BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN
PHÁ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ SỰ
THAM GIA CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
VÀ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc
lập của cá nhân tôi. Nội dung cũng như các số liệu
trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực.
Những kết luận khoa học của luận án chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
General Agreement on Trade and Tariffs - Hiệp định chung về
thương mại và thuế quan
GATT 1947
Hiệp định chung về thương mại và thuế quan năm 1947
GATT 1994
Hiệp định chung về thương mại và thuế quan năm 1994
Nxb
Nhà xuất bản
USDOC United States Department of Commerce – Bộ thương mại Hoa
Kỳ
VCCI
Vietnam Chamber of Commerce and Industry - Phòng
Thương mạ
i và Công nghiệp Việt Nam
WTO World Trade Organization - Tổ chức Thương mại thế giới
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN
CỨU Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
8
1.1. Tình hình nghiên cứu ở các nước 8
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 14
1.3. Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và phương pháp xử lý
WTO
44
2.3.1. DSM của WTO – Nền tảng pháp luật áp dụng trong giải
quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
44
2.3.2. Qui định đặc biệt và khác biệt trong DSM của WTO dành
cho các nướ
c đang phát triển
59
2.3.3. Quan hệ tương tác giữa giải quyết tranh chấp về chống bán
phá giá theo pháp luật WTO và giải quyết tranh chấp về bán
phá giá theo pháp luật quốc gia thành viên
62
2.4. Nội dung những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc tế áp dụng
trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
64
2.4.1. Phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống bán phá giá được
giải quyết tại DSB
64
2.4.2. N
ội dung một số vấn đề cụ thể khác của pháp luật quốc tế
áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại
WTO
76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
78
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP TẠI WTO VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ SỰ
118
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT
NAM VÀO VIỆ
C GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI
WTO VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
120
4.1. Những quan điểm và định hướng cơ bản nhằm nâng cao
hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh
chấp tại WTO về chống bán phá giá
120
4.2. Những giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sự
tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại
WTO về chống bán phá giá
125
4.2.1. Nhóm giải pháp chung nhằ
m nâng cao hiệu quả sự tham gia
của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về
125
chống bán phá giá
4.2.2. Một số đề xuất cụ thể khi Việt Nam tham gia vào việc giải
quyết tranh chấp tại WTO về chống bán phá giá với tư cách
là nguyên đơn, bị đơn và bên thứ ba
134
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
145
KẾT LUẬN
các vụ điều tra chống BPG trên thực tế [54]. Bởi vậy, trước thực trạng nói trên,
các thành viên WTO, bên cạnh việc tìm ra những giải pháp để đối phó với các
cuộc điều tra về chống BPG và việc áp thuế chống BPG, đã tích c
ực sử dụng
những cơ chế thích hợp để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Một
trong những cơ chế được đánh giá là có hiệu quả nhất hiện nay chính là DSM
của WTO.
Theo Điều 17 của ADA, các thành viên WTO có thể đưa các tranh chấp về
chống BPG ra giải quyết theo DSM của tổ chức này. Trên thực tế, tính đến hết
tháng 12/2013, 102 vụ tranh chấp về chống BPG đã và
đang được giải quyết tại
WTO [78]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, qua hơn 19 năm tồn
tại, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng và DSM của WTO nói
chung đã bộc lộ một số điểm hạn chế và bất cập cần phải được hoàn thiện. 2
Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150
của WTO và được hưởng qui chế dành cho một thành viên đang phát triển. Kể từ
thời điểm đó, Việt Nam có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ và được hưởng sự đối xử
đặc biệt và khác biệt dành cho thành viên đang phát triển trong giải quyết tranh
chấp tại WTO để bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình. Tính đến hế
t tháng
12/2013, Việt Nam đã tham gia vào chín vụ tranh chấp về chống BPG trên tổng
số mười chín vụ kiện có sự tham gia của Việt Nam tại WTO [59]. Qua từng vụ
tranh chấp, Việt Nam, ở một mức độ nhất định, đã tham gia chủ động và tích cực
vào DSM của WTO. Tuy nhiên, sự tham gia đó vẫn còn những hạn chế bởi tính
phức tạp của các vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng như cơ
chế điều
tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Thực hiện các chủ trương mà Đảng đề ra, xuất phát từ thực tiễn tham gia
của Việt Nam vào việc giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng
như những yêu cầu cấp bách đặt ra cho Việt Nam v.v., cho thấy tính cấp thi
ết
cao, cả về lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấp
về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát
triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề: lịch sử hình thành,
phát triển và việc áp dụ
ng pháp luật quốc tế trong giải quyết các tranh chấp về
chống BPG tại WTO; quan niệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấp
về chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống
BPG; nội dung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc
tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO; thực tiễn gi
ải
quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG; thực tiễn tham gia của một số nước
đang phát triển và thực tiễn tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh
chấp về chống BPG tại WTO.
