Các hoạt động của Ngân hàng thế giới các nước thành viên và liên hệ thực tiễn Việt Nam - Pdf 17


Lời nói đầu
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế Thế giới bị tàn phá hết sức
nặng nề, đặc biệt là ở các nớc tham chiến Châu Âu. Trớc sự kiệt quệ đó, nhằm
khôi phục, vực dậy nền kinh tế Châu âu và tạo ảnh hởng về nhiều mặt tại đây Hoa
Kỳ đã đề xuất một giải pháp lên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Theo đó, các
quốc gia trên thế giới mà chủ yếu là Hoa Kỳ sẽ viện trợ về kinh tế cho các quốc
gia Châu âu thông qua một Tổ chức tài chính tiền tệ đợc gọi là Ngân hàng tái
thiết và phát triển thế giới IBRD (hay còn đợc gọi là Ngân hàng thế giới). Với
tiềm năng tài chính của mình, Ngân hàng thế giới đã không ngừng lớn mạnh và
phát huy tầm ảnh hởng không chỉ về mặt kinh tế mà còn can thiệp tới nhiều mặt
chính trị, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Có thể nói, sự ra đời và phát triển
của Ngân hàng thế giới đã trở thành một sự cứu cánh cho không chỉ các quốc gia
t bản phát triển ở Âu châu, mà nó còn là một liều thuốc hữu hiệu cho nền kinh tế
của các quốc gia thuộc Thế giới thứ ba trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Xác định đợc tầm quan trọng trong việc tn dng v phát huy ngoi lc i
vi vic phỏt trin kinh t, nhúm nghiờn cu ó quyt nh chn ti: Tỡm hiu
v Ngõn hng th gii. Vi mc ớch lm cho sinh viờn kinh t hiu bit mt cỏch
sõu rng hn v T chc ti chớnh - tin t ln nht hnh tinh ny, vi mc tiờu
y mnh hn na thu hỳt u t nc ngoi vo Vit Nam. Nhúm nghiờn cu hy
vng s gúp mt phn cụng sc nh bộ ca mỡnh vo vic phỏt trin kinh t nc
nh.
Bi vit c kt cu lm hai phn chớnh nh sau:
Phn 1: Tng quan v s hỡnh thnh, hot ng v phỏt trin ca Ngõn hang th
gii.
Phn 2: Cỏc hot ng ca Ngõn hng th gii cỏc nc thnh viờn v liờn
h thc tin Vit Nam.
Tuy rng, vi s say mờ, mit mi, nghiờm tỳc trong quỏ trỡnh nghiờn cu
nhng chỳng tụi cng khụng th trỏnh c nhng khim khuyt ỏng tic xy ra
trong bi vit ca mỡnh. Nhúm tỏc gi rt mong nhn c ý kin úng gúp t phớa
Cụ giỏo v cỏc bn. Chỳng tụi xin chõn thnh cm n.

hn, lói sut chung thp hn lói sut trờn th trng.
Hip hi phỏt trin quc t ch cung cp cho cỏc nc ang phỏt trin cú thu
nhp thp nht cỏc khon vay u ói di hn khụng ly lói; Cụng ty ti chớnh quc
3tế cho các xí nghiệp tư nhân của các nước đang phát triển vay vốn hoặc tham gia
đầu tư, lãi suất nói chung cao hơn hai loại lãi suất nói trên.
Ngoài ra, tập đoàn ngân hàng thế giới còn có hai cơ quan không làm nghiệp
vụ cho vay là: trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; Cơ quan bảo trợ đầu
tư nhiều bên.
II – bèi c¶nh ra ®êi vµ t«n chØ ho¹t ®éng cña ng©n
hµng thÕ giíi.
1. Sự ra đời và lập tổ chức tài chính quốc tế:
Hội nghị tài chính quốc tế đã được triệu tập. Năm 1929-1933 nổ ra khủng
hoảng kinh tế thế phương Tây. Cuộc khủng hoảng này làm cho nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa càng xấu đi, thất nghiệp tăng lên, mâu thuẫn giữa các nước phát tôn chỉ
hoạt động của ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế ( IBRD):
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nền kinh tế thế giới phát triển rất không
đều, mâu thuẫn giữa các nước phát triển ngày càng sâu sắc. Những nước này thi
hành chính sách bành trướng ra nước ngoài cả về chính trị, kinh tế và quân sự.
Trước tình hình ấy, một số nước đưa ra chủ trương thành triển ngày càng gay gắt,
phát xít Đức nhảy lên vũ đài và Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ.
Trong thời kỳ Thế chiến thứ 2, nền kinh tế Mỹ phát triển rất nhanh, Mỹ trở
thành nước mạnh nhất thế giới. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ bắt đầu lập ra tổ
chức tài chính quốc tế.
Tháng 11 năm 1943, Mỹ đưa ra ý kiến thành lập Ngân hàng tái thiết và phát
triển của Liên hợp quốc. Dụng ý của kiến nghị này là để nhiều nước phát triển
gánh vác nguồn vốn cho nhu cầu khôi phục và xây dựng kinh tế sau chiến tranh.
Mỹ đầu tư vào các nước thông qua Ngân hàng tái thiết và phát triển thì có thể

