1
3. Những đặc điểm chung của những nước đang phát triển :
4. Quan điểm và biện pháp thoát khỏi vòng luẩn quẩn ở các nước đang phát triển:
4.1. Nguyên nhân của vòng luẩn qu
ẩn nghèo đói:
4.2. Biện pháp thoát khỏi vòng luẩn quẩn ở các nước đang phát triển:
5. Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam:
5.1 Tổng quan về nền kinh tế Việt nam qua các chỉ số:
5.2. Những hạn chế của nền kinh tế VN và tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới đến các mục tiêu phát triển:
6. Ý nghĩa và kết luận của việc nghiên cứ
u:
Danh mục tài liệu tham khảo:
3
chế) và sự chuyển đổi ra khỏi những lĩnh vực sản xuất tạo ra giá trị gia tăng thấp như nông nghiệp
và khai thác tài nguyên tự nhiên. Ở các quốc gia phát triển, hệ thống kinh tế dựa trên sự tăng
trưởng mạnh m
ẽ và bền vững ở những lĩnh vực dịch vụ, giáo dục, nghiên cứu phát triển, thông tin,
v.v
Việc áp dụng thuật ngữ nước đang phát triển cho toàn thể các nước chưa đạt trình độ nước
phát triển trong nhiều trường hợp là không thích hợp, không ít quốc gia nghèo không hề có những
cải thiện tình hình kinh tế thậm chí là suy giảm.
2.2. Giới thiệu về một số nước đang phát triển:
Theo thống kê của ngân hàng thế giới( WB) hiện nay trên thế giới trong nhóm “Các nước đang
phát triển” hiện có khoảng 142 nước . VD: Afghanistan, Albania, Algeria, Angola, Antigua,
Argentina, Armenia, Azerbaijan, Bangladesh, Barbados, Hungary, India, Indonesia, Iran, Jamaica,
Jordan, Kazakhstan, Uruguay, Vanuatu, Venezuela, Vietnam, West Samoa, Zambia,…
3. Những đặc điểm chung của những nước đang phát triển :
Mặc dù các nước đang phát triển (LDCs) có sự tương đồng nhất định về điều kiện lịch sử,
địa lý, chính trị và kinh tế, nhưng giữa các nước cũng có sự khác biệt cơ bản tạo nên tính đa dạng
4
cho các nước này.Những khác biệt này chi phối đến việc xác định lợi thế của từng nước.Cụ thể ở
đây chúng ta có thể thấy những khác biệt như:
- Quy mô đất nước;
- Nền tảng/ bối cảnh lịch sử;
- Nguồn lực con người và tự nhiên;
- Thành phần tôn giáo và dân tộc;
- Tầm quan trọng tương đối của các khu vực Tư nhân và Công cộ
ng;
- Cơ cấu công nghiệp;
Trung Đông và Bắc Phi 3.594 $
Bắc Mỹ 46.739 $
Nam Á 1.088 $
Châu Phi hạ Sahara 1.096 $
Nguồn trích dẫn:IBRD World tables 2005-2009,Báo cáo phát triển thế giới.
5
Bảng 3.2: Tỷ lệ nghèo đói ở các nước LDCs cao hơn các nước phát triển:
Tên nước (khu vực) Tỷ lệ đói nghèo mức
1.25$/ngày(2008)
Tỷ lệ đói nghèo mức
2$/ngày(2008)
Đông Á và Thái Bình
Dương
16,8% 38,7%
Châu Âu và Trung Á 3,7% 8,9%
Mỹ Latinh và Caribbean 8,2% 17,1%
Trung Đông và Bắc Phi 3,6% 16,9%
Nam Á 40,3% 73,9%
Châu Phi hạ Sahara 50,9% 72,9%
Nguồn trích dẫn:IBRD World tables 2005, Báo cáo phát triển thế giới,vấn đề nghèo đói.