Tranh chấp về chống BPG và cơ chế giải quyết các tranh chấp này trong
khuôn khổ WTO là những vấn đề phức tạp và có phạm vi nghiên cứu rộng. Bởi
vậy, trong khuôn khổ hạn định về s
ố trang đối với một luận án, tác giả sẽ chỉ tiến 4
hành: (1) phân tích lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc
tế trong giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO; (2) phân tích quan
5
phương pháp chủ đạo được sử dụng trong hầu hết các chương, đặc biệt là
Chương 2 khi phân biệt khái niệm “tranh chấp về chống BPG” tại WTO với
khái niệm “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật
của quốc gia thành viên, đồng thời, tác giả cũng tiến hành phân biệt ba loại tranh
chấp liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi
với nhau trong khuôn khổ WTO, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp
về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”. Tương tự, phương pháp
kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn cũng được sử dụng xuyên suốt trong
toàn bộ nội dung của luận án. Phương pháp tổng hợp và phân tích được sử dụng
như những phương pháp bổ trợ cho phương pháp so sánh.
4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
thông qua việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề liên quan
tới giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, vị thế của các nước đang
phát triển cũng như làm rõ thực tiễn tham gia của các nước đang phát triển nói
chung và của Việt Nam nói riêng vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG,
để trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của
Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO.
Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích các quan điểm về chống BPG, tranh chấp về chống BPG cũng
như những vấ
n đề lý luận cơ bản về pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết
tranh chấp về chống BPG tại WTO;
- Tổng hợp, phân tích và đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống
BPG tại WTO, đi sâu vào phân tích một số vụ tranh chấp cụ thể và làm rõ những
điểm bất cập của việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ của
tổ ch
ức này; đồng thời, phân tích và đánh giá thực tiễn tham gia của Ấn Độ,
i DSB, bao gồm tranh chấp về thuế chống BPG
chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp
về biện pháp tạm thời, và tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định
pháp luật của một quốc gia thành viên với nội dung của ADA; 7
- Luận án đã nhận định được xu hướng vận động và phát triển của pháp
luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO;
- Luận án đã làm sáng tỏ được thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống
BPG tại WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển; tổng hợp được kinh
nghiệm tham gia vào việc giải quyết tranh chấp về ch
ống BPG của Ấn Độ,
Trung Quốc và Thái Lan; đồng thời Luận án cũng đã chỉ ra được thực trạng và
nguyên nhân sự tham gia hạn chế của các nước đang phát triển nói chung và Việt
Nam nói riêng vào quá trình giải quyết các tranh chấp này;
- Luận án, dựa trên cơ sở những kết quả phân tích và đánh giá khách quan,
đã nêu ra được những bài học kinh nghiệm và đưa ra được các giải pháp mới, có
tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Vi
ệt Nam vào quá trình giải
quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, chủ yếu là những đề xuất cụ thể khi
Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hay bên thứ ba trong các
vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO.
6. Cấu trúc của Luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phần phụ lục. Nội dung luận án được bố
cục thành bốn chương, có
kết luận của từng chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở các nước và ở Việt Nam
II: Commentary, Deventer: Kluwer Law and Taxation Publishers v.v.