chơng 2: cơ cấu tổ chức của ngân hàng thế giới.
I Tổ chức và quản lý của ngân hàng thế giới.
Ngõn hng th gii cú Hi ng qun tr, Hi ng giỏm c iu hnh, mt
ch tch ngõn hng, cỏc quan chc cỏc cp v cỏc nhõn viờn, ph trỏch x lý cỏc
cụng tỏc qun lý nghip v v qun lý hnh chớnh ca ngõn hng.
1. Hi ng qun tr:
Ton b quyn lc Ngõn hng th gii c giao cho hi ng qun tr. Mi
nc thnh viờn ca Ngõn hng c mt chỏnh y viờn qun tr v mt phú y viờn
qun tr.
5Hội đồng quản trị phải chọn cử một chánh ủy viên quản trị làm chủ tịch hội
đồng quản trị, mỗi năm triệu tập một lần hội nghị hàng năm của Hội đồng quản trị.
Hội đồng quản trị là cơ quan quyền lực cao nhất của Ngân hàng thế giới, nhưng
ngoài một số chức năng quyền hạn do Hôi đồng quản trị trực tiếp năm giữ ra, còn
thì ủy nhiệm cho Hội đồng giám đốc điều hành. Các chức năng quyền hạn do Hội
đồng quản trị thực hiện chủ yếu là: phê chuẩn việc kết nạp nước thành viên mới,
tăng hoặc giảm cổ phần ngân hàng, đình chỉ tư cách nước thành viên, giải quyết
tranh chấp nảy sinh do các giám đốc điều hành giải thích khác nhau về hiệp định
của ngân hàng, phê chuẩn hiệp định chính thức ký kết với các tổ chức quốc tế
khác, quyết định việc phân phối thu nhập ròng của ngân hàng, phê chuẩn việc tu
chỉnh hiệp định ngân hàng.
Hội đồng quản trị mỗi năm họp một lần, thường họp chung với Hội đồng
quản trị của tổ chức Quỹ tiền tệ quốc tế vào tháng 9 hoặc tháng 10 hàng năm.
Ngoài hội nghị hằng năm ra, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng giám đốc điều hành
thấy cần thiết thì có thể mở hội nghị đặc biệt. Nếu có năm trước thành viên hoặc
số nước thành viên chiếm 1/4 tổng số phiếu đề nghị Hội đồng giám đốc điều hành
phải lập tức triệu tập hội nghị Hội đồng quản trị Ngân hàng. Hội nghị Hội đồng
quản trị phải có số uỷ viên hội đồng quản trị đại diện cho 2/3 tổng số phiếu biểu

