nớc sinh hoạt.
* Về thổ nhỡng: Trên địa hình tỉnh Hà Giang hình thành các nhóm

203.027 ngời, khí hậu đất đai phù hợp với trồng cây ôn đới, dợc liệu. Sản
xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng ngô một vụ trên đất hốc đá, chăn nuôi là
bò, ngựa, dê, ong và gia cầm. Trong vùng có tiềm năng về khoáng sản.
Khó khăn lớn của vùng: Khí hậu khắc nghiệt của mùa đông kéo
dài, nhiệt độ thấp 5 - 10
0
C, có năm tuyết rơi, sơng muối ảnh hởng tới
phát triển nông nghiệp, là vùng cao núi đá tình trạng thiếu nớc sinh hoạt,
nghiêm trọng nhất là trong những tháng mùa khô lên tới 10 vạn dân. Thu
nhập bình quân chỉ đạt 70 - 80 USD/ngời/năm. Tỷ lệ ngời mù chữ thất
học vẫn còn rất cao, địa hình hiểm trở, diện tích canh tác manh mún,
giao thông đi lại khó khăn.
- Vùng cao núi đất gồm 2 huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần; diện
tích vùng này là 1460 km
2
, độ cao trung bình 500 - 900 m; Dân số:
105.083 ngời, khí hậu thích hợp với những cây ôn đới, thuận lợi cho phát
triển rừng, nuôi ong, trồng cây công nghiệp nh chè, thông nhựa, trẩu, đậu
tơng... cây lợng thực chính là lúa, ngô, chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò,
ngựa, dê... và gia cầm.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Khó khăn lớn nhất của vùng này là độ dốc rất lớn, hệ thống giao
thông dễ sạt lở và sinh lầy trong mùa ma lũ. Thu thập bình quân 80 -90
USD/ngời/năm, về văn hoá xã hội cũng khó khăn tơng tự nh vùng cao.
- Vùng thấp gồm 3 huyện, thị xã: Bắc Quang, Bắc Mê, Vị Xuyên
và thị xã Hà Giang. Diện tích tự nhiên là 4071 km
2
, độ cao trung bình
100 - 500 m; dân số: 294.574 ngời. Đây là vùng phù hợp với cây nhiệt

GDP tăng 9,1% thì năm 1999 tăng 10,3%). GDP bình quân đầu ngời tăng
từ 685.000 đồng năm 1994 lên 1.535.000 đồng năm 1999, chất lợng và
hiệu quả của nền kinh tế nông lâm nghiệp lạc hậu mang tính tự cấp tự túc
của những năm trớc đây thì vài ba năm nay sản xuất hàng hoá đã bắt đầu
phát triển, đã hình thành đợc một số vùng sản xuất tập trung. Cơ cấu kinh
tế đợc chuyển dịch đúng hớng.
+ Tỷ trọng các ngành nông lâm nghiệp trong GDP giảm từ 63%
năm 1994 xuống còn 61,8% năm 1995 và đến năm 1998 là 52,60%, năm
1999 là 51,46%. Nông lâm nghiệp phát triển tơng đối toàn diện, nhiều
giống cây, con có chất lợng và năng suất cao đợc đa vào sản xuất đại trà,
việc đa những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất tạo nên sự chuyển
biến rõ rệt trong sản xuất. Sản lợng lơng thực quy thóc tăng từ 14,5 vạn
tấn năm 1994 lên 18,4 vạn tấn trong năm 1999 tăng gần 4 vạn tấn. Chăn
nuôi phát triển khá năm sau đều tăng hơn năm trớc từ 4 - 5% năm.
+ Tỷ trọng ngành công nghiệp + xây dựng từ 17,02% năm 1994
lên 21,3% năm 1999. Trong công nghiệp từ chỗ hầu nh cha có gì, sản
xuất quy mô thiết bị nhỏ bé lạc hậu nay đã bắt đầu đợc mở mang xây
dựng phát huy tác dụng nh: Nhà máy Xi măng 4 vạn tấn/năm, dây truyền
Nhà máy gạch 15 triệu viên/năm, nhiều cơ sở chế biến chè, chế biến
nông sản thực phẩm.. ra đời thu hút sản phẩm nông nghiệp và tạo công
ăn việc làm cho hàng ngàn lao động. Nguồn điện lới đã tới 10/10 huyện,
thị trên toàn tỉnh...
+ Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 19.9% năm 1994 lên 27,13% năm
1999. Các hoạt động lĩnh vực thơng mại, dịch vụ, tiền tệ tín dụng cơ bản
đáp ứng đợc các nhu cầu, phát triển cho các thành phần kinh tế thu ngân
sách tăng từ 24 tỷ đồng năm 1994 lên 64 tỷ đồng năm 1999... Giá trị hàng
hoá xuất khẩu và có tính chất xuất khẩu đạt 6,1 triệu USD/năm...
+ Về xây dựng cơ sở hạ tầng: Đã có bơc phát triển khá về số lợng
chất lợng, góp phần to lớn trong việc phát triển nền kinh tế xã hội theo h-
ớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ đang từng

nông, lâm nghiệp năm sau đều cao hơn năm trớc.
Tỉnh đã tập trung chỉ đạo phát triển nông, lâm nghiệp một cách
tòan diện, bằng nhiều biện pháp tích cực, nh làm thuỷ lợi, cung ứng vật t
kỹ thuật, công tác khuyến nông, khuyến lâm; có chính sách hỗ trợ sản
xuất kịp thời để mở rộng diện tích thâm canh, thay đổi cơ cấu mùa vụ, đa
giống mới có năng suất cao vào sản xuất.
25

Trích đoạn phơng hớng, mục tiêu chung. Kiến nghị với tỉnh.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status