Ngoài ra, còn có các tài liệu đăng trên các trang thông tin điện tử như tài
liệu về “Anti-dumping measures” trong khuôn khổ khóa học về “Dispute
Settlement – World Trade Organization” của Hội nghị của Liên hợp quốc về
thương mại và phát triển (UNCTAD); bài viết “The role of Public International
Law in the WTO: How far can we go?” của tác giả Joost Pauwelyn; bài viết
“Does WTO Dispute Settlement provide effective remedies for Anti-dumping
Measure” của tác giả Alam Mansoor; bài viết “WTO Dispute Settlement:
Challenges faced by developing countries in the implementation and
enforcement of DSB recommendations and rulings” của tác giả Jimcall 9
Pfumorodze; bài viết “Developing Countries and General Agreement on Tariffs
and Trade/World Trade Organization Dispute Settlement” của các tác giả Marc
L. Busch và Eric Reinhardt; bài viết “Developing Countries and Dispute
Settlement: Having One’s Day in Court;” của tác giả Roderick Abbott; bài viết
“Developing Countries and the Initiation of GATT/WTO Disputes” của tác giả
Todd Allee; bài viết “The WTO Dispute Settlement System: How have
Developing Countries fared?” của tác giả William J. Davey; bài viết “Shifting
Coordinates of India’s Stance at the WTO: Understanding the Domestic and
International Economic Drivers” của tác giả Amit Shovon RAY; bài viết
“China's WTO entry: Antidumping, Safeguards, and Dispute Settlement” của tác
giả Chad P. Bown; sách tham khảo “Dispute Settlement at the WTO: The
Developing country experience” của các tác giả Gregory C. Shaffer và Ricardo
Meléndez-Ortiz; bài viết “China: How to Fight the Antidumping War?” của tác
giả Jason Z. Yin; bài viết “Dispute Settlement in the WTO and the Least
Developed Countries: the Case of India’s Anti-Dumping Duties on Lead Acid
Battery Import from Bangladesh” của tác giả M. A. Taslim; bài viết “Sense and
trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO bắt đầu từ sự ra đời và trên
cơ sở kế thừa và phát triển pháp luật của GATT 1947, có phân chia thành các
giai đoạn cụ thể
tương ứng với những cột mốc quan trọng (trước và sau khi có
GATT 1947 và sự ra đời của WTO, các bản ADC, ADA và DSU v.v), đồng thời
có đánh giá xu hướng vận động và phát triển của lĩnh vực pháp luật này. Tuy
nhiên, các tác giả mới chỉ phân tích, một cách riêng rẽ, lịch sử hình thành và phát
triển của các yếu tố cấu thành lên pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết
tranh chấp về chống BPG tại WTO, chủ yếu là DSU và ADA, mà chư
a đặt
chúng trong một bức tranh tổng thể của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải
quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Hai là, các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh
chấp tại WTO. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể nhắc tới như cuốn
“Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure” 11
của Palmeter, N. David; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade
Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; bài viết
“The role of Public International Law in the WTO: How far can we go?” của
Joost Pauwelyn đăng trên tạp chí “The American Journal of International Law”,
VOL. (95):3 v.v. Mặc dù vẫn còn có những quan điểm khác nhau về số lượng,
tên gọi, vị trí, vai trò đối với từng loại nguồn, nhưng nhìn chung, trong những
nghiên cứu của các học giả trên thế giới, việc xác định các loại nguồn của pháp
luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp tại WTO, cơ b
ản cũng đều dựa
trên cách xác định nguồn luật áp dụng truyền thống theo Điều 38(1) của Qui chế
Tòa án Công lý Quốc tế và có tính tới cả những đặc thù của WTO.
“The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and
Materials” của Peter Van den Bossche v.v. . Ngoài việc phân tích nội dung chế
độ đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển trong giải
quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng, các
công trình nghiên cứu nói trên còn có sự đánh giá về tính khả thi của những đối
xử đặc biệt và khác biệt này. Phần lớn các ý kiến đều cho rằng, chế độ đối xử đặc
biệt và khác biệt chỉ mang tính hình thức và không mang l
ại hiệu quả thiết thực
trong việc thúc đẩy và trợ giúp các nước đang phát triển khi tham gia vào quá
trình giải quyết tranh chấp tại WTO.