tổng số phiếu biểu quyết tham dự mới được coi là hợp lệ.
Mỗi giám đốc điều hành phải cử một phó giám đốc điều hành. Khi giám đốc
điều hành vắng mặt thì phó giám đốc điều hành thay mặt, thực hiện mọi quyền
hạn của giám đốc điều hành. Khi giám đốc điều hành có mặt tại Hội nghị thì phó
giám đốc điều hành cũng phải dự họp, nhưng không có quyền bỏ phiếu biểu quyết.
Hội đồng giám đốc điều hành làm việc tại trụ sở của ngân hàng ở Oasinhtơn. Quy
chế do Hội đồng quản trị soạn thảo quy định rằng, khi thảo luận đề nghị của những
nước thành viên không có người tham gia Hội đồng giám đốc điều hành, hoặc thảo
luận những vụ việc có ảnh hưởng đặc biệt đối với những thành viên đó, thì những
nước này phải cử một đại biểu tham dự hội nghị Hội đồng giám đốc điều hành.
Khi Hội đồng giám đốc điều hành thấy cần thiết thì có thể lập ra các tiểu ban,
thành viên của các tiểu ban không nhất thiết là uỷ viên quản trị, giám đốc điều
hành hoặc phó uỷ viên quản trị và phó giám đốc điều hành.
Hiệp định về Ngân hàng thế giới chỉ xác định một số nguyên tắc chung, Hội
đồng giám đốc điều hành có quyền điều chỉnh chính sách của ngân hàng thích ứng
với tình hình luôn luôn biến đổi. Hội đồng giám đốc điều hành xem xét và quyết
định đối với các kiến nghị của chủ tịch ngân hàng về các thế giới có lấy lãi, kỳ hạn
7tương đối ngắn, còn các khoản cho vay của Hiệp hội phát triển quốc tế thì không
có lãi, kỳ hạn dài, thường là 50 năm. Để phân biệt, các khoản trên gọi là cho vay,
các khoản dưới gọi là tín dụng, để trình Hội đồng quản trị các báo cáo thẩm kế tài
vụ, dự đoán kinh phí hành chính, các báo cáo hàng năm về nghiệp vụ và chính
sách của ngân hàng cũng như các công việc khác mà giám đốc điều hành nhận
thấy phải trình Hội đồng quản trị.
Việc Hội đồng giám đốc điều hành quyết định chính sách hoặc xem xét các
hạng mục cho vay mang ý nghĩa song trùng một mặt đại biểu cho lợi ích của các
nước thành viên cử ra hoặc bầu cho họ, mặt khác lại đại biểu cho lợi ích của ngân
hàng. Để phản ánh chuẩn xác ý kiến của các nước thành viên đã cử ra hoặc bầu ra

ngân hàng không có quyền biểu quyết, trừ khi hội nghị Hội đồng giám đốc điều
hành lấy biểu quyết mà sổ phiếu thuận và phiếu chống bằng nhau thì chủ tịch có
thể bỏ một phiếu quyết định.
Khi thi hành nhiệm vụ của mình, chủ tịch, các quan chức và viên chức của
ngân hàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước ngân hàng, chứ không chịu trách
nhiệm trước các nhà đương cục khác. Các nước thành viên phải tôn trọng tính chất
quốc tế về chức trách của họ và không được gây sức ép đối với bất kỳ ai trong số
họ thừa hành chức năng quyền hạn của mình. Điều kiện quan trọng nhất để chủ
tịch ngân hàng tiếp nhận các quan chức và viên chức ngân hàng là họ phải có hiệu
suất làm việc, năng lực kỹ thuật cao.
Quan hệ giữa Hội đồng giám đốc điều hành với bộ máy làm việc do chủ tịch
đứng đầu đại thể giống như quan hệ giữa Hội đồng giám đốc của các công ty cổ
phần với bộ máy nghiệp vụ do các tổng giám đốc của các công ty ấy đứng đầu.
Chủ tịch và bộ máy làm việc hoạch định nghiệp vụ thực tế của ngân hàng theo
phương châm, chính sách đã được Hội đồng giám đốc điều hành phê chuẩn. Mọi
việc cho vay, phát hành trái khoán, lập dự toán, báo cáo đệ trình Hội đồng quản trị
và các công việc khác có liên quan tới phương châm, chính sách đều phải báo cáo
Hội đồng giám đốc điều hành thẩm tra và quyết định. Còn Hội đồng giám đốc điều
hành thì làm theo kiến nghị của bộ máy làm việc.
Chủ tịch Ngân hàng thế giới từ ngày thành lập, năm 1946, tới nay đều là
người Mỹ.
Chức năng chủ yếu của Ngân hàng thế giới là huy động vốn của một số nước
phương Tây để trợ giúp cho các quy hoạch và hạng mục ưu tiên trọng điểm của
các nước nghèo đang phát triển. Vì vậy, ngân hàng còn có hai phó chủ tịch cao
9cấp, một người quản công tác tài vụ của ngân hàng, một người chủ quản công tác
nghiệp vụ của ngân hàng.
Phó chủ tịch cao cấp chủ quản tài vụ có trách nhiệm báo cáo với chủ tịch