Bảng 3.3: Một số nước có số dân sống dưới 2$/ngày nhiều nhất như:
Số dân sống dưới 2USD một ngày ở (%):
Tanzania 97
Liberia 95
Nigeria 84
Banladesh 81
Nepal 78
Lao 77
Nguồn trích dẫn:IBRD,Báo cáo phát triển thế giới 2005-2009,y tế thế giới.
Với tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh gấp 10 lần so với các nước phát triển (bảng 3.5).Tỷ lệ người biết
chữ thấp, tỷ lệ bỏ học giữa chừng cao, học trình và các phương tiện giáo dục ko đầy đủ và thường
là không phù hợp.Trong số các nước kém phát triển nhất thì tỷ lệ biết chữ
là 34% so với 65% ở
các nước LDCs khác và 99% ở các nước phát triển.Điều này làm cho trình độ lao động của các
nước LDCs càng thấp, không đáp ứng được nhu cầu của quốc gia.
Sự tác động qua lại của các đặc điểm này có chiều hướng làm trầm trọng thêm và duy trì muôn
thủa những vấn đề phổ biến về “ nghèo đói, ngu dốt và bệnh tật” ở các nước đang phát triển.
¾ Tỷ lệ
tích lũy thấp:
Chúng ta đều biết để phát triển thì phải có nguồn vốn, mà để có vốn tích lũy thì phải hy sinh tiêu
dùng.Nhưng khó khăn ở chỗ, đối với các nước đang phát triển nhất là những nước có thu nhập
thấp , đã gần như chỉ có mức sống tối thiểu, vì vậy việc giảm tiêu dùng là rất khó khăn.Ở các nước
phát triển thường dành từ 20% - 30% thu nhập để tích lũy .Trong khi
đó ở các nước LDCs chỉ có
khả năng tiết kiệm trên 10% thu nhập, nhưng phần lớn số tiết kiệm này lại phải dùng để cung cấp
nhà ở và trang thiết bị cần thiết cho số dân tăng lên.Số dân tăng lên hàng năm ở những nước này
là rất lớn.Tích lũy thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, công nghệ khoa học kỹ thu
ật
để phục vụ sản xuất.Do đó ngày càng hạn chế quy mô tiết kiệm cho tích lũy phát triển kinh tế.
Điều đó có thể giải thích được tại sao hằng năm các nước LDCs phải cần các nguồn vốn tài trợ từ
các nước phát triển với lãi suất ưu đãi (hoặc không hoàn lại).
¾ Trình độ kỹ thuật của sản xuất thấp:
Ở các nước đang phát triể
n hoạt động kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp
chiếm tỷ trọng lớn (nông nghiệp chiếm khoảng 20% tổng sản phẩm quốc dân, trong khi tỷ lệ này
chỉ là 3% ở các nước phát triển)(bảng3. 6), kỹ thuật sản xuất thủ công lạc hậu.Lịch sử phát triển
kinh tế cho thấy rằng nền kinh tế phát triển mạnh thì công nghiệp và dị
ch vụ phải chiếm tỷ trọng
Vietnam 22
Zambia 21
Nguồn trích dẫn:IBRD,World tables 2005-2009,Báo cáo phát triển thế giới,nông nghiệp và nông
thôn.
Thực tế cho thấy rằng các nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đều có nguồn
gốc từ tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp.Thay vì trước đây phải nhập hàng hóa từ các
nước phát triển thì hiện nay các nước LDCs đã dần phát triển công nghiệp và đã có những ngành
công nghiệp mới .Tuy nhiên các ngành công nghiệp này chủ
yếu sử dụng kỹ thuật cổ truyền, trình
độ kỹ thuật thấp, sản phẩm sản xuất ra thường ở dạng thô, sơ chế hoặc chế biến với chất lượng
thấp.Trong khi đó các nước phát triển ngày nay đã đạt đến trình độ công nghệ tiên tiến với kỹ
thuật sản xuất hiện đại, trình độ quản lý thành thạo vượt xa các nước LDCs từ 3
đến 6 thập kỷ,
chính khoảng cách công nghệ quá lớn cũng làm cho các nước LDCs khó tận dụng được lợi thế của
các nước đi sau do quá trình phân công lao động quốc tế mới đưa lại.
