`
MỞ ĐẦU
Cán cân thanh toán quốc tế là công cụ quan trọng đế đề ra các chính sách phát triến
kinh tế. Những diễn biến trong cán cân thanh toán của một nước là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà hoạch định chính sách. Trong từng thời kì cụ thể có thể xảy ra 3 trường
hợp: cân bằng, dư thừa, thâm hụt. Việc điều chỉnh cán cân thường được đặt ra khi cán
cân thanh toán quốc tế lâm vào tình trạng thâm hụt (hay bội chi) kéo dài.Có nhiều biện
pháp giải quyết tình trạng bội chi như chính sách tỷ giá, chính sách khuyến khích xuất
khẩu và quản lý nhập khẩu, biện pháp kiểm soát trực tiếp Trong đó có có biện pháp cắt
giảm chi tiêu. Vậy biện pháp cắt giảm chi tiêu có những hạn chế, bất lợi gì? Để làm rõ
hơn, nhóm 3 nghiên cứu đề tài: " Điểm bất lợi của chính sách cắt giảm chi tiêu khi
cán cân thanh toán bội chi là gì và liên hệ thực tiễn Việt Nam''
Bài thảo luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về cán cân thanh toán quốc tế
Chương 2: Tác động của biện pháp cắt giảm chi tiêu khi cán cân thanh toán quốc tế
bội chi.
Chương 3: Liên hệ thực tiễn công tác cắt giảm chi tiêu khi cán cân thanh toán bội chi
ở Việt Nam.
1
`
CHƯƠNG 1.
TỔNG QUA LÝ THUYẾT VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm và ý nghĩa cán cân thanh toán quốc tế.
1.1.1 Khái niệm:
Theo định nghĩa chính thức của Quỹ tiền tệ quốc tế ( International Monetary Fund –
IMF): “ Cán cân thanh toán quốc tế (Balance of Payment – BOP) là báo cáo thống kê tóm
tắt một cách có hệ thống trong một khoảng thời gian nhất định ( thường là một năm ) về
các nghiệp vụ kinh tế của một nền kinh tế với phần còn lại của thế giới”
Nói cách khác cán cân thanh toán quốc tế là một bảng kết toán tổng hợp tất cả các luồng
hàng hóa, dịch vụ, đầu tư giữa một nước với các nước khác trên thế giới trong một thời
kỳ nhất định (thường là một năm).
- Cán cân thanh toán quốc tế thời điểm: Là cán cân thanh toán phản ánh những
khoản ngoại tệ sẽ thu và sẽ chi vào một thời điểm nào đó. Các giao dịch tiền tệ được
phản ánh trong cán cân thanh toán thực chất là những giao dịch tiền tệ giữa những
người cư trú và những người không cư trú và ngược lại.
1.2.2 Nội dung của Cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm 5 hạng mục sau: Cán cân vãng lai, cán cân vốn và
tài chính, lỗi và sai sót, cán cân tổng thể và tài trợ chính thức.
(1) Tài khoản vãng lai
Ghi lại các dòng hàng hóa, dịch vụ và các khoản chuyển tiền qua lại. Khoản mục cán cân
vãng lai được chia thành 4 nhóm nhỏ: thương mại hàng hoá, dịch vụ, yếu tố thu nhập,
chuyển tiền thuần.
* Cán cân thương mại: (Cán cân hữu hình)
3
`
- Cán cân này phản ánh những khoản thu chi về xuất nhập khẩu hàng hoá trong một thời
kỳ nhất định.
- Khi cán cân thương mại thặng dư điều này có nghĩa là nước đó đã thu được từ xuất
khẩu nhiều hơn phải trả cho nhập khẩu. Ngược lại, cán cân bội chi phản ánh nước đó
nhậpkhẩu nhiều hơn xuất khẩu.
+Khi xuất khẩu, trị giá hàng xuất khẩu được phản ánh vào bên Có. Khi nhập khẩu, trị giá
hàng nhập khẩu được phản ánh vào bên Nợ. Vì xuất khẩu làm phát sinh cung ngoại tệ và
cầu nội tệ trên thị trường ngoại hối. Nhập khẩu làm phát sinh cầu ngoại tệ.