Ngoài ra, còn có sáu chủ tịch do chủ tịch trực tiếp lãnh đạo, trong đó có bốn
người chủ quản bốn phòng chính sách phát triển, phòng quản lý hành chính, phòng
nhân sự và phòng đối ngoại, một người kiêm cố vấn trưởng về pháp luật, một
người kiêm tổng thư ký ngân hàng.
Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế có một tổng giám đốc, chủ quản
công tác đánh giá nghiệp vụ.
4. Bộ máy và các nhân viên làm việc:
Ngoài bộ máy văn phòng chính đặt tại Oasinhtơn. Ngân hàng thế giới còn có
các văn phòng, cơ quan biệt phát hoặc đại diện thường trú đặt tại các nước thành
viên. Ngân hàng có văn phòng tại Pari, Luân Đôn, Tokyo, Niu Oóc và ở trụ sở
Liên hợp quốc tại Niu Oóc. Trong đó, lớn nhất là văn phòng Châu Âu tại Pari, giữ
liên hệ thường xuyên với các tổ chức quốc tế có liên quan, với chính phủ các nước
Châu Âu và thị trường tư bản. Văn phòng Châu Âu tại Pari cũng là một trong
trung tâm hoạt động tình báo của Ngân hàng thế giới. Ngân hàng còn có văn
phòng đại diện toàn khu vực Đông Phi tại Nairôbi của Kênia, phòng đại diện khu
vực Tây Phi tại Abítgian thuộc Bờ biển Ngà, văn phòng đại diện tại khu vực Thái
Lan tại Băng cốc. Nhiệm vụ chủ yếu của các văn phòng đại diện này là phối trợ
các nước khu vực sở tại lựa chọn và chuẩn bị các dự án cần ngân hàng cho vay
vốn. Ngoài ra, Ngân hàng thế giới còn cử đoàn đại diện không thường trú tại năm
nước Bănglađét, ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan, Arập Xêút; đại diện thường trú tại
thủ đô 20 nước: Cabun (Apganixtan), Lapaxơ (Bôlivia), Bugiumbara (Burunđi),
Yaunđê (Camơrun), Bôgôta (Côlômbia), Ađiabêba (Êtiôpia), Acra (Gana),
Bamacô (Mali), Cátmandư (Nêpan), Lagốt (Nigiêria), Lima (Pêru), Kigari
(Ruanđa), Đaca (Xênêgan), Môgađixiô (Xômali), Côlômbô (Xrilanca), Khắc tum
(Xuđăng), Đaét Xalam (Tandania), Uygađugu (Thượng Vonta), Kinxaxa (Daia) và
Luxaca (Dămbia). Nhiệm vụ chung của các đoàn đại diện và của các đại diện
thường trú này là xúc tiến những công việc giúp đỡ đặc biệt có liên quan tới các
dự án của các chính phủ vay vốn của Ngân hàng thế giới.
Ngoài việc tiếp xúc với các chính phủ hữu quan thông qua các văn phòng đại

theo “kế hoạch trẻ hoá viên chức chuyên nghiệp”.
Theo quy định trong hiệp định Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế, các
uỷ viên quản trị, giám đốc điều hành, các quan chức và viên chức của ngân hàng
được hưởng quyền miễn trừ và đặc quyền. Các giám đốc điều hành, các quan chức
và viên chức của ngân hàng không phải là người nước sở tại của ngân hàng thì
được miễn đóng thuế thu nhập từ tiền lương và phụ cấp.
12Theo quy định, tuy các viên chức Ngân hàng thế giới là người của hơn một
trăm nước, nhưng từ chủ tịch, phó chủ tịch tới nhân viên thường, khi thực thi
nhiệm vụ chỉ chịu trách nhiệm trứơc ngân hàng, không chịu trách nhiệm trước bất
kỳ nước nào. Chính phủ các nước thành viên phải tôn trọng tính chất quốc tế về
chức trách của mỗi viên chức của ngân hàng không được gây bất kỳ tác động nào
khi họ thực hiện chức vụ của mình.
II – c¸c níc thµnh viªn vµ quyÒn bá phiÕu biÓu quyÕt
trong ng©n hµng thÕ giíi.
Ngân hàng thế giới là một tổ chức tại liên chính phủ, hình thành theo phương
thức cổ phần của các nước thành viên của Liên hợp quốc.
Các nước tham dự hội nghị Brétơn út năm 1944 và ký hiệp định Ngân hàng
thế giới trước ngày 31 tháng 12 năm 1945 là các nước sáng lập. Từ đó đến nay, bất
kỳ nước nào, không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế, đều có thể nộp đơn xin gia
nhập theo thủ tục đã quy định sau khi Hội đồng quản trị xem xét phê chuẩn thì trở
thành nước thành viên của Ngân hàng thế giới. Nhưng để có đủ tư các nước thành
viên, trước hết phải tham gia tổ chức Quỹ tiền tệ quốc tế. Song nước thành viên
của tổ chức Quỹ tiền tệ quốc tế không nhất định phải tham gia Ngân hàng thế giới.
Các nước sáng lập và các nước tham gia sau này có quyền lợi bình đẳng, nghĩa vụ
ngang nhau.
Nước thành viên có quyền rút khỏi Ngân hàng thế giới vào bất kỳ lúc nào.
Sau khi ngân hàng nhận được thông báo bằng văn bản thì thông báo xin rút khỏi