¾ Năng suất lao động thấp:
Đây là một đặc điểm quan trọng của các nước LDCs.Một áp lực lớn đối với các nước
LDCs là về dân số và việc làm.Dân số ở các nước này vốn đ
ã đông, sự bùng nổ ở các quốc gia
này càng tạo ra hạn chế lớn cho phát triển kinh tế. Trên khắp thế giới LDCs, mức năng suất lao
động là cực kỳ thấp so với các nước phát triển.Đ iều này có thể giải thích bằng một số khái niệm
kinh tế,chẳng hạn như khái niệm năng suất giảm dần.Nếu sử dụng nhiều hơn các yếu tố biến
đổi
(lao động) mà các yếu tố khác không đổi ( vốn, đất đai, vật liệu…) vẫn không đổi về lượng thì sau
một thời điểm nhất định sản phẩm tăng thêm hay sản phẩm cận biên của yếu tố sản suất biến đổi
trên sẽ giảm xuống, do đó mức năng suất thấp có thể được giải thích bằng tình trạng không có
hoặc thiếu trầ
m trọng các đầu vào bổ sung như vốn và vật chất hoặc đội ngũ quản lý có kinh
nghiệm.Và hầu hết các nước LDCs đang phải đối mặt với các vấn đề trên.Ngoài ra nguyên nhân
trên chúng ta nên xét đến khả năng về thể lực và tinh thần cá nhân của người lao động,sức khỏe
33 Guine, Sudan, Coromos, Togo,Palestin…
28 Honduras, Haiti, Tajikistan, Nepal, Laos, Ả
Rập Saudi, Sybia
23 Ấn Độ,Algieria, Libya, Dominica,
Nicaragua, Bangladesh…
14 Newzealand, Australia, Antigua,Hoa Kỳ,
Tabago, Uruguay…
11 Cuba, Canada, Hy Lạp, Slovenia, Tây Ban
Nha, Slovakia, Ukraine, Hà Lan, Moldova,
Ba Lan, Bulgaria, CH Sec, Bỉ, Phần Lan,
Đan Mạch…
9 Nhật Bản, Hàn Quốc, Qatar, Serbia, Đức,
Bồ Đào Nha,Áo…
Nguồn trích dẫn:Population Reference Bureau 2009, World Population Data Sheet;
Ở các nước LDCs số trẻ em dưới 15 tuổi chiếm một nửa dân số các nước này, trong khi tỷ phần
này ở các nước phát triển chỉ bằng 1/4 tổng số dân.Do vậy, lực lượng lao động ở hầu hết các
nước LDCs phải hỗ trợ cho trẻ em với tỷ lệ gần như gấp đôi so với các nước giàu có hơn.Trong
khi đó số người già trên 64 tuổi
ở các nước phát triển là lớn hơn nhiều.Người già và trẻ em
thường bị coi là “gánh nặng ăn theo” của xã hội,với hàm ý rằng họ là những thành viên không sản
9
xuất được gì cho xã hội, do đó phải được lao động thường từ 15 đến 64 tuổi hỗ trợ về mặt tài
chính.