Năm là, quan niệm của WTO về chống BPG và pháp luật của WTO về
chống BPG. Đây là vấn đề đã được nghiên cứu tương đối chi tiết và đầy đủ ở các
nước, với một số công trình nghiên cứu điển hình như cuốn “Understanding the
WTO Anti-Dumping Agreement: Negotiating History and Subsequent
Interpretation” của James P. Durling và Matthew R. Nicely; giáo trình “The Law
and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của
Peter Van den Bossche; các tài liệu sử dụng trong khóa học “Dispute Settlement
– World Trade Organization” của UNCTAD với chủ đề “Anti-dumping
measures” và tài liệu đào tạo về “The WTO Agreement on Anti-dumping” v.v. 13
Sáu là, phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại
DSB, bao gồm, tranh chấp về thuế chống BPG chính thức, tranh chấp về sự chấp
thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp về biện pháp tạm thời và tranh chấp
về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội
dung của ADA. Điển hình trong số các công trình nghiên cứu đề cậ
p tới nội
dung này là cuốn “Key issues in WTO dispute settlement: the first ten years” của
vực (i) tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp và (ii) hoàn thiệ
n DSM của
WTO. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã tiến hành phân tích và đánh giá về
những khó khăn, thách thức mà các nước đang phát triển có thể phải đối diện khi
tham gia vào DSM của WTO, cũng như khả năng và cơ hội của họ khi được đại
diện bởi ACWL. Không chỉ dừng lại ở việc phân tích về thực trạng tham gia của
các nước đang phát triển nói chung trong DSM của WTO, một số công trình
nghiên c
ứu còn phân tích được thực tiễn và kinh nghiệm tham gia giải quyết
tranh chấp về chống BPG của ba nước Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan.
Nhìn chung, cho đến nay, vẫn chưa có các nghiên cứu mang tính học thuật
ở các nước kết hợp nghiên cứu cả khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giải
quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các
nước đang phát triển; đồng thời có liên hệ cụ
thể tới trường hợp của Việt Nam để
từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp thiết thực nhằm giúp Việt Nam tham gia
hiệu quả hơn vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trước, trong và sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, ở Việt Nam, đã
có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề giải quyế
t tranh chấp về
chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển
và Việt Nam ở cả góc độ lý luận và thực tiễn.
Nổi bật nhất trong số đó phải kể đến Luận án Tiến sĩ luật học của Nghiên
cứu sinh Bùi Anh Thủy với đề tài “Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại 15
quốc tế của WTO” và Luận án Tiến sĩ luật học của Nghiên cứu sinh Vũ Thị
16
giải quyết tranh chấp của WTO” của tác giả Bùi Anh Thủy đăng trên Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, số 2, năm 2007; (iv) bài viết “Giải quyết tranh chấp về
chống BPG trong khuôn khổ WTO” của tác giả Nguyễn Linh Giang đăng trên
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3, năm 2008; (v) bài viết “Những ưu đãi dành
cho các nước đang phát triển trong cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của
WTO mà Luật sư
cần lưu ý” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền đăng trên Tạp chí
Nghề luật số 3/2009; (vi) bài viết “Cơ quan đầu mối và cơ chế phối kết hợp trong
giải quyết tranh chấp thương mại trong WTO: kinh nghiệm cho Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Thanh Tú đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2012
v.v.
Ngoài ra, còn có các bài đăng trên các trang thông tin điện tử như các (i)
bài viết “Việt Nam đã đạt được những k
ết quả tích cực trong lần đầu tiên sử
dụng cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO” của Cục Quản lý cạnh tranh; (ii) bài
viết “Tranh chấp về chống BPG: Kinh nghiệm bảo vệ doanh nghiệp xuất khẩu”
của Đỗ Thành Công; (iii) bài viết “Vụ giải quyết tranh chấp đầu tiên của Việt
Nam tại WTO - Các biện pháp chống BPG đối với sản phẩm tôm nước ấm đông
lạnh” c
ủa Hội đồng Tư vấn về Phòng vệ Thương mại, VCCI; (iv) bài viết “Một
số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu tiên của Việt nam tại WTO”
của Nguyễn Tiến Vinh; và (v) bài viết “Kiện Mỹ ra WTO: Thông điệp của Việt
Nam” của Tuấn Ý v.v.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập tới những nội
dung cụ thể sau đây:
Thứ nhấ
khảo “Tranh chấp về chống BPG trong WTO” c
ủa VCCI v.v.
Thứ ba là, DSM của WTO. Đây cũng là vấn đề đã được các công trình
nghiên cứu ở Việt Nam phân tích một cách tương đối toàn diện và đầy đủ, bao
gồm cả khái niệm và nội dung những yếu tố cấu thành, điển hình là Luận án Tiến
sĩ luật học của Nghiên cứu sinh Bùi Anh Thủy với đề tài “Cơ chế giải quyết
tranh chấp thương mại quốc tế củ
a WTO”; sách tham khảo “Các nước đang phát
triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới” của TS.