nguyên nhân mà mọi người đã biết, suốt 31 năm ròng, nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa không được thực hiện quyền đại diện của mình. Mãi tới khoảng tháng
3 – tháng 4 năm 1980, tổ chức Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới mới lần
lượt cử các đại diện , trong đó có Mácnamara, Chủ tịch Ngân hàng thế giới bấy
giờ , đến Trung Quốc thương thuyết vấn đề khôi phục quyền đại diện của Trung
Quốc. Ngày 17 tháng 4 năm 1980, Hội đồng quản trị của tổ chức Quỹ tiền tệ quốc
tế chính thức khôi phục quyền đại diện của Trung Quốc. Ngày 15 tháng 5 cùng
năm, Hội đồng giám đốc điều hành Ngân hàng thế giới chính thức quyết định khôi
phục quyền đại diện của Trung Quốc tại Ngân hàng thế giới, Hiệp hội phát triển
quốc tế và Công ty tài chính quốc tế.
14Các nước thành viên của Ngân hàng thế giới đều phải góp cổ phần vào
ngân hàng. Mức góp cổ phần do ngân hàng hiệp thương với nước xin tham gia xác
định và do Hội đồng quản trị phê chuẩn. Nói chung, việc xác định mức góp cổ
phần được căn cứ vào tình hình kinh tế và lực lượng tài chính của nước xin tham
gia, có tham khảo mức cổ phần của các nước đó góp vào Quỹ tiền tệ quốc tế.
Ngân hàng thế giới không áp dụng nguyên tắc biểu quyết mỗi nước thành
viên một phiếu, mà áp dụng nguyên tắc biểu quyết tính theo mức cổ phần. Theo
quy định trong hiệp định ngân hàng, mỗi nước thành viên, không phân biệt nước
lớn nước nhỏ, góp cổ phần nhiều hay ít, có 250 phiếu biểu quyết cơ bản, ngoài ra,
cứ mỗi cổ phần (bằng 100.000 đô la Mỹ tính theo hàm lượng vàng của đồng đô la
Mỹ trong năm 1944) được thêm một phiếu biểu quyết. Tháng 4 năm 1978 có thay
đổi, mỗi cổ phần tính bằng 100.000 đơn vị quyền rút vốn đặc biệt. Sau nhiều lần
tăng vốn, hiện nay vốn pháp định của Ngân hàng là 80 tỷ đôla Mỹ. Tỷ lệ thực góp
của các nước so với cổ phần gốc cũng có thay đổi. Theo quy định trong hiệp định
ngân hàng, việc góp cổ phần chia ra làm hai phần:
i) Khi tham gia ngân hàng các nước thành viên trước tiên phải góp 20% tiền cổ phần
(trong đó 2% góp bằng vàng hoặc đôla Mỹ, còn 18% khi ngân hàng gọi nộp thì

trước khi Niu Ghinê giành được độc lập vào tháng 9 năm 1975, ngân hàng đã cấp
cho họ 5 khoản vay, đều do Chính phủ Ôxtơrâylia bảo trợ.
b) Nói chung, các khoản vay phải được dùng cho các dự án cụ thể được ngân
hàng phê chuẩn. Thông thường các khoản cho vay của Ngân hàng thế giới phải
được dùng cho dự án cụ thể của nước vay nợ, các dự án này phải được ngân hàng
thẩm định là có tính khả thi về kỹ thuật và kinh tế, phải được bàn bạc thống nhất
với nước vay nợ đó, phải là những dự án thật sự được ưu tiên nhất trong chương
trình phát triển kinh tế.
16Bởi vậy, nước vay nợ phải cung cấp cho Ngân hàng thế giới tình hình và tư
liệu về kinh tế, tài chính có liên quan đến dự án và của chính bản thân dự án xin
vay vốn. Dự án vay vốn chỉ có thể chấp nhận sau khi đơn vị có dự án đã tự đánh
giá trước, một nhóm thẩm định của ngân hàng đã phân tích đánh giá, được Hội
đồng giám đốc điều tra phê chuẩn. Trong quá trình thực hiện dự án, mỗi năm Ngân
hàng thế giới sẽ tới kiểm tra, đôn đốc và chỉ đạo kỹ thuật cho một hoặc hai lần, khi
kết thúc dự án phải có đánh giá mang tính chất tổng kết. Trong số hơn 2.000 khoản
mà ngân hàng đã đồng ý cho vay, có trên 90% là cấp cho các dự án cụ thể. Trong
trường hợp đặc biệt, ngân hàng cung cấp các khoản cho vay không mang tính chất
dự án cụ thể.
Các khoản cho vay không mang tính chất dự án thường là cấp ngoại tệ cho
nhu cầu nhập vật tư, thiết bị, để giúp cho các công trình sản xuất đã có sẵn vốn của
nước vay nợ. Cũng có một số ít khoản cho vay không mang tính chất dự án cụ thể
được cấp cho các nước vay nợ mang tính chất dự án cụ thể được cấp cho các nước
vay nợ thực hiện tổng kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế của họ, cũng có một số ít
khoản cho vay này được cấp cho nước vay nợ duy trì kế hoạch phát triển sản xuất
sau thiên tai.
c) Chỉ cho vay đối với những nước thành viên có khả năng trả nợ. Ngân hàng
thế giới chỉ là một tổ chức phát triển, nó cho các nước thành viên vay nợ để phát