Tuy nhiên các nước LDCs cũng đang phải đối mặt đó là vấn đề thất nghiệp trong độ tuổi
lao động, thường thì tỷ lệ này lớn so với các nước phát triển.(Chúng ta có thể quan sát bảng 3.9
).Một trong những biểu hiện chủ yếu của mức sống thấp
ở các nước LDCs là việc sử dụng lao
động tương đối chưa hết hoặc chưa có hiệu quả so với các nước phát triển.Khi mà dân số có tốc
độ tăng nhanh thì việc làm cho người lao động phải tăng tương xứng, tuy nhiên ở các nước LDCs
phương thức sản xuất mới luôn đi đôi với cách mạng công nghiệp.N
ền kinh tế thế giới phát triển
không ngừng, các phát minh sáng chế công nghệ kỹ thuật phục vụ sản xuất ngày càng nhiều.Lao
động chân tay dần nhường lại cho lao động máy móc,sức lao động ngày càng được đảm bảo.Thì
việc một nước nghèo muốn thoát khỏi tình trạng kém phát triển thì phải có trình độ sản xuất tiên
tiến là điều kiện đầu tiên và tất yếu.Khi trình độ kỹ thuật sản xuất cao thì năng su
ất lao động
cao,mức sống của con người được cải thiện…
4. Quan điểm và biện pháp thoát khỏi vòng luẩn quẩn ở các nước đang phát triển:
10
Những đặc điểm đặc trưng của các nước LDCs đã phân tích ở trên là những trở ngại đối
với sự phát triển, chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau, tạo ra vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ
(xem sơ đồ 1), làm cho khoảng cách giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày
càng gia tăng. Sơ đồ 1:Vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói
Ngày nay, đói nghèo đang trở thành một vấn đề cấp bách của nhiều quốc gia trên thế giới,
đặc biệt là ở các nước chậm phát triển và đang phát triển.
Đứng trước tình hình này đòi hỏi các nước đang phát triển phải có biện pháp để phá vỡ
Thu nhập thấp
11
nghiệp, khu công nghệ cao nhằm hỗ trợ cho quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế.Từ đó tạo điều kiện cất cánh cho nền kinh tế, giúp thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn.
4.2.Hòa nhập vào quá trình toàn cầu hóa:
Thời đại ngày nay không có một dân tộc nào, nền kinh tế nào có thể phát triển trong sự tồn
tại riêng lẻ.Sự hợp tác nhiều mặt, nhiều chiều, tùy thuộc lẫn nhau trên cơ sở bình đẳng cùng có l
ợi
đã trở thành xu thế tất yếu đối với mọi nước, mọi nền kinh tế.
Thế giới ngày nay là một thể thống nhất, trong đó các quốc gia là những đơn vị độc lập, tự chủ
nhưng phụ thuộc nhau vào kinh tế và khoa học công nghệ.
Lịch sử thế giới đã chứng minh không có một quốc gia nào có thể phát triển nếu không có
quan hệ đối ngoại vớ
i bất kì nước nào.Những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đều là do
khéo léo tận dụng quan hệ đối ngoại để phát triển.Chính những quan hệ ấy đã tạo ra nhiểu hình
thức hợp tác trong phát triển, trong đó đầu tư quốc tế là một trong những mảng chính của quan hệ
kinh tế quốc tế.
4.3.Cải tổ kinh tế trong nước, vận dụng hiệu quả lợi th
ế quốc gia một cách hiệu quả.
Học hỏi các kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển, áp dụng sáng tạo vào mỗi quốc gia khác
nhau.
5.Liên hệ thực tiễn Việt Nam:Việt Nam cũng là một trong những quốc gia nằm trong khu vực “ Các nước đang phát
triển”. Tổ chức Thương mại Thế giới công nhận Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình
độ thấp và đang chuyển đổi.Từ việc phân tích các đặc điểm chung của các nước đó, chúng ta sẽ
phân tích cụ thể nền kinh tế Việt Nam để có những kết luận giúp phát triển n
Năm
Qui mô dân số
(nghìn người)
Qui mô GDP-giá
cố định
(tỷ đồng)
Tốc độ tăng
trưởng
GPD/người
(USD)
2003 80902,4 336,242 7,26 492
2004 82031,7 362,435 7,70 552
2005 83106,3 393,031 8,43 636
2006 84136,8 425,135 8,17 723
2007 85154,9 461,189 8,50 835
2008 86789,0 490,530 6,36 1047
2009 85789,6 511,428 5,32 1250
Nguồn trích dẫn:tổng cục thống kê
So với các nước trong khu vực, VN có mức tăng trưởng cao thứ ba, sau Trung quốc và Ấn
độ. Dưới đây là tốc độ tăng trưởng kinh tế VN so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới, kinh tế
các nước và nhóm nước.