* Cán cân dịch vụ (Cán cân vô hình).
- Phản ánh các khoản thu chi từ các hoạt động dịch vụ về vận tải (cước phí vận chuyển
thuê tàu, bến bãi ) du lịch, bưu chính, cố vấn pháp luật, dịch vụ kỹ thuật, bản quyền,
bằng phát minh
- Thực chất của cán cân dịch vụ là cán cân thương mại nhưng gắn với việc xuất nhập
khẩu dịch vụ.
Ghi chép: Xuất khẩu dịch vụ (phản ánh bên Có.
Nhập khẩu dịch vụ (phản ánh bên Nợ.
- Các khoản tín dụng quốc tế dài hạn:
5
`
• Tín dụng thương mại dài hạn: khoản vay hoặc cho vay của các tổ chức tín dụng
nước ngoài theo điều kiện thực tế. Khi đi vay phản ánh bên Có. Khi cho vay hoặc
trả nợ thì phản ánh bên Nợ.
• Tín dụng ưu đãi dài hạn: Các khoản vay ODA.Khi đi vay phản ánh bên Có. Khi
cho vay phản ánh bên Nợ.
- Các khoản đầu tư gián tiếp khác bao gồm các khoản mua, bán cổ phiếu, trái phiếu
quốc tế nhưng chưa đạt đến số lượng kiểm soát công ty.
+Nếu bán cổ phiếu,trái phiếu tức là vốn vào thì phản ánh bên Có. Còn nếu mua thì vốn
ra tức là phản ánh bên Nợ.
- Các khoản vốn chuyển giao một chiều (không hoàn lại)
• Khoản viện trợ không hoàn lại cho mục đích đầu tư.
• Các khoản nợ được xoá, tài sản của người di cư: Vào =>Có, Ra=> Nợ.
Cán cân vốn thặng dư khi Số phát sinh Có > Số phát sinh Nợ có nghĩa là: Tổng tiền vốn
đầu tư vào >Tổng số vốn đầu tư ra và trả nợ.
(3) Lỗi và sai sót :
Khoản mục này nếu có là do sự sai lệch về thống kê do nhầm lẫn, bỏ sót hoặc không thu
thập được số liệu. Nguyên nhân: Những ghi chép của những khoản thanh toán hoặc hoá
đơn quốc tế được thực hiện vào những thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau và có thể
bằng những phương pháp khác nhau. Do vậy, những ghi chép này - cơ sở để xây dựng
những thống kê của cán cân thanh toán quốc tế- chắc chắn không hoàn hảo. Từ đó, dẫn
đến những sai số thống kê.
(4) Cán cân tổng thể
Nếu công tác thống kê đạt mức chính xác tức lỗi và sai sót bằng không thì cán cân
tổng thể là tổng của cán cân vãng lai và cán cân vốn.
Cán cân tổng thể =Cán cân vãng lai +Cán cân vốn +Lỗi và sai sót.
6
`
thời kỳ.
1.2.4 Biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế.
* Mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế của mỗi quốc gia là đảm bảo cán cân
thanh toán được cân bằng. Khi cán cân thanh toán bội thu hay bội chi thì các nước
thường sử dụng các biện pháp điều chỉnh cán cân.
* Khi cán cân bội thu, các nước thường sử dụng số bội thu đó để tăng cường đầu tư ra
nước ngoài và bổ sung quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Bội chi cán cân sẽ có tác động tiêu
cực đến việc phát triển kinh tế của quốc gia, quan hệ kinh tế đối ngoại và quan hệ kinh tế-
xã hội khác. Do vậy, việc áp dụng những biện pháp nhằm điều chỉnh cán cân khi bội chi
là một việc làm hết sức cần thiết nhằm cải thiện cán cân.
- Giảm bớt chi tiêu ngân sách nhà nước.
Giảm chi tiêu ngân sách nhà nước sẽ tác động đến tổng cầu do đó góp phần cải thiện cán
cân ngắn hạn. Giảm chi tiêu ngân sách nhà nước thường đi đôi với chính sách thắt chặt
tiền tệ, thuế khóa như: tăng lãi suất cho vay để giảm đầu tư, dùng công cụ thuế để hạn
chế tiêu dùng nhất là hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng.
- Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài có thể áp dụng các biện pháp sau:
+ Nâng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút ngoại tệ từ nước ngoài vào.
+ Vay của nước ngoài và tìm kiếm nguồn viện trợ nhà nước.
+ Tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thủ tục dễ dàng, ưu đãi về thuế, chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài.
- Điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm khuyến khích xuất khẩu tăng thu ngoại tệ đồng thời
hạn chế nhập khẩu tiết kiệm ngoại tệ.
8
`
Chính sách chiết khấu: Ngân hàng trung ương dùng cách thay đổi lãi suất tái chiết khấu
của ngân hàng để điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế. Nếu lãi suất tái chiết khấu tăng
trong khi lãi suất của các nước trong khu vực vẫn giữ nguyên thì sẽ thu hút được lượng
ngoại tệ lớn ở trong nước và ngoài nước vào ngân hàng, như vậy cung cầu ngoại tệ sẽ
được cải thiện.
THANH TOÁN.
2.1 Bội chi cán cân thanh toán quốc tế.
Cán cân thanh toán của một nước phản ánh kết quả hoạt động trao đổi đối ngoại của nước
đó với các nước khác. Trường hợp cán cân thặng dư hay bội chi cho biết nước đó là chủ
nợ hay đang mắc nợ nước ngoài và nó sẽ tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội. Tình
trạng dư thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán tại một thời điểm nhất định sẽ ảnh
hưởng tới quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường, do đó ảnh hưởng ngay đến tình
hình biến động của tỷ giá hối đoái của nước đó.
Nhìn chung, dư thừa cán cân thanh toán sẽ dẫn đến sự ổn định hoặc giảm tỷ giá hối đoái
mặc dù sự dư thừa quá nhiều của cán cân có thể tăng sức ép lên mức giá cả trong nước.
Ngược lại, thiếu hụt cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá hối đoái mất tính ổn định và
tăng lên từ đó sẽ tạo ra những biến động trong phát triển kinh tế - xã hội.
Mặt khác, thực trạng của cán cân thanh toán có thể kích thích các nhà quản trị hoạch định
chính sách thay đổi nội dung chính sách kinh tế của họ. Thâm hụt cán cân thanh toán có
thể làm cho chính phủ nâng lãi suất lên hoặc giảm bớt chi tiêu công cộng để giảm chi về
nhập khẩu Do vậy, cán cân thanh toán được xem là một trong những tài liệu quan trọng
nhất đối với các nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô.
Giữ cho cán cân thanh toán cân bằng được xem là một trong những mục tiêu quan trọng
trong chính sách kinh tế của quốc gia. Khi cán cân thanh toán bội thu hoặc bội chi, các
nước thường phải áp dụng các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán.
2.2 Biện pháp cắt giảm chi tiêu khi bội chi cán cân thanh toán quốc tế.
2.2.1 Chính sách tiền tệ.
• Chính sách dự trữ bắt buộc
11
`
- Dự trữ bắt buộc là số tiền gửi bắt buộc của các ngân hàng thương mại tại NHTW,
mức tiền gửi này do pháp luật quy định bằng một tỷ lệ nhất định so với các khoản tiền
gửi ở ngân hàng thương mại.
- Khi cán cân thanh toán bội chi, NHTW sẽ nâng mức dự trữ bắt buộc vì vậy lượng
tín dụng trong ngân hàng thương mại sẽ giảm => ngân hàng thương mại sẽ giảm bớt cho
Bội chi cán cân thanh toán quốc tế có những ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực,
các hoạt động của nền kinh tế xã hội nói chung, làm cho nền kinh tế kém phát
triển. Nhà nước phải tìm cách tăng các khoản thu, giảm chi tiêu điều này ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân, hơn nữa khi đó các nguồn vốn trong
ngân hàng sẽ trở nên khan hiếm hơn điều đó sẽ dẫn đến tình trạng lãi suất tăng
cao, điều này gây ra trở ngại trong việc vay vốn của nhà đầu tư. Về lâu dài thì sẽ
dẫn đến tình trạng đầu tư giảm sút nghiêm trọng, sẽ có nhiều doanh nghiệp bị phá
sản do không tìm được những khoản vay thích hợp, sản xuất trong nước bị thu hẹp
lại từ đó sẽ tạo điều kiện nhập siêu cán cân thương mại quốc tế mất cân bằng.