không cho vay nợ.
d) Trong những trường hợp sau đây Ngân hàng thế giới sẽ từ chối cho vay:
i) Dự án xin vay là dự án mà ngân hàng cho rằng không phải là dự án ưu tiên nhất
đối với sự phát triển kinh tế của nước xin vay, hoặc không thoả đáng, quá lớn,
chuẩn bị kém. Nếu ngân hàng nhận thấy có thể bổ cứu được thì ngân hàng giúp
nước đó sửa lại dự án để dự án có tính khả thi về kinh tế.
ii) Ngân hàng cho rằng nước xin vay có thể vay vốn cho dự án đó từ các nguồn khác
với những điều kiện hợp lý.
iii) Ngân hàng thấy rằng triển vọng trả nợ của nước xin vay không chắc
chắn.
iv) Ngân hàng cho rằng dự án xin vay vốn không thuộc phạm vi kinh doanh của ngân
hàng (ví như ngân hàng không có đủ chuyên gia để giám sát các khoản vay này).
Có một số nước đang phát triển đã tích luỹ được những kinh nghiệm thành
công trong việc làm thế nào để vay vốn tại Ngân hàng thế giới được thuận lợi.
Trước hết họ làm cho dự án của họ phù hợp với kế hoạch của Ngân hàng thế giới.
Điều đó đòi hỏi phải thường xuyên trao đổi với ngân hàng thế giới, phân tích các
18văn kiện của ngân hàng, lưu ý tới những vấn đề mà hội đồng giám đốc điều hành
thảo luận, để từ đó nắm được phương hướng chính sách, kế hoạch cho vay những
năm tới của ngân hàng và mức vốn mà nước mình có thể vay được. Hai là, họ căn
cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế và các dự án xây dựng của nước mình, lập ra
danh mục các dự án xin vay trong một thời gian tương đối dài, từng bước xin vay
theo thứ tự ưu tiên, để cố gắng không ngừng vay được các khoản vay mới. Ba là,
họ lập ra tổ chức chuyên đi lại với Ngân hàng thế giới, đặc biệt là ở giai đoạn đầu
tiên lựa chọn dự án, bố trí chuyên gia và nhân viên kỹ thuật cần thiết để ở vào thế
chủ động khi cùng với Ngân hàng thế giới xác định dự án ưu tiên và các việc liên
quan.
2. Đặc điểm cho vay:

Ngoài ra ngân hàng còn có 7 tỷ USD tài sản thuần tuý, không phải trả lãi
(gốm có cổ phần thực góp của các nước thành viên và tiền dự trữ), khiến ngân
hàng có thể lấy lãi suất thấp hơn thị trường tư bản. Sau khi ký hiệp định cho vay,
thì từ ngày ký thoả ứoc cho tới khi nợ được trả hết, lãi suất không thay đổi. Ngân
hàng thế giới thu rất ít lệ phí cho vay, chỉ thu 0,75% chi phí cam kết đối với khoản
vay chưa dùng tới sau khi ký thoả ước.
c) Nước vay nợ phải gánh chịu rủi ro do hối suất biến động. Hiệp định cho
vay của Ngân hàng thế giới thường lấy đồng USD làm đơn vị tiền tệ. Khi người
vay rút vốn ngân hàng chi ra bằng đồng tiền mà họ có, qui đổi ra đô la Mỹ theo hối
suất thích hợp trong thời điểm người vay rút vốn. Khi trả nợ, người vay phải qui
đổi ra đồng tiền được sử dụng khi người vay rút vốn, do đó phải gánh chịu rủi ro
do có biến động về hối suất giữa đồng tiền ấy với đồng đôla. Tất cả các khoản vay
mà ngân hàng thoả thuân từ ngày 1/7/1980 về sau đều thực hiện theo phương pháp
mới gọi là “chế độ tổng kho tiền tệ”. Với chế độ này, những rủi ro do sự dao động
giá trị đồng tiền mà ngân hàng cho vay gây ra sẽ được chia bình quan cho mọi
người vay nợ cùng gánh chịu.
d) Nói chung, các khoản cho vay phải gắn với những dự án công trình cụ thể.
Những dự án này phải được ngân hàng chọn lựa kỹ lưỡng, hạch toán thật sự, giám
sát chặt chẽ và phân tích có hệ thống. Vì vậy, nước vay nợ phải cung cấp cho ngân
hàng tình hình và tài liệu thống kê kinh tế tài chính có liên quan đến dự án và
chính bản thân dự án xin vay vốn. Hơn nữa, thông thường ngân hàng chỉ cung cấp
toàn bộ hoặc một phần ngoại tệ cần thiết trong chi phí xây dựng của dự án, thường
chiếm 30% toàn bộ vốn cần thiết cho dự án đó. Còn phần chi bằng đồng tiền của
20nước sở tại thì chỉ trong trường hợp đặc biệt, tức là trong trường hợp số vốn mà
nước vay nợ cần có vướt quá dự trữ trong nướnc và vượt quá mức mà các nguồn
khác trên thế giới có thể đáp ứng, ngân hàng mới giải quyết. Nếu ngân hàng chỉ
cho vay phần vốn ngoại tệ thì không còn cách nào thoả mãn được nhu cầu về bộ

Chiến lược phát triển này chủ yếu biểu hiện ở những nước, những khu vực được
trợ vốn và các dự án xây dựng. Nhất là việc trợ vốn của ngân hàng và Hiệp hội đối
với các dự án phát triển nông nghiệp và nông thôn ngày càng thể hiện rõ tư tưởng
chiến lược phát triển này. Nhiều năm gần đây, việc trợ vốn cho các nước đang
phát triển vẫn bảo lưu các dự án xây dựng đã trở thành truyền thống, nhưng ngân
hàng luôn luôn điều chỉnh những dự án này. Mục đích là nhằm đặt trọng điểm vào
các dự án xây dựng trực tiếp liên quan tới lợi ích của tầng lớp nghèo khổ nhất
trong các nước đang phát triển, để quần chúng nhân dân trực tiếp được lợi.
Khi mới thành lập, Ngân hàng thế giới chủ yếu cung cấp cho các nước đang
phát triển ở Tây Âu như: Pháp, Hà Lan, Bỉ các khoản cho vay khôi phục kinh tế
sau chiến tranh, đồng thời cung cấp cho các nước đang phát triển các khoản cho
vay phát triển kinh tế. Từ năm 1952 đến nay, chủ yếu cho vay đối với các nước
đang phát triển ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Từ năm 1968 trở đi chỉ cho vay
đối với các nước đang phát triển.
Khi trợ vốn, Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế và Hiệp hội phát triển
quốc tế căn cứ vào thu nhập bình quân theo đầu người của nước vay vốn để xác
định mức tiền của nước cho vay. Cả hai mặt này được kết hợp với nhau khi xem
xét vấn đề trợ vốn cho một nước.
Khi cam kết cho vay, Ngân hàng thế giới lấy mức thu nhập của nước thành
viên làm một nhân tố quan trọng để xem xét. Nhìn chung, tỷ lệ cho vay của Ngân
hàng thế giới đối với nước có thu nhập thấp (tổng giá tri sản xuất quốc dân bình
quân theo đầu người dưới 371USD, tính theo giá trị đồng đô la Mỹ năm 1979) có
thấp hơn chút ít. Bởi vì Ngân hàng cho rằng kết cấu kinh tế của những nước này
có nhiếu nhược điểm, khả năng trả nợ có hạn, nên chủ yếu để Hiệp hội phát triển
quốc tế cấp tín dung có ưu đãi, cho nên tỷ lệ các khoản vay mà Ngân hàng thế giới
cung cấp với lãi suất sát với lãi suất trên thị trường có giảm đi.
Tỷ lệ các khoản vay mà Ngân hàng thế giới cấp cho những nước có mức thu
nhập trung bình (tổng giá trị sản xuất quốc dân binh quân theo đầu người trong
khoảng từ 371 đến 1895USD) tăng lên nhiều. Sở dĩ Ngân hàng thế giới tăng các
khoản cho vay đối với các nước có mức thu nhập trung bình là vì ngân hàng cho