Bảng 5.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế VN so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và
nhóm n
ước theo khu vực ĐVT:%
Năm
Tổng
100% 100%
Nguồn trích dẫn:Bách khoa toàn thư mở
Những đóng góp về phát triển kinh tế nêu trên đã góp phần cải thiện mức sống dân cư và
giảm tỷ lệ nghèo đói tại VN.
Tỷ lệ nghèo chung và nghèo thực phẩm giai đoạn 1993-2006 có thể xem Hình dưới đây.
Chuẩn nghèo thay đổi theo các năm. Bảng 5.4:Tỷ lệ nghèo của VN giai đoạn (1993-2006)
Tỷ lệ
Năm
Nghèo chung(%) Nghèo thực phẩm(%)
1993 58,1 24,9
1998 37,4 15
2003 28,9 10,9
2006 16 4,9
2008 14,5 6,9
2009 11 5,3
Nhìn vào bảng 4, cho thấy
Tỷ lệ nghèo chung và nghèo thực phẩm giảm đáng kể, từ 58,1% nghèo chung năm 1993, xuống
còn 16% năm 2006 và năm 2009 chỉ còn 11%. Tỷ lệ nghèo thực phẩm (đói) từ 24,9% năm 1993,
xuống còn 4,9% năm 2006 và năm 2009 là 5,3%. Đây là một thành tích đáng khích lệ về giảm
nghèo tại VN đã được các tổ chức quốc tế công nhận. VN là một trong số ít các nước đã và đang
thực hiện tốt chi
ến lược thiên niên kỷ-tăng trưởng và giảm nghèo.
Chúng ta có thể thấy rõ được kết quả thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước
đã mang lại cho VN nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, giảm đói nghèo, nâng cao mức sống
cho người dân. Trong bối cảnh VN là thành viên của khối ASEAN, tham gia AFTA và APEC,
trong các nền kinh tế thế giới (xem bảng 5.5)
Bảng 5.5 :Vị trí nền kinh tế VN trong nền kinh tế thế giới qua các chỉ số (2009)
Chỉ số Hạng Giá trị
GDP/người theo tỷ giá 112/180 1040
GDP/người theo PPP 128/180 2900
Xuất khẩu 40 56,55
Nhập khẩu 36 68,80
Môi trường kinh doanh 118/128
Năng lực cạnh tranh 75/133
Tham nhũng 96/127
Chỉ số phát triển giáo dục 105/177
Nguồn trích dẫn:tổng cục thống kê Việt Nam
Bảng 5.6: Tỷ lệ lạm phát củaVN và một số nước trong khu vực(%) (2006-2009)
Năm
Nước
2006 2007 2008 2009
Việt Nam 7 12 24,7 6,9
Trung Quốc 2 6 4,2 4
Thái Lan 3 3 2,1 4,2
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy:
- Khoảng cách giữa tốc độ tăng cung tiền và tốc độ tăng GDP của VN cao hơn nhiều so với các
nước Trung Quốc và Thái Lan. Điều này giải thích tại sao VN có tỷ lệ lạm phát cao hơn tỷ lệ lạm
phát ở các nước này trong 4 năm qua (2006-2009) (bảng 5.6).
-Trong khi các nước Trung Quốc và Thái Lan có cán cân thanh toán dương với qui mô lớn, tăng
dần qua các năm, thì VN có cán cân thanh toán là số âm lớn do nhập siêu cao và số nhập siêu
cũng tăng dần qua các năm.