Những điều kiện này Những điều này dẫn đến tình trạng thất nghiệp ngày càng gia
tăng, thu nhập thực tế của người dân giảm sút và ngày càng gặp nhiều khó khăn
trong cuộc sống.
• Tác động tới ngân hàng thương mại.
- Do giá vàng và tỷ giá biến động mạnh nên nguỗng vốn đi vào ngân
hàng rất hạn chế.
- Lãi suất huy động tăng gây méo mó trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng, văn hóa kinh doanh ngân hàng suy giảm khi tình trạng hai giá phổ
biến, khách hàng đến ngân hàng giao dịch đương nhiên là mặc cả lãi
suất, không quan tâm tới lãi suất của ngân hàng và của NHTW.
- Tăng tính bị động và rủi ro thanh khoản đối với hoạt động ngân hàng
13
`
- Mất cân đối tiền tệ, thanh khoản ngoại tệ căng thẳng ngoại tệ và áp lực
tỷ giá.
- Dư nợ nền kinh tế thấp so với trần cho phép và nợ xấu gia tăng, do lãi
suất cao, nhu cầu vay hạn chế.
• Tác động tới nền kinh tế.
Thứ nhất, cắt giảm chi tiêu làm sức mua giảm sút, tổng cầu giảm.
Thực tế cho thấy nhu cầu tiêu dùng là yếu tố tác động đến sự sống còn của doanh nghiệp,
thị hiếu mua sắm của người tiêu dùng có tác động lớn đến sản xuất kinh doanh của doanh
chuyển dổi nghề nghiệp, trở lại thị trường lao động; con cái họ sẽ khó khăn khi đến
trường; sức khoẻ họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, để chăm sóc y tế…Có thể
nói, thất nghiệp “đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chán nản với cuộc sống, với xã
hội; dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc…Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không
ổn định; hiện tượng lãn công, bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc… tăng lên: hiện
tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên; Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà
cầm quyền cũng bị suy giảm… Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn
đên biến động về chính trị. Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế- xã hội khó khăn và nan giải
của quốc gia, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt đời sống kinh tế- xã hội.
Đối với Nhà Nước giảm chi tiêu ngân sách nhà nước thường đi đôi với chính sách thắt
chặt tiền tệ, thuế khóa như: tăng lãi suất cho vay để giảm đầu tư, dùng công cụ thuế để
hạn chế tiêu dùng nhất là hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng. Khi sử dụng chính sách thắt
chặt tiền tệ để giảm bội chi cán cân thanh toán quốc tế cũng có những tác động tiêu cực
đến doanh nghiệp.
15
`
CHƯƠNG 3.
LIÊN HỆ THỰC TẾ CÔNG TÁC CẮT GIẢM CHI TIÊU KHI CÁN CÂN THANH
TOÁN QUỐC TẾ BỘI CHI VỞ VIỆT NAM
3.1 Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam.
Cán cân tổng thể của Việt Nam năm 2012 đã biến chuyển theo hướng tích
cực: từ bị thâm hụt trong 2 năm 2009 (-8,4 tỷ USD), 2010 (-1,7 tỷ USD) sang
thặng dư trong năm 2011 (2,5 tỷ USD) và tiếp tục thặng dư trong các quý năm
2012 – quý I: 4,28 tỷ USD; quý II: 2,17 tỷ USD; quý III: 4,2 tỷ USD. Đây là
sự chuyển dịch vị thế quan trọng, góp phần làm tăng sức mạnh tài chính quốc
gia chống lại kỳ vọng về biến động tỷ giá, kỳ vọng lạm phát.
3.1.1.Cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam từ năm 2008 đến 2010 những năm
thâm hụt.