1. Phát triển nông nghiệp và nông thôn:
Thời kỳ dầu, ngân hàng thế giới chủ yếu cho vay đối với các dự án về xây
dựng kết cấu hạ tầng cơ bản, như đập nước, đường xá, bến cảng, để có lợi gián
tiếp cho phát triển nông nghiệp. Bây giờ các khoản cho vay trực tiếp đối với ngành
nông nghiệp cũng chủ yếu nhằm vào các dự án cấp và thoát nước cơ bản. Từ năm
231948 đến năm 1963, trên một nửa các khoản cho vay của Ngân hàng thế giới và
Hiệp hội phát triển quốc tế đối với ngành nông nghiệp được cấp cho các dự án về
cấp nước, thoát nước và chống lụt.
Khi cho vay đối với nông nghiệp, Ngân hàng thế giới thẩm sát kỹ lưỡng
chính sách phân phối trong nông nghiệp và chính sách giá cả của nước vay vốn, và
đưa ra những kiên nghị cải cách cần thiết. Ngân hàng còn ngày càng chú ý cho vay
để cái tiến các phương tiện tiêu thụ hàng nông sản như kho chứa, xử lý, chế biến
và vận tải. Nói chung, khi cấp các khoản cho vay đối với các dự án về nông nghiệp
Ngân hàng rất chú ý tới việc hiện đại hoá và tăng cường hệ thống phân phối, khiến
chế độ giá cả bảo đảm cho nông dân có được thù lao hợp lý.
Ngân hàng thế giới còn hết sức quan tâm tới việc đa dạng hoá sản xuất nông
nghiệp của các nước đang phát triển, họ ưu tiên trợ vốn cho các dự án đa dạng hoá
sản xuất, ủng hộ các biện pháp tăng sức cạnh tranh của sản phẩm sơ chế trên thị
trường và tăng công dụng của sản phẩm sơ chế.
Bắt đầu từ những năm 60, các khoản cho vay của ngân hàng thế giới đối với
nông nghiệp trở lên đa dạng hoá gồm hoạt động cải tiến canh tác, viện trợ kỹ thuật
và thúc đẩy nông thôn phát triển. Chính sách cho vay của Ngân hàng thế giới đối
với nông nghiệp từ chỗ chủ yếu giúp đỡ xây dựng kết cấu hạ tầng chuyển sang
nâng cao năng suất lao động, từ đó nâng cao mức sống ở nông thôn. Kết quả là
cho vay phát triển nông nghiệp và nông thôn trở thành khoản mục cho vay lớn
nhât của ngân hàng thế giới.
Sở dĩ Ngân hàng thế giới đặt việc giúp đỡ phát triển nông nghiệp và nông

sản xuất cồn để thay thế dầu mỏ.
Mấy năm gần đây, cho vay đối với nhu cầu chất đốt tăng rất nhanh, chủ yếu
là trồng cây nuôi rừng; các dự án về sản xuất cồn, chỉ cần có tính khả thi về kinh tế
là được cho vay. Đối với ngành không thể tái sinh nguồn năng lượng, ngân hàng
thế giới và Hiệp hội phát triển quốc tế tăng nhanh các khoản cho vay về dầu mỏ,
hơi đốt và than.
3. Giáo dục:
Từ năm 1962 trở đi ngân hàng thế giới mới cấp vốn cho vay trong lĩnh vực
giáo dục, lúc đầu mức cho vay còn ít, những năm 70 có tăng nhanh hơn.
Qui tắc khi cấp vốn cho vay đối với giáo dục là:
Một khi điều kiện tài chính cho phép, ít nhất phải tiến hành giáo dục cơ bản
tối thiểu cho toàn thể nhân dân; hai, để tăng thêm tri thức và kỹ năng cả về số
lượng và chất lượng cho mọi người khiến họ có thể hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ
25

Trích đoạn Khung hành động: Cộng tác với giới trẻ Pêru để tạo ra sự thay đổi: Hợp tác với các tổ choc khác: Danh mục các dự án đang tiến hành do Hiệp hội phát triển quốc tế ida tàI trợ cho việt nam Chơng trình phát triển dự án mêkông (mpdf)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status