- Tỷ trọng hàng xuất khẩu của VN năm 2007 chủ yếu là dầu thô chiếm 17,5%, hàng nông sản, hải
Vì vậy về ngắn hạn tăng đầu tư này sẽ ít tác động đến tăng trưởng. Trong khi đó do khủng
hoảng tài chính thế giới và lạm phát ở VN vẫn còn cao hơn các nước trong khu vực, thị
trường tín
dụng hoạt động chựng lại, các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng với lãi suất cao.
Một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng tới giới đầu tư quốc tế cũng như VN hiện nay đó là
yếu tố tâm lý và lòng tin. “Triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu xấu đi nhanh chóng trong
tháng rồi, khi lĩnh vực tài chính tiếp tục khủng hoảng trong lúc lòng tin của nhà sản xu
ất và người
tiêu dùng sụt giảm”.
5.3. Kết luận và kiến nghị
Để phát triển đất nước theo mục tiêu về cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020,
một số chỉ tiêu phát triển VN phải đạt được đó là GDP/người phải > 3.000 USD, tỷ trọng nông
nghiệp trong GDP phải <15%, lao động làm việc trong các ngành phi nông nghiệp phải lớn hơn
75%, đô thị hóa có tỷ lệ dân số đô thị >50%….
Với những chỉ tiêu phát triển trên của một nước công nghiệp, đòi h
ỏi VN phải có một chiến
lược phát triển phù hợp.
Để đạt được mục tiêu chiến lược phát triển đất nước, VN cần có các chiến lược tổng thể và
chiến lược bộ phận. Tạo động lực cho giai đoạn phát triển mới, cần tập trung giải quyết tốt một số
vấn đề trọng tâm sau đây:
- Tiếp tục chủ động ngăn ch
ặn lạm phát cao trở lại và đang tiềm ẩn nhiều yếu tố tăng giá. Kinh tế
thế giới bắt đầu phục hồi nên nhu cầu hàng hoá sẽ tăng nhanh; những gói kích thích kinh tế lớn
của Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc và nhiều nền kinh tế khác chắc chắn cũng sẽ gây hệ luỵ tăng
giá một số loại nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc mà nước ta thường phải nh
ập khẩu với
khối lượng lớn. Mặt khác, chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách tài khoá mở rộng mà Chính
phủ thực hiện trong năm 2009 và còn đang duy trì cũng sẽ là một trong những nhân tố tác động
làm tăng tốc độ tăng giá.
sản phẩm nông nghiệp.
- Đẩy mạnh công tác quy hoạch kinh tế-xã hội vùng và từng địa phương. Chú trọng xây dựng quy
hoạch vùng sản phẩm, vùng nông nghiệp chất lượng cao nước ta có thế mạnh. Tăng cường phối
hợp liên kết các địa phương, liên kết vùng nhằm phát huy sức mạnh của liên vùng, liên tỉnh; đồng
thời khắ
c phục hạn chế của mỗi địa phương, mỗi vùng, từ đó tạo sức tăng trưởng mạnh, hiệu quả
và bền vững.
6.Kết luận của việc nghiên cứu:
Mỗi nước đang phát triển đều có những đặc điểm riêng biệt khác nhau về chính trị, kinh tế, xã
hội,… việc nghiên cứu những đặc điểm chung của các nước đang phát triển nhằm rút ra những
đặc điểm đặc trưng nhất, nói lên bản chất, cốt lõi của nền kinh tế các nước đang phát triển để từ
đó các nước nhìn nhận và đưa ra những giải pháp
đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh và sự phát
triển của đất nước, đưa nền kinh tế phát triển đi lên.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Giáo trình Kinh tế phát triển,GS.TS. Vũ Thị Ngọc Phùng,NXB Lao động-Xã hội HN,
2006.
2. Kinh tế học cho thế giới thứ ba,Michael Todaro,NXB Giáo dục,1998.
3. World Bank (2008), World Development Indicators DatabaseIMF (2008), World
Economic Outlook Update, November 6, 2008
4. WTO (2007), Leading exporters and importers in world merchandise trade.