3.1.1.1 Cán cân vãng lai (Current Account - CA)
Năm 2008 2009 2010
vừa nhỏ lại vừa có xu hướng giảm đi, nguyên nhân chính là do sức cạnh tranh của ngành
dịch vụ nước ta trên thị trường thế giới còn chưa cao, tốc độ tăng của kim ngạch xuất
khẩu dịch vụ luôn thấp, còn thấp hơn tốc độ tăng của xuất khấu hàng hóa.
C- Cán cân thu nhập (Ic)
17
Năm 2008 2009 2010
Ic -4,9 -4,9 -4,6
`
Đơn vị: (Tỷ USD) Nguồn: SBV, ĨMF, WB
Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới kéo theo suy thoái kinh tế thế giới hầu hết NHTW
các nước thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, cắt giảm lãi suất, trong đó điểm hình như
FED, trong năm 2008 đã 8 lần cắt giảm lãi suất, xuống mức thấp kỷ lục là 0,25% điều
này sẽ tác động làm giảm lãi suất của các khoản tiền gửi bàng ngoại tệ của người cư trú ở
nước ngoài, làm giảm nguồn thu chủ yếu của cán cân thu nhập của Việt Nam. Mặt khác,
do khó khăn về mặt tài chính nên nhiều doanh nghiệp FDĨ, chi nhánh các công ty nước
ngoài có xu hướng chuyển khoản các khoản lợi nhuận về nước đế hồ trợ công ty mẹ, làm
tăng các khoản chi trong cán cân dịch vụ do đó trong hai năm 2008, 2009 cán cân thu
nhập của Việt Nam tiếp tục thâm hụt với mức độ cao hơn so với năm 2007
D- Cán cân chuyến giao vãng lai một chiều (Tr)
Năm 2008 2009 2010
Tr 8,1 7 8,7
Đơn vị: (Tỷ USD) Nguồn: SBV, ĨMF, WB
Theo ước tính của cơ quan lập báo cáo, thu nhập đầu tư (bao gồm trả nợ lãi
các khoản vay nước ngoài, lãi tù
-
hoạt động đầu tu
-
của nhà đầu tu
-
nước ngoài )
Trong năm 2009 con số FDI được giải ngân đạt 7.400 trệu USD, thấp hon
so với năm 2008 là 2.600 triệu USD.
19
`
Theo Cục Đầu tư nước ngoài- Bộ Ke hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư trục tiếp
nước ngoài (FDI) tiếp tục là nhân tố quan trọng giúp giảm thâm hụt cán cân thanh
toán, trong hoàn cảnh thâm hụt cán cân thương mại năm 2010 là 7,1 tỷ USD.
3.1.2.Cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam từ năm 2011-2012 những năm thặng
dư.
Khoản mục
Giá trị (tỷ USD)
Năm 2011 Ql-2012 Q2-2012
A. Cán cân vãng lai
(1+2+3+4)
-3.00 3.37 1.40
1. Cán cân thương mại -6.00 2.19 1.93
2. Dịch vụ -5.00 0.13 -1.38
3. Thu nhập đầu tư -1.00 -1.08 -1.12
4. Chuyên tiên 9.00 2.13 1.96
B. Cán cân vốn và tài chính
(5+Ó+7+8+9)
8.60 1.40 1.44
5. Đầu tư trực tiếp 10.00 1.63 1.77
6. Vay trung-dài hạn 2.60 0.08 0.31
7. Vay ngăn hạn 0.50 0.47 0.86
8. Đầu tư vào GTCG 1.00 0.77 0.40
9. Tiền và tiền gửi -0.50 0.44 -0.10
10. Tài sản khác -5.00 -2.06 -1.79
20
`
quý I thặng dư 2.13 tỷ USD; quý II thặng dư 1.96 tỷ USD. Tính chung 6 tháng đầu
năm đã thặng dư 4.09 tỷ USD, trong đó riêng khu vực tư nhân thặng dư.
3.95 tỷ USD.
Cán cân vốn và tài chỉnh
Cán cân vốn và tài chính đã đạt thặng dư 8.6 tỷ trong năm 2011 và tiếp tục
thặng dư trong 2 quý đầu năm 2012. Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2012 đã
đạt thặng dư 2.78 tỷ USD.
Cán cân vốn và tài chính bao gồm 6 khoản, trong đó khoản mục đàu tư trực
tiếp đạt thặng dư cao nhất. Đầu tư trực tiếp năm 2011 là 10 tỷ USD, và trong 6
tháng đầu năm 2012 là 3.4 tỷ USD. Tuy nhiên, cán cân tài sản khác thâm hụt 5 tỷ
USD năm 2011, và quý 1/2012 bị thâm hụt 2.06 tỷ USD, quý 11/2012 bị thâm hụt
3.85 tỷ USD, tính chung 6 tháng đầu năm 2012 bị thâm hụt 3.85 tỷ USD.
3.2 Các biện pháp của VN khi bội chi cán cân thanh toán quốc tế
Năm 2008:
• Chính sách tiền tệ thắt chặt:
- Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
Ngày 16/1/2008, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 187/2008/QĐ-
NHNN ngày 16/01/2008 về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín
dụng.Theo đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu mở rộng diện các loại tiền gửi phải
dự trữ bắt buộc. Cụ thể là: đối với tiền VND không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12
tháng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn
từ 12 tháng trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 4% lên 5%; đối với tiền gửi
bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%, đối
với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ 4% lên 5%.
22
`
- Phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc:
Phát hành 20300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc, các NHTM phải mua 20300 tỷ
đồng trái phiế cùng một lúc và đặc biệt trong lần phát hành tín phiếu này NHNN
nói rõ là không được tái cấp vốn. Đây là động thái của NHNN nhằm thu hồi lượng
hội; phòng, chống thiên tai,…
- Biện pháp chống thất thu Ngân sách:
Chống thất thu thuế: 18/4/2008 Tổng cục hải quan ban hành chỉ thị Số: 1007/CT-TCHQ
về việc tăng cường các biện pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại và chống thất thu
thuế. Chỉ thị này ban hành nhằm hạn chế tình trạng: Khai báo không đúng tên hàng, khai
báo nhiều chủng loại hàng hóa với một tên hàng để áp mã có mức thuế suất thấp; làm giả
C/O để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt; khai báo không đúng trị giá thực thanh toán
để gian lận trị trí; bán nguyên phụ liệu, thành phẩm ra thị trường nội địa đối với loại hình
nhập khẩu đầu tư gia công, sản xuất – xuất khẩu để trốn thuế với số lượng lớn, xuất hiện
tình trạng doanh nghiệp bỏ trốn khi nợ thuế ngân sách nhà nước;
Tăng thuế đối với một số ngành hàng nhập khẩu: ngày 11/3, Thứ trưởng Bộ Tài chính
Trương Chí Trung đã ký quyết định tăng thuế đối với mặt hàng ôtô mới nguyên chiếc
dùng chở người, từ 60% lên 70%. Thuế tuyệt đối của mặt hàng xe cũ nhập khẩu có mức
tăng trung bình 10%.
Năm 2009:
• Chính sách tiền tệ :
Nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khan, NHNN sử dụng chính sách tiền tệ linh hoạt theo
hướng nới lỏng hơn so với 2008 để khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuât kinh
24
`
doanh. Trong bối cảnh các nguồn cung ngoại tệ bị suy giảm do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu, NHNN đã thực hiện nhiều biện pháp để ổn định thị
trường. Trong đó có việc điều hành linh hoạt tỷ giá bình quân liên ngân hàng phù hợp với
tín hiệu thị trường và mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu.
Triển khai đồng bộ các giải pháp về điều hành tín dụng nhằm khuyến khích sản xuất và
xuất khẩu, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội. Cụ thể, NHNN đã chỉ đạo
các tổ chức tín dụng thực hiện các giải pháp về tín dụng và lãi suất để vừa chia sẻ khó
khăn với doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm an toàn hoạt động và
ngăn ngừa nguy cơ tái lạm phát…
Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính: NHNN đã hoàn thành việc thống kê